Bi kịch trong văn học việt nam hiện đại - Pdf 35

BI KỊCH TRONG VĂN HỌC VIỆT NAM HIỆN ĐẠI
(Qua một số tác phẩm tiêu biểu)

Chuyên ngành: Lí luận văn học
Mã số: 62 22 32 01
Họ và tên nghiên cứu sinh: PHẠM THỊ CHIÊN
Họ và tên ngƣời hƣớng dẫn:
Miên

PGS.TS Tôn Thảo

Cơ sở đào tạo: Học viện Khoa học Xã hội


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi,
các số liệu và kết quả trong Luận án là trung thực và chƣa từng đƣợc công bố
nơi khác
Tác giả luận án

Phạm Thị Chiên

1


MỤC LỤC
Trang phụ bìa ..................................................................................................... i
Lời cam đoan ...................................................................................................... ii
Mục lục .............................................................................................................. iii
MỞ ĐẦU.........................................................................................................................1
1. Lý do chọn đề tài .........................................................................................................1

2.3. Tiểu kết ....................................................................................................................75
CHƢƠNG 3. VẤN ĐỀ XUNG ĐỘT QUA CÁC TÁC PHẨM BI KỊCH
TRONG VĂN HỌC VIỆT NAM HIỆN ĐẠI .......................................................76
3.1. Khái niệm xung đột bi kịch....................................................................................76
3.2. Các kiểu xung đột ...................................................................................................81
3.2.1. Xung đột giữa tính cách và hoàn cảnh...............................................................81
3.2.2. Xung đột giữa cái đẹp và cái thiện ....................................................................85
3.2.3. Xung đột giữa sự sống và cái chết .....................................................................87
3.2.4. Xung đột giữa tiền bạc, giàu có và đạo đức, hạnh phúc ..................................91
3.3. Cách giải quyết xung đột........................................................................................93
3.3.1. Giải quyết xung đột kịch do tác động bên ngoài ..............................................93
3.3.2. Giải quyết xung đột do sự vận động nội tại của hành động kịch ....................96
3.3.3. Giải quyết xung đột do sự tự ý thức của nhân vật ............................................98
3.4. Tiểu kết .................................................................................................................. 101
CHƢƠNG 4. NHÂN VẬT VÀ SỰ THANH LỌC QUA CÁC TÁC PHẨM
BI KỊCH TRONG VĂN HỌC VIỆT NAM HIỆN ĐẠI .................................... 103
4.1. Khái niệm nhân vật bi kịch .................................................................................. 103
4.2. Các kiểu nhân vật bi kịch trong một số tác phẩm kịch tiêu biểu của văn học
Việt Nam hiện đại ........................................................................................................ 104
4.2.1. Kiểu nhân vật cao cả mang lỗi lầm bi kịch ..................................................... 104
4.2.2. Kiểu nhân vật bi kịch không đƣợc là chính mình........................................... 108
4.2.3. Kiểu nhân vật đam mê mù quáng .................................................................... 112
4.2.4. Kiểu nhân vật chấp nhận hi sinh, đối nghịch hóa các giá trị ......................... 120
4.2.5. Con ngƣời bình dân trong thể loại bi kịch ....................................................... 123
4.3. Vấn đề thanh lọc qua các tác phẩm bi kịch trong văn học Việt Nam hiện đại .... 129
4.3.1. Khái niệm về sự thanh lọc ................................................................................ 129
4.3.2. Biểu hiện của cảm xúc sợ hãi và xót thƣơng, sự thanh lọc và giác ngộ qua
các tác phẩm bi kịch trong văn học Việt Nam hiện đại ........................................... 137
4.4. Tiểu kết .................................................................................................................. 144
KẾT LUẬN ................................................................................................................. 146

những đặc trƣng mang tính dân tộc của thể loại văn học đặc thù này. Tuy vậy,
thể loại bi kịch trong văn học Việt Nam còn khá mới mẻ và trong một thời

1


gian dài bị chìm lắng hoặc quên lãng cả trong nghiên cứu cũng nhƣ sáng tác.
Thành tựu của bi kịch Việt Nam vẫn còn khiêm tốn so với các thể loại khác
hoặc ngay với các chủng loại khác của kịch. Những vấn đề lý thuyết bi kịch,
bản chất và thi pháp của thể loại bi kịch tuy đã đƣợc đề cập và bàn luận ít
nhiều nhƣng vẫn còn nhiều vấn đề còn bỏ ngỏ, cần phải tìm hiểu, nghiên cứu
một cách chuyên sâu hơn.
1.3. Với những tiền đề lí luận và thực tiễn trên, Luận án mong muốn góp
phần tìm hiểu bi kịch, nhằm minh định các đặc trƣng của thể loại, làm rõ thêm
những giá trị về nội dung, nghệ thuật của bi kịch. Từ đó, khẳng định sự tồn tại
của thể loại bi kịch nhƣ một thể loại trong nền văn học Việt Nam hiện đại với
những đặc điểm về xung đột bi kịch, về nhân vật, về biểu hiện của sự thanh
lọc trong cấu trúc hình tƣợng nhân vật và hiệu ứng thanh lọc trong nhận thức
của khán giả trong quá trình tiếp nhận tác phẩm. Những kết quả đạt đƣợc của
luận án sẽ góp phần làm cơ sở lý luận cho việc nghiên cứu bi kịch cũng nhƣ
cung cấp những cứ liệu thực tiễn cho việc giảng dạy học tập về kịch nói
chung và bi kịch nói riêng trong nhà trƣờng.
2. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
2.1. Đối tượng
Đối tƣợng của đề tài là nghiên cứu bi kịch từ góc độ thi pháp thể loại qua
khảo sát các tác phẩm kịch trong văn học Việt Nam hiện đại. Các tác phẩm bi
kịch thuộc văn học nƣớc ngoài, kịch bản sân khấu truyền thống Việt Nam nhƣ
tuồng, chèo, cải lƣơng…không thuộc đối tƣợng nghiên cứu trong đề tài này.
2.2. Phạm vi:
Kịch là một loại hình nghệ thuật tổng hợp. Kịch vừa để biểu diễn đồng

chính kịch.
b) Về giả thuyết nghiên cứu, với đề tài Bi kịch trong văn học Việt Nam
hiện đại, Luận án nhằm giải đáp những vấn đề sau:
- Trong văn học Việt Nam có tồn tại những tác phẩm bi kịch hội đủ các
đặc trƣng để trở thành một thể loại hay chỉ là tác phẩm kịch có yếu tố cái bi?
- Nếu văn học Việt Nam có thể loại bi kịch thì bi kịch mang những đặc
trƣng gì?

3


- Thể loại bi kịch trong văn học Việt Nam có gì độc đáo, mang bản sắc
riêng?
4.2. Phương pháp nghiên cứu
Về mặt phƣơng pháp luận, để thực hiện đề tài, chúng tôi thiên về hƣớng
tiếp cận từ góc độ thi pháp để làm rõ đặc trƣng thể loại, đó là xung đột bi
kịch, nhân vật bi kịch và sự thanh lọc. Để triển khai đề tài này, chúng tôi sử
dụng các phƣơng pháp nghiên cứu sau:
- Phƣơng pháp thống kê phân loại: Phƣơng pháp này là để có đƣợc các dẫn
liệu có tính thuyết phục cao qua việc khảo sát thống kê và sắp xếp các dẫn liệu,
tổng hợp thành những luận điểm lớn, tạo cơ sở đáng tin cậy cho việc nghiên cứu.
- Phƣơng pháp so sánh: Phƣơng pháp này nhằm làm rõ sự giống nhau
và khác nhau giữa các tác phẩm bi kịch từ đó khái quát đƣợc những đóng góp
và hạn chế của mỗi vở bi kịch.
- Phƣơng pháp phân tích - tổng hợp: Phƣơng pháp này để đánh giá các
hiện tƣợng và rút ra các nhận định trên một số phƣơng diện: xung đột bi kịch,
nhân vật bi kịch và sự thanh lọc.
- Phƣơng pháp hệ thống: Phƣơng pháp này nhằm chỉ ra các đặc điểm
của xung đột bi kịch, nhân vật bi kịch và sự thanh lọc là những yếu tố trong
mối quan hệ với hệ thống các yếu tố khác của thể loại bi kịch trong văn học

lọc ở nhân vật bi kịch.
6. Cấu trúc luận án
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, luận án gồm có
bốn chƣơng:
Chƣơng 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu bi kịch trong văn học Việt
Nam hiện đại
Chƣơng 2. Những vấn đề lý thuyết liên quan đến bi kịch. Khái quát về bi
kịch trong văn học Việt Nam hiện đại
Chƣơng 3. Vấn đề xung đột qua các tác phẩm bi kịch trong văn học Việt
Nam hiện đại
Chƣơng 4. Nhân vật và sự thanh lọc qua các tác phẩm bi kịch trong văn
học Việt Nam hiện đại

5


CHƢƠNG 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU BI KỊCH
TRONG VĂN HỌC VIỆT NAM HIỆN ĐẠI
1.1. Bàn về sự tồn tại của thể loại bi kịch trong văn học Việt Nam
Ở Việt Nam, nghiên cứu về bi kịch là một vấn đề mới, đang còn nhiều
tranh cãi. Cho đến nay ý kiến bàn bạc chƣa nhiều và chƣa hệ thống. Trong số
các tác giả nghiên cứu về bi kịch chúng ta thấy có hai xu hƣớng trái ngƣợc
nhau. Xu hƣớng thứ nhất, cho rằng trong văn học Việt Nam bi kịch chƣa phải
là một thể loại mà các tác phẩm kịch chỉ có yếu tố bi kịch. Xu hƣớng thứ hai
khẳng định bi kịch là một thể loại tồn tại độc lập bên cạnh hài kịch và chính
kịch. Ở xu hƣớng này, các nhà nghiên cứu ngoài việc chỉ ra sự tồn tại của bi
kịch nhƣ một thể loại còn khẳng định trong văn học Việt Nam hiện đại có tác
phẩm xứng đáng là bi kịch đích thực có thể sánh tầm với những bi kịch cổ
điển trên thế giới.

những bi kịch lớn trong kho tàng kịch nhân loại nhƣ Juyliut Xeda của
Sechspia hay Borris Godunop của Puskin” [48;Tr 400 - 401].
Đỗ Đức Hiểu với bài “Bi kịch Vũ Nhƣ Tô”, đã khẳng định: “Với Vũ
Nhƣ Tô, Nguyễn Huy Tƣởng sáng tạo một bi kịch hiện đại ở Việt
Nam”[45;Tr 421]. “Vũ Nhƣ Tô là một bi kịch, kiểu bi kịch cổ điển Pháp thế
kỷ XVII, với tiêu đề vở là tên nhân vật trung tâm (Andromaque, Phedre, Vũ
Nhƣ Tô...), với những hồi, những cảnh (lớp) kế tiếp nhau, liên tiếp với nhau
chặt chẽ, với những xung đột đầy kịch tính, và cuối cùng kết thúc bằng những
cái chết...” [45;Tr424]. Nhƣ vậy, trong bài viết này Đỗ Đức Hiểu đã chỉ ra
đƣợc vở Vũ Nhƣ Tô là bi kịch, hơn thế là một bi kịch hiện đại của văn học
Việt Nam. Mặt khác, ông so sánh sự tƣơng đồng giữa vở Vũ Nhƣ Tô với các
vở bi kịch cổ điển Pháp trên các biểu hiện nhƣ tên tác phẩm, xung đột, và
philna cuối cùng là cái chết của nhân vật. Đỗ Đức Hiểu quan tâm nhiều đến
đối thoại kịch, nhân vật kịch, hình thức kịch bản và phân tích biểu hiện chi
tiết qua vở Vũ Nhƣ Tô.
Phan Trọng Thƣởng trong “Lời giới thiệu” cuốn sách Vũ Nhƣ Tô đã viết:
“Về mặt thể loại, các nhà nghiên cứu văn học và mĩ học đã tƣờng giải Vũ

7


Nhƣ Tô là một sáng tạo bi kịch xuất sắc có thể sánh ngang với những sáng tạo
bi kịch vào hàng cổ điển trong văn học thế giới. Với cống hiến quan trọng này
Nguyễn Huy Tƣởng đã nhanh chóng vƣợt trên Vi Huyền Đắc, đƣa nghệ thuật
kịch còn non trẻ ở Việt Nam vào thời điểm tác phẩm ra đời lên đỉnh cao vinh
quang của thể loại.” [93;Tr8]
Phạm Vĩnh Cƣ trong bài "Bàn thêm về bi kịch Vũ Nhƣ Tô", đã viết:
"Chúng tôi sẽ cố gắng chứng minh rằng Vũ Nhƣ Tô là tác phẩm bi kịch duy
nhất và đích thực của Nguyễn Huy Tƣởng. Nó đáp ứng đầy đủ và khá toàn
hảo mọi yêu cầu, mọi tiêu chí của một thể loại văn học mà mĩ học châu Âu

không thể nào đủ dùng đƣợc cũng vì tôi đoán quyết nhƣ vậy, nên…" [23;Tr7]
Vì quan tâm làm giàu bằng mọi giá nên Trần Thiết Chung đã nhanh
chóng tích luỹ đƣợc khối lƣợng tài sản khổng lồ trong thời gian không dài,
Nguyễn Tuân chỉ ra đƣợc bản chất tham tiền say mê tích luỹ, đầu cơ và sự tha
hoá nhân cách vì đồng tiền trong sự đối sánh các mối quan hệ với gia đình, xã
hội của nhân vật Trần Thiết Chung, Nguyễn Tuân viết: "Trần Thiết Chung đã
thuộc hẳn vào cái loại ngƣời mà "tiền là cái lò xo vĩ đại của sự sống"
(Balzac), và lão đã tuyên bố lên rằng "tiền của tôi, không phải là của tôi, nó là
công việc của tôi đƣơng làm". Cho nên nó đã xử sự đúng với cái phƣơng
châm đề ra từ vạn cổ: vi phú bất nhân, vi nhân bất phú. Nó dám chống lại mọi
thứ tình cảm có thể xảy đến cho nó. Hắn đã tự đắc mà triết lý rằng "tôi nói
thật, ấy hễ mình mà vấp ngã là họ xéo bừa lên lƣng lên đầu mình lập tức. Họ
ngã mình cũng làm nhƣ thế. Cái bí thuật là giữ thế nào cho đừng có ngã…".
Đồng tiền đã là ngƣời cố vấn tối cao bồi dƣỡng cho hắn có bạo lực trong cái
nhân sinh quan ngƣời chủ. Cái giá trị của ngòi bút Vi Huyền Đắc là đã vạch
đƣợc ra cái bản chất tàn bạo của triệu phú Trần Thiết Chung, nó cũng là cái
tính chất chung của giai cấp tƣ sản. Và kịch tác giả đã đem cái bản chất bất
nhân ấy ra mà đối chiếu với nhiều trƣờng hợp, để cho cái chất Trần Thiết
Chung hiện rõ hết lên. Đối với công nhân mỏ, tức là những ngƣời nai lƣng
oằn xƣơng ra mà đắp cho cơ nghiệp chủ mỏ, thì Trần Thiết Chung trắng trợn
bảo rằng: "một tên phu không thể coi là một ngƣời đƣợc… cũng chỉ là một cái
khí cụ thôi", đúng hệt cái giọng cái chữ của những tƣớng tá quân đội đế quốc
tƣ bản, trong việc sử dụng võ khí, trong việc điều động con ngƣời binh sĩ, vẫn
gọi ngƣời lính là nhân cụ" [23;Tr12]
Đối với thị phi, Trần Thiết Chung sẵn sàng đạp bằng dƣ luận và không
cần phải sự đánh giá đúng sai: "nếu làm việc gì mà cũng sợ dƣ luận, thì không
còn dám làm việc gì nữa…" [23;Tr13]

11


nay là nhà tƣ bản Trần Thiết Chung"; "Cái rất giống nhƣng không phải bi
kịch’’ [8;Tr89]. Chính sự hạn chế của tác phẩm đã gây phƣơng hại đến giá trị
của vở kịch, sự bại vong ở phần cuối tác phẩm không đến từ ý thức của nhân

13


vật mà chỉ là sự ngẫu nhiên. Vì vậy, Kim tiền đích thực chỉ là vở kịch mang
sứ mệnh là sự thử nghiệm đầu tiên cho thể loại bi kịch ở nƣớc ta. Cũng trong
bài viết này tác giả đánh giá về nhân vật Trần Thiết Chung, với quá trình tha
hóa nhân cách từ cao cả đến tầm thƣờng và lỗi lầm nhân vật mắc phải chính là
do sự “phản bội thiên chức” và “bóp chết tâm hồn nghệ sĩ”. Ông viết: "Một
con ngƣời rất mực nhân văn và tài hoa đã phản bội tài năng và thiên chức của
mình, lao vào con đƣờng làm giàu vật chất, bóp chết tâm hồn nghệ sĩ nơi
mình, biến cái đầu trƣớc kia sống bằng những tƣ tƣởng bay bổng, cao viễn
thành cái máy lạnh lùng tính toán lợi thiệt" [8;Tr88]
Kim tiền là một thử nghiệm đầu tiên trong tiến trình của thể loại bi kịch
ở nƣớc ta, các bài viết không nhiều, vì thế nên đánh giá chƣa đầy đủ về vở
kịch, đặc biệt là đóng góp về phƣơng diện bi kịch.
1.3. Các ý kiến luận bàn về tác phẩm Yêu Ly của Lƣu Quang Thuận
Thế Lữ là ngƣời đầu tiên bàn về vở kịch, trong “Lời mở màn” in trong
vở kịch năm 1946, có giới thiệu về tác giả Lƣu Quang Thuận là ngƣời “khiêm
tốn rất đáng trân trọng” và còn là ngƣời có sự “khó tính của nhà văn”,
“nghiêm khắc với tác phẩm của mình”. Ông đã viết: “Vở Yêu Ly, năm màn
phong phú hào hùng, cho tôi thấy say sƣa một tấm lòng thành niên hăng hái.
Yêu Ly đối với tôi còn thêm giá trị là dấu kỷ niệm của buổi sơ giao” [94;Tr2]
Rất lâu, từ khi vở kịch ra đời mới có ngƣời bàn về tác phẩm khá công
phu, đó là nhà nghiên cứu Phạm Vĩnh Cƣ cho rằng: "Xung đột bi kịch trong
kịch bản này là xung đột giữa mục đích và phƣơng tiện trong hoạt động của
con ngƣời, xung đột giữa những giá trị này bị hy sinh vì những giá trị kia,

nhận thức lại đối với tác phẩm của Nguyễn Huy Tƣởng: “Trong nhu cầu phát
triển toàn vẹn của con ngƣời, trong một giao lƣu mở với thế giới bên ngoài, ta
mới có hoàn cảnh mở rộng các quan niệm văn chƣơng nghệ thuật để thấy sự
cần thiết cho văn chƣơng trở về với chính nó”.
Văn Tâm trong bài “Vũ Nhƣ Tô trong cuộc đời bát nháo” đánh giá cao
vở kịch Vũ Nhƣ Tô ngay từ những ý tƣởng đầu tiên của tác giả, đồng thời
cũng là cảm hứng chủ đạo xuyên suốt vở là ca ngợi một kiến trúc sƣ tài hoa
có tâm hồn trong trẻo, xây Cửu Trùng Đài chỉ vì muốn “dựng một kỳ công
muôn thủa” để “tô điểm đất nƣớc” và “làm vinh dự cho non sông”
Nhà nghiên cứu Tất Thắng khẳng định: “Bi kịch của Vũ Nhƣ Tô là bi
kịch của ngƣời nghệ sỹ khát khao sáng tạo trong một xã hội không có chỗ cho
sự khát khao đó”. Ông cũng nhấn mạnh hạn chế của vở “Đọc Vũ Nhƣ Tô thì

16


thấy vở kịch cũng có nhƣợc điểm về sân khấu học, một vở kịch thiếu tính trò
diễn, tính hành động sân khấu” và ông nói đến đóng góp của vở qua chất văn
học trên từng đối thoại:“song với vấn đề mà nó đặt ra, song với tâm sự nhà
văn mà nó ẩn giấu nhƣ là hành động bên trong của vở kịch Vũ Nhƣ Tô đã làm
tăng thêm chất văn học cho kịch nói Việt Nam, thời kỳ trƣớc 1945, cái chất
mà sân khấu Việt Nam trƣớc kia và hiện nay đều rất thiếu”. (Cuộc tao ngộ
giữa kịch và văn)
Phan Trọng Thƣởng cho rằng: “Bi kịch của Vũ Nhƣ Tô không chỉ là bi
kịch về nhận thức của chính bản thân ông mà còn là bi kịch do những tác
động lịch sử và do cả ý thức sâu sắc về thiên chức nghệ sỹ của mình” (Suy
nghĩ thêm về Vũ Nhƣ Tô…). Phan Trọng Thƣởng phân biệt Vũ Nhƣ Tô –
công dân và Vũ Nhƣ Tô – nghệ sỹ. Ở góc độ là một công dân, Nguyễn Huy
Tƣởng không muốn để Vũ Nhƣ Tô đem tài năng và tâm huyết phục vụ cho
giai cấp thống trị, không muốn để cho dân chúng phải cực khổ. Nhƣng ở góc

diện trong việc đánh giá vở kịch Vũ Nhƣ Tô, vừa xác định đƣợc tính chất “đích
thực” của vở bi kịch, vừa chỉ ra các đặc trƣng cơ bản của thể loại chứa đựng
trong tác phẩm này. Và phƣơng pháp tiếp cận tác phẩm từ đặc trƣng thể loại
đƣợc nêu lên từ đầu trở thành phƣơng pháp luận nghiên cứu,là con đƣờng tiếp
cận tác phẩm để xác định rõ bản chất của bi kịch.
1.5. Các ý kiến luận bàn về tác phẩm Hồn Trƣơng Ba, da hàng thịt của
Lƣu Quang Vũ
Bách khoa toàn thƣ mở Wikipedia giới thiệu về vở kịch nhƣ sau: "Hồn
Trƣơng Ba, da hàng thịt" là vở kịch của nhà thơ, nhà viết kịch Lƣu Quang
Vũ, đƣợc viết vào năm 1983, dựa theo truyện dân gian "Hồn Trương Ba, da
hàng thịt", nội dung có ý nghĩa xã hội sâu sắc.
Cho đến nay (2006), đây là vở kịch hiện đại duy nhất của Việt Nam tiếp
cận đƣợc với sân khấu quốc tế. Vở kịch do đạo diễn Nguyễn Đình Nghi dàn
dựng cho Nhà hát kịch nói Việt Nam. Vở diễn đã giành đƣợc huy chƣơng
vàng tại Hội diễn Sân khấu toàn quốc năm 1990 và là vở kịch nói đầu tiên
mang ra nƣớc ngoài công diễn. Các nhà nghiên cứu sân khấu quốc tế đã đánh
giá cao giá trị nội dung cũng nhƣ nghệ thuật của vở diễn. Năm 2002, "Hồn

18


Trƣơng Ba, da hàng thịt" đƣợc ê-kíp đạo diễn, thiết kế ngƣời Anh thực hiện
và đƣợc công diễn tại nhà hát Yellow Earth với tên The Buher's Skin.
Năm 2004, vở kịch đƣợc Nhà hát kịch nói Việt Nam dàn dựng lại với
dàn diễn viên mới và truyền hình trực tiếp từ Nhà hát Lớn, Hà Nội. (Nguồn:
Wikipedia)
Phạm Vĩnh Cƣ trong bài viết “Lƣu Quang Vũ bi hùng kịch và bi hài
kịch”, đã xem Hồn Trƣơng Ba, da hàng thịt là một bi hài kịch đặc sắc đƣợc
công chúng trong và ngoài nƣớc tán thƣởng, Trƣơng Ba là một nhân vật bi
kịch đích thực, ông viết: “Để có bi kịch, phải có nhân vật bi kịch, và Trƣơng

lại trên cốt một truyện cổ khá phổ biến – đã có mấy tác giả dựng thành vở
diễn, buổi đầu là “Trƣơng đồ nhục”. Trong sân khấu thế giới, đây là việc bình
thƣờng nhƣng đến Lƣu Quang Vũ, vở kịch đã gây dƣ luận trái chiều khá kịch
liệt. Cuối cùng thì công chúng và thời thế đã ủng hộ tác giả và đơn vị dựng:
Nhà hát Kịch Việt Nam. Với một êkíp diễn viên thƣợng thừa, kịch nói “Hồn
Trƣơng Ba – da hàng thịt” đã trở thành một vở diễn kinh điển đạt tầm cổ điển
của sân khấu Việt Nam hiện đại.(Nguồn: Danviet)
Lƣu Khánh Thơ trong bài “Về trích đoạn vở Hồn Trƣơng Ba, da hàng
thịt" trong SGK lớp 12 viết : “Từ tƣ tƣởng triết lý đúng về quan hệ giữa hồn và
xác, Lƣu Quang Vũ đã đi đến một quan niệm đẹp về cách sống: sống chân thật
đúng là mình, sống vì mọi ngƣời, vì hạnh phúc và sự tốt đẹp của con ngƣời.
Trƣơng Ba chết nhƣng ông vẫn sống, sống trong tình cảm, trong “cõi nhớ” của
mọi ngƣời, sống trong Sự sống, không cần phải mƣợn đến thân xác của ngƣời
khác. Đó là suy nghĩ vừa biện chứng vừa lạc quan và cao thƣợng”. Cuộc đối
thoại giữa Hồn và Xác, tác giả Hòa Bình viết trên Tuổi trẻ “Vào giây phút ấy,
nƣớc mắt ngƣời xem ứa ra, song lại có đƣợc sự thanh thản nhẹ nhàng bởi đƣợc
củng cố lòng tin: phẩm cách cao đẹp nơi con ngƣời chẳng thể bị những mƣu cầu
thấp hèn hay sự tha hóa của xã hội hạ gục. Bi kịch của Trƣơng Ba và gia đình
ông gần gũi lạ với cuộc sống hôm nay.”
Đặng Hiển trong bài “Triết lý sống trong Hồn Trƣơng Ba, da hàng thịt"
đề cao một cách sống hài hòa giữa thể xác và linh hồn, và sự ảnh hƣởng to lớn
của vở kịch đến quan điểm sống của con ngƣời hiện đại. Tác giả đã viết:
“Trƣơng Ba chết, nhƣng hồn Trƣơng Ba vẫn sống - sống trong tình cảm của

20


mọi ngƣời, sống mà không cần mƣợn đến thân xác của ai hết. Tuy vậy, từ sự
không đồng nhất, thậm chí đối lập giữa linh hồn và thể xác trong vở kịch, ta
có thể liên tƣởng tới sự thống nhất cần có giữa nội dung và hình thức là hai


Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status