Những dạng cơ bản của tiểu thuyết tâm lý trong văn học việt nam từ đầu thế kỷ XX đến 1945 (qua tố tâm, lấy nhau vì tình, bướm trắng, sống mòn) - Pdf 35

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI

ĐÀO ĐỨC DOÃN

NHỮNG DẠNG CƠ BẢN CỦA
TIỂU THUYẾT TÂM LÝ TRONG VĂN HỌC
VIỆT NAM
TỪ ĐẦU THẾ KỶ XX ĐẾN 1945
(QUA TỐ TÂM, LẤY NHAU VÌ TÌNH, BƢỚM TRẮNG, SỐNG MÒN)

LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGỮ VĂN

HÀ NỘI - 2011


2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI

ĐÀO ĐỨC DOÃN

NHỮNG DẠNG CƠ BẢN CỦA
TIỂU THUYẾT TÂM LÝ TRONG VĂN HỌC VIỆT
NAM
TỪ ĐẦU THẾ KỶ XX ĐẾN 1945
(QUA TỐ TÂM, LẤY NHAU VÌ TÌNH, BƢỚM TRẮNG, SỐNG MÒN)

Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Mã số:

4. Kết cấu luận án

16
19

Chƣơng I
NHỮNG TIỀN ĐỀ CHỦ YẾU VÀ QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN CỦA
TIỂU THUYẾT TÂM LÝ TRONG VĂN HỌC VIỆT NAM TỪ ĐẦU
THẾ KỶ XX ĐẾN 1945
1.1.

20

Những tiền đề chủ yếu của tiểu thuyết tâm lý Việt Nam nửa đầu
thế kỷ XX

1.1.1. Hoàn cảnh kinh tế - xã hội và văn hóa
1.1.2. Con người cá nhân và sự ra đời tiểu thuyết tâm lý
1.1.3. Văn học Việt Nam đầu thế kỷ XX và sự ra đời tiểu thuyết tâm lý
Quá trình phát triển tiểu thuyết tâm lý Việt Nam từ đầu thế kỷ
XX đến 1945
1.2.1. Bức tranh toàn cảnh tiểu thuyết tâm lý Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX

20
20
22
29

1.2.


79
79
86

2.2.3. Lấy nhau vì tình và các phương thức, phương tiện nghệ thuật chủ yếu
của tiểu thuyết tâm lý bản năng

93

Chƣơng III
NHỮNG DẠNG CƠ BẢN CỦA TIỂU THUYẾT TÂM LÝ TRONG
VĂN HỌC VIỆT NAM TỪ 1939 ĐẾN 1945
3.1.

Bƣớm trắng và tiểu thuyết tâm lý ý thức cá nhân khép kín

3.1.1. Bướm trắng và con người cá nhân khép kín

110
110
110

3.1.2. Bướm trắng và nội dung tâm lý trong tiểu thuyết tâm lý ý thức cá
nhân khép kín

116

3.1.3. Bướm trắng và các phương thức, phương tiện nghệ thuật chủ yếu
trong tiểu thuyết tâm lý ý thức cá nhân khép kín
3.2. Sống mòn và tiểu thuyết tâm lý nhân cách

miêu tả thế giới nội tâm nhân vật. Tâm lý là vấn đề muôn thủa của văn học.
Mặc dù văn học thời đại nào cũng miêu tả tâm lý, nhưng trong văn học cổ và
trung đại, trọng tâm của tác phẩm tự sự dồn về phía sự kiện, biến cố và hành động
của nhân vật, còn sự miêu tả tâm lý chỉ giữ vai trò thể hiện tính cách và biến cố xã
hội. Phải đến văn học hiện đại, quá trình tâm lý mới trở thành đối tượng miêu tả,
phân tích trực tiếp của tác phẩm tự sự. Tiểu thuyết tâm lý, vì vậy, vừa là sản phẩm
của văn học hiện đại, vừa là dấu hiệu trưởng thành của nền văn học dân tộc. Nó là
một hiện tượng lịch sử.
Chọn đề tài nghiên cứu những dạng cơ bản của tiểu thuyết tâm lý Việt Nam
qua bốn tác phẩm: Tố Tâm (1922) của Hoàng Ngọc Phách, Lấy nhau vì tình (1937)
của Vũ Trọng Phụng, Bướm trắng (1939) của Nhất Linh, Sống mòn (1944) của Nam
Cao, luận án nhằm một mặt khẳng định thành tựu của văn học dân tộc giai đoạn từ
đầu thế kỷ XX đến 1945 trên cơ sở những cứ liệu cụ thể, mặt khác góp phần làm
sáng tỏ hơn sự vận động của lịch sử văn học nói chung, của tiểu thuyết tâm lý nói
riêng - một sự vận động với những qui luật nội tại của nó theo hướng hiện đại hoá.
1.2. Tiểu thuyết tâm lý không chỉ là một hiện tượng lịch sử mà còn là một
hiện tượng loại hình. Mỗi tác phẩm là một chỉnh thể nghệ thuật không lặp lại.
Đồng thời, nhiều tác phẩm lại có những yếu tố tương đồng, những đặc điểm chung,
tạo thành các kiểu, các dạng tiểu thuyết tâm lý khác nhau. Nghiên cứu tiểu thuyết
tâm lý như một hiện tượng loại hình sẽ giúp đưa ra những khái quát lý thuyết về
những kiểu, dạng tiểu thuyết tâm lý, từ đó có thêm cơ sở để khám phá giá trị các
tiểu thuyết tâm lý trong một tương quan mới - tương quan về phương diện loại hình.


6
Ở ta, việc nghiên cứu tiểu thuyết tâm lý giai đoạn từ đầu thế kỷ XX đến 1945
đã đạt được nhiều thành tựu trên các phương diện ngôn ngữ, nhân vật, kết cấu, nội
dung tư tưởng,... nhưng lại chưa thật sự quan tâm đến phương diện loại hình.
Những gì mà nghiên cứu, phê bình đạt được chủ yếu mới chỉ là những khám phá,
phát hiện về giá trị nội dung và hình thức của các tác phẩm cụ thể. Chúng ta vẫn

2.1. Về Tố Tâm và tiểu thuyết tâm lý tình cảm
Bài viết đầu tiên về Tố Tâm là bài Quyển Tố Tâm ra đời của Lê Hữu Phúc,
viết năm 1922 [131, tr.111]. Từ đó cho đến nay, tiểu thuyết Tố Tâm luôn nhận được
sự quan tâm của các nhà nghiên cứu, phê bình văn học cả trong và ngoài nước.
Nhìn chung, khi xem xét tác phẩm dưới góc độ lịch sử, các nhà nghiên cứu,
phê bình đều nhất trí khẳng định vị trí mở đầu của tác phẩm đối với sự ra đời và
phát triển của tiểu thuyết Việt Nam nói chung, của tiểu thuyết lãng mạn và tiểu
thuyết tâm lý nói riêng theo hướng hiện đại hóa, tiêu biểu là: Lê Thanh [156,
tr.192]; Trần Đình Hƣợu và Lê Chí Dũng [58, tr.327]; Phan Cự Đệ [26, tr.29];
Nguyễn Đăng Mạnh và Nguyễn Đình Chú [74, tr.75]; v.v.. Cho đến gần đây, vị trí
của tác phẩm đối với tiến trình hiện đại hóa văn học dân tộc vẫn được tiếp tục
khẳng định. Tố Tâm vẫn được đánh giá là “một gương mặt tiểu thuyết sáng gía, tiêu
biểu, một đỉnh cao trong vòng ba mươi năm đầu thế kỷ XX” [147, tr.137].
Tuy nhiên, dưới góc độ loại hình, sự xem xét tác phẩm vẫn có những ý kiến
chưa thống nhất. Huỳnh Lý [127], Nguyễn Đăng Mạnh [81, tr.35], Hà Minh Đức
[32, tr.14], Phan Cự Đệ [26, tr.23-25], Hoàng Nhƣ Mai [69, tr.6];v.v.. đều cho
rằng Tố Tâm là cuốn tiểu thuyết lãng mạn đầu tiên trong văn xuôi đầu thế kỷ ở ta,
nhưng, Trần Đình Hƣợu và Lê Chí Dũng lại nói: “Tố Tâm và Đạm Thuỷ không
hẳn là nhân vật của chủ nghĩa lãng mạn... Tố Tâm chưa đạt tới một tiểu thuyết lãng
mạn chủ nghĩa” [58, tr.323]. Trong Văn học Việt Nam thế kỷ XX, Trần Đăng Suyền
và Lê Quang Hƣng cũng chỉ coi Tố Tâm là “có tính chất lãng mạn”, là “mầm mống
của chủ nghĩa lãng mạn” [147, tr.149].
Trong giai đoạn trước năm 1945, đa số các nhà nghiên cứu tán thành ý kiến
của Hoàng Ngọc Phách, coi Tố Tâm là tiểu thuyết tâm lý. Lê Hữu Phúc lưu ý:
“Độc giả xem quyển Tố Tâm xin nhớ là một quyển tâm lý tiểu thuyết” [131, tr.113].
Trƣơng Tửu khẳng định: “Ông Song An là người đầu tiên dùng quốc văn viết một
quyển tiểu thuyết tâm lý” [13, tr.546]. Lê Thanh nhận xét: “Quyển Tố Tâm là
quyển tâm lý tiểu thuyết đầu tiên ở ta” [156, tr.192].v.v... Nhưng, Thạch Lam lại





9
Khái niệm “ái tình” mà các nhà nghiên cứu nói ở trên không phải chỉ để chỉ
phạm vi đề tài của tác phẩm, mà còn để chỉ nội dung tâm lý được miêu tả là tâm lý
tình cảm. Song Vân nhắc nhở: “Câu chuyện đó muốn gọi là tâm lý tiểu thuyết hay
ái tình tiểu thuyết, chẳng qua chỉ là một sự giải phẫu khôn khéo những tình cảm”
[13, tr.530]. Huỳnh Lý nhận xét: “Tố Tâm vẫn là lịch sử của một nỗi lòng, là tâm lý
của một cảm tình chuyển từ khâm phục đến si ái” [127]. Hà Minh Đức khẳng định:
“Sức hấp dẫn của tác phẩm là ở những tình cảm xúc động của người con gái lần đầu
đến với tình yêu và đau khổ vì tình... Dòng tình cảm vừa chân tình vừa lãng mạn,
thơ mộng bao trùm nhiều trang sách. Có thể xem Tố Tâm là cuốn tiểu thuyết lãng
mạn đầu tiên trong văn xuôi ở đầu thế kỷ góp phần mở đầu cho trào lưu lãng mạn
trong văn học. Chất lãng mạn này ít nhiều mang tính chất tiến bộ. Nó được nuôi
dưỡng bằng mạch tình cảm tương đối trong sáng” [32, tr.14].
Nhiều nhà nghiên cứu, phê bình còn coi sự tác động chủ yếu nhất và mạnh
mẽ nhất của Tố Tâm đối với bạn đọc là sự tác động về tình cảm. Thiếu Sơn nói:
“Tố Tâm quả đã chinh phục trái tim người đọc từ Bắc chí Nam”; Trúc Hà cho biết:
“Trong lúc đọc Tố Tâm, tôi vẫn thấy thứ tình cảm xúc ấy, giá ở những kẻ nhu cảm
đa tình, có thể vì Tố Tâm mà nhỏ đôi giọt lệ”; Trần Đình Ý nhận xét: “Tố Tâm là
một cuốn tiểu thuyết về tình cảm. Tác giả đa cảm trước hết chỉ muốn cho chúng ta
rung động, xúc cảm” [13, tr.515, 524, 557]; Lê Trí Viễn tâm sự: “Không truyện
nào in vào lòng tôi sâu bằng Tố Tâm. Tôi đã thật sự vui sướng với hai nhân vật
chính lúc họ yêu nhau, rồi tôi lại thầm rơi nước mắt lúc cô gái lìa đời” [180, tr.178];
Công trình Văn học Việt Nam thế kỷ XX do Trần Đăng Suyền và Lê Quang Hƣng
chủ biên cũng khẳng định: “chưa có cuốn tiểu thuyết nào vừa ra đời đã làm rung
động trái tim độc giả nhiều như Tố Tâm” [147, tr.137]; v.v...
Nhìn chung, các công trình, bài viết trước đây đều chưa đặt ra việc xác định
dạng (kiểu) tiểu thuyết tâm lý của Tố Tâm. Tuy vậy, những ý kiến của các tác giả đi
trước - đặc biệt là những ý kiến phân tích tác phẩm như một cuốn tiểu thuyết ái tình

tác, những cảnh, những khung, những lời, trong khi nhân vật suy nghĩ hay xử sự
một cách rất nông cạn, tầm thường, kỳ cục nữa. Đó là những khuyết điểm rõ rệt
thường thấy trong mấy tiểu thuyết tâm lý trên của Vũ Trọng Phụng” [96, tr.168].
Nguyễn Đăng Mạnh nói: “Vũ Trọng Phụng rất ham thích phân tích, lý giải những
quá trình tâm lý của nhân vật của mình. Thủ pháp được dùng phổ biến ở đây là đưa
ra những mệnh đề có tính khái quát triết lý làm căn cứ suy luận” [78, tr.51]; “Làm đĩ


11

thực chất là sự thuyết minh cho các quan niệm hết sức bi quan về tình yêu nam nữ:
“giao cấu là mục đích cuối cùng của ái tình” (…). Lấy nhau vì tình lại thuyết minh
cho một luận đề khác được Vũ Trọng Phụng dùng đặt tên cho một truyện ngắn của
mình: Cái ghen đàn ông (1937). (…) Ông cho rằng “lấy nhau vì tình” tất sẽ dẫn đến
tan vỡ và bất hạnh, vì tình yêu thực ra chỉ là sự “yêu mình qua người khác” [79,
tr.6,7]. Nguyễn Hoành Khung nhận xét: bên cạnh những trang viết “tỏ ra khá sắc sảo
trong việc thăm dò, phân tích tâm lý phức tạp của con người”, Vũ Trọng Phụng đã
bộc lộ những hạn chế như: đã nhập làm một “chủ nghĩa định mệnh lịch sử - xã hội”
với “chủ nghĩa định mệnh sinh lý” do ông tiếp thu của Phrớt một cách dung tục để rồi
đi đến chỗ “rời bỏ những nguyên tắc hiện thực chủ nghĩa để sa hẳn vào chủ nghĩa tự
nhiên”; đã “sẵn sàng gò ép tâm lý tính cách nhân vật để minh họa cho quan niệm của
mình”; đã sáng tạo ra một loạt những tác phẩm “giống như những nghiên cứu tâm lý,
tất cả đều chứng minh luận đề tâm lý: bản chất con người là ích kỷ” [63, tr.413]. v.v...
Rải rác trong nhiều bài viết, công trình khác về Vũ Trọng Phụng, chúng ta còn
có thể gặp nhiều ý kiến tương tự. Chẳng hạn, nhận xét của Trần Đăng Thao: “nhân
vật của Vũ Trọng Phụng thường động về vị trí và tĩnh về tâm lý” [159]; nhận xét của
Đinh Trí Dũng: những nhân vật nạn nhân, “tha hóa” của Vũ Trọng Phụng “đã có
chiều sâu tâm lý đáng kể”, nhưng ở những nhân vật khác như Nghị Hách, Xuân tóc
đỏ... “đời sống tâm lý có khi còn xộc xệch” [17]; v.v...
Nhìn chung, tuy chưa có nhà nghiên cứu, phê bình nào xem xét tác phẩm dưới

của các nhà nghiên cứu: Thế Phong, Phan Cự Đệ, Nguyễn Hoành Khung, Hà
Minh Đức,v.v... Thế Phong khẳng định: Nhất Linh viết tác phẩm này chỉ vì “chán
chường cách mệnh và chính trị, con người trở về với nội tâm” [98, tr.168]. Phan
Cự Đệ nhận xét: nhân vật Trương là con người “sống gấp, hưởng thụ và phá
phách”, “sa đọa về nhân phẩm”, là “con người hạ xuống hàng con vật”, con người
có “lối sống hưởng thụ ích kỷ của chủ nghĩa cá nhân tư sản”, là “chủ nghĩa cá nhân
cực đoan và chủ nghĩa vô luân”, và Bướm trắng là tác phẩm “lãng mạn suy đồi”
được viết trong “thời kỳ xuống dốc”, “đi vào ngõ cụt, bế tắc” của Nhất Linh và Tự
Lực Văn Đoàn [91, tr.10-19]. Nguyễn Hoành Khung cho rằng Bướm trắng đã “đi
vào đồi bại với chủ nghĩa vô luân trắng trợn”, đã “thắm đượm một chủ nghĩa bi
quan đen tối và chủ nghĩa cá nhân lúc này bộc lộ đầy đủ tính chất đồi bại của nó, trở


13
thành chủ nghĩa vô luân” [62, tr.33]; Bướm trắng “là một chủ nghĩa cá nhân cực
đoan, với thứ tình yêu ích kỷ đến bệnh hoạn, một tâm trạng bi quan đen tối và thái
độ buông xuôi trong sa đoạ” [60, tr.113]. Hà Minh Đức khẳng định nhân vật
Trương là con người “đang thoái hoá”, “mất hết khả năng chống lại những cám dỗ
của vật chất”, “không có sức đề kháng, tự ý thức kém và hoàn toàn buông xuôi
trước những cám dỗ và xô đẩy của cuộc đời” và “Bướm trắng cũng ghi nhận ở
chính tác giả ngòi bút chân thành và mệt mỏi ở một chặng đường mà xã hội mờ mịt
và đầy biến động, người viết dễ mất hướng đi” [33, tr.12]; Bướm trắng “không còn
mang thuần tuý tính chất lãng mạn nữa mà đã nhiễm triết lý hiện sinh, lối sống
hưởng lạc” [35, tr.78].
Việc đánh giá giá trị nội dung tư tưởng của tác phẩm không phải là nhiệm vụ
trọng tâm của luận án, nhưng cũng không phải là vấn đề mà luận án có thể bỏ qua,
vì việc làm sáng tỏ giá trị nội dung tư tưởng của tác phẩm luôn là cơ sở cho sự xác
lập một cái nhìn thống nhất về hình thức nghệ thuật, trong đó có sự đánh giá về
phương diện loại hình.
Về nghệ thuật miêu tả tâm lý, đa số các nhà nghiên cứu, phê bình coi Bướm

những mắt lưới khó tìm được lối ra”, “Dòng ý thức của nhân vật không trôi chảy”
[33, tr.10]. Đỗ Đức Hiểu gọi sự vận động của cuộc sống tâm linh nhân vật là “hành
trình bên trong” và nhận thấy Nhất Linh đã xây dựng nhân vật theo cách của
Stendhal, Flaubert và Dostoievski, là “nhân vật không có tính cách định hình sẵn;
nó chủ động biến đổi, nó xây dựng từng bước, nó tự hình thành dần, từ trang này
sang trang khác. Người kể chuyện để ngòi bút “phiêu lưu” với cuộc sống tâm linh nhân
vật” [49, tr.125].
Nhìn chung, vẫn chưa có công trình, bài viết nào nghiên cứu, phê bình Bướm
trắng từ góc độ loại hình. Tuy nhiên, những nhận xét của các nhà nghiên cứu, đặc
biệt là những đánh gía về “dòng tâm lý”, “dòng ý thức”, “hành trình bên trong”,
“khuynh hướng thu vào những vòng tròn tâm lý hướng tâm”, tâm lý như “bị vây
bọc trong những mắt lưới khó tìm được lối ra”, v.v.. như vừa nói ở trên là những gợi
ý thực sự có ý nghĩa đối với chúng tôi trong việc xếp Bướm trắng vào dạng tiểu
thuyết tâm lý ý thức cá nhân khép kín.
2. 4. Về Sống mòn và tiểu thuyết tâm lý nhân cách


15
Kể từ bài viết đầu tiên về Sống mòn của tác giả Nguyễn Huy Tƣởng với
nhan đề: Tưởng nhớ Nam Cao, đọc tại hội nghị tranh luận hội họa ngày 31/12/1951
đến nay, sự nghiệp sáng tác của Nam Cao nói chung và Sống mòn nói riêng ngày
càng nhận được nhiều hơn sự quan tâm của các nhà nghiên cứu, phê bình văn học.
Hầu hết các ý kiến đều đánh giá cao nghệ thuật miêu tả tâm lý của tác phẩm.
Hà Minh Đức coi “Sống mòn là một trong những tác phẩm có giá trị nhất”
trong giai đoạn 1939 - 1945; là “tác phẩm có cấu trúc tâm lý độc đáo” [35, tr.126]
và Thứ là “kiểu nhân vật tổng hợp hơn cả cho các loại tính cách tiểu tư sản trí thức
của Nam Cao” [31, tr.26]; là “nhân vật mang ý nghĩa tổng hợp cho nhiều tâm trạng”
[94, tr.408]. Nhà nghiên cứu nhận xét: “Cấu tạo của Sống mòn vừa đi sát vào sườn
cốt truyện, vừa gắn liền với dòng tâm lý... Tác giả luôn tôn trọng tính khách quan
của tâm lý từng loại người và tạo điều kiện cho tâm lý bộc lộ tính cách” [31, tr.47].

“Nam Cao chú ý nhiều đến nội tâm hơn là ngoại hình nhân vật (trừ những trường
hợp có dụng ý đặc biệt). (...) Tài hoa của Nam Cao càng được phát huy đầy đủ khi
ông đi vào những quá trình tâm lý phức tạp, những tính cách lưỡng hóa (...). Tiểu
thuyết Sống mòn nếu không có cái sâu sắc, phong phú của ngòi bút phân tích tâm lý
thì làm sao có thể thu hút được sự chăm chú của người đọc trên hàng trăm trang
sách viết toàn về những chuyện “chẳng có gì cả” chung quanh một bữa ăn, một căn
nhà trọ, một chuyện ghen tuông vớ vẩn... của mấy anh chị tiểu tư sản nghèo?” [71].
Trần Đăng Suyền nhận xét: “Nam Cao đã lấy thế giới nội tâm nhân vật làm đối
tượng chính của sự miêu tả”; Nam Cao “là nhà văn có biệt tài khi miêu tả những
trạng thái tâm lý phức tạp, những hiện tượng lưỡng tính dở say dở tỉnh, dở khóc dở
cười, mấp mé gianh giới giữa thiện với ác, giữa hiền với dữ, giữa con người với con
vật. Ngòi bút của Nam Cao có khả năng miêu tả trực tiếp cả quá trình vận động và
phát triển của tâm lý tính cách nhân vật”; “Đối với Nam Cao, việc phân tích tâm lý
nhân vật không tách rời việc phân tích cuộc sống xã hội nói chung(...). Thế giới nội
tâm của những nhân vật Nam Cao không phải là thế giới riêng khép kín, tách biệt
hẳn với thế giới bên ngoài”; “Chủ nghĩa tâm lý đã trở thành một ý thức nghệ thuật
thấm nhuần trong sáng tác của Nam Cao” [144, tr.170-185]. Hà Văn Đức đánh giá:
các nhân vật tiểu tư sản của Nam Cao đều “không phải là những con người hoàn
toàn tách biệt với quần chúng lao động”; “Trong cách miêu tả tâm lý, Nam Cao có ý


17
thức kết hợp rất biện chứng con người với hoàn cảnh xã hội”, “Dòng tâm lý của
Thứ được mở rộng trên nhiều hướng... Qua các mối quan hệ đa dạng, phức tạp đó,
Nam Cao làm nổi bật lên được tâm lý, cốt cách con người tiểu tư sản” [38, tr.487491].
Trong nhiều công trình, bài viết khác, nghệ thuật miêu tả tâm lý của Nam
Cao vừa được xem như là một đóng góp độc đáo cho sự phát triển của văn xuôi
nước nhà, vừa được xem như là nét đặc sắc nghệ thuật của tiểu thuyết Sống mòn.
Đó là: Phạm Quang Long với Một đặc điểm của thi pháp truyện Nam Cao [121];
Đinh Trí Dũng với Bi kịch tự ý thức - nét độc đáo trong cảm hứng nhân đạo của

của tâm sự một anh giáo khổ trường tư”; kết luận của Trần Đăng Suyền: Nam Cao
“miêu tả những diễn biến tâm lý do hoàn cảnh quyết định một cách rất chính xác”,
thế giới nội tâm của những nhân vật Nam Cao “không phải là thế giới riêng khép
kín”; ý kiến của Hà Văn Đức: “trong cách miêu tả tâm lý, Nam Cao có ý thức kết
hợp rất biện chứng con người với hoàn cảnh xã hội”; nhận xét của Nguyễn Minh
Châu: “Nam Cao có biệt tài trước những biểu hiện tâm lý mang tính nhân
cách”;v.v.. là những gợi ý quý giá cho chúng tôi trong việc xác định Sống mòn là tiểu
thuyết tâm lý nhân cách.
Qua khảo sát các công trình, bài viết về bốn tác phẩm: Tố Tâm, Lấy nhau vì
tình, Bướm trắng, Sống mòn, chúng tôi nhận thấy cho đến nay, việc xác định dạng
(kiểu) cho bốn tiểu thuyết tâm lý nói trên cũng như cho tiểu thuyết tâm lý trong văn
học Việt Nam nói chung trong giai đoạn nửa đầu thế kỷ XX vẫn chưa được đặt ra.
Tuy nhiên, cùng với thời gian, nhiều gía trị đặc sắc về nội dung và hình thức nghệ
thuật miêu tả tâm lý của các tác phẩm nói trên đã được khám phá và khẳng định
ngày càng sâu sắc, ngày càng phong phú. Trong việc xác định dạng (kiểu) tiểu
thuyết tâm lý của từng tác phẩm, chúng tôi coi những khám phá và những sự khẳng
định đó có ý nghĩa gợi ý, chỉ dẫn và định hướng quan trọng.
3. GIỚI HẠN ĐỀ TÀI, NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU, PHƢƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU VÀ ĐÓNG GÓP MỚI CỦA LUẬN ÁN
3.1. Giới hạn đề tài


19
3.1.1. Đề tài luận án là Những dạng cơ bản của tiểu thuyết tâm lý trong văn học Việt
Nam từ đầu thế kỷ XX đến 1945 (qua Tố Tâm, Lấy nhau vì tình, Bƣớm trắng,
Sống mòn). Vì vậy, luận án sẽ chỉ giới hạn phạm vi nghiên cứu là tiểu thuyết tâm lý
trong văn học Việt Nam từ đầu thế kỷ XX đến 1945.
3.1.2. Do giới hạn trong khuôn khổ của một bản luận án và nhất là để tập trung cho
việc xác định các dạng cơ bản của tiểu thuyết tâm lý, đối tượng khảo sát chủ yếu
của luận án là bốn tiểu thuyết: Tố Tâm (1922) của Hoàng Ngọc Phách, Lấy nhau vì

diện loại hình nên phương pháp được đề lên hàng đầu tất nhiên phải là phương pháp
loại hình - một phương pháp vừa có ưu thế trong việc khám phá ra “tính cộng đồng
nhất định về văn học - thẩm mỹ” của các hiện tượng văn học phong phú, vừa có ưu
thế đặc biệt trong việc xác định “một hiện tượng nhất định thuộc về một kiểu, một
loại hình nhất định” [65, tr.338].
3.3.2. Tiểu thuyết tâm lý vừa là một hiện tượng loại hình, vừa là một hiện tượng lịch
sử. Vì vậy, đồng thời với việc vận dụng phương pháp loại hình, luận án còn rất chú
trọng vận dụng phương pháp lô gích - lịch sử. Đây là phương pháp vừa giúp nhận ra
mối liên hệ giữa các dạng tiểu thuyết tâm lý với nhau, vừa cho thấy tiểu thuyết tâm
lý đã thể hiện những bước tiến quan trọng của nó như thế nào.
3.3.3. Ngoài ra, luận án còn kết hợp sử dụng nhiều phương pháp nghiên cứu khác,
như: phương pháp hệ thống - cấu trúc, phương pháp phân tích - tổng hợp, phương
pháp thống kê - phân loại, phương pháp so sánh, v.v..
3.4. Đóng góp mới
3.4.1. Luận án là công trình đầu tiên nghiên cứu một cách khá hệ thống và toàn diện
tiểu thuyết tâm lý trong văn học Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX từ góc độ loại hình,
khảo sát những dạng cơ bản của nó và chỉ ra rằng dù rất phong phú và đa dạng,
nhưng có thể khái quát thành bốn dạng (kiểu) tồn tại chủ yếu: (1) Tiểu thuyết tâm lý
tình cảm, tiêu biểu là Tố Tâm (Hoàng Ngọc Phách); (2) Tiểu thuyết tâm lý bản
năng, tiêu biểu là Lấy nhau vì tình (Vũ Trọng Phụng); (3) Tiểu thuyết tâm lý ý thức
cá nhân khép kín, tiêu biểu là Bướm trắng (Nhất Linh); (4) Tiểu thuyết tâm lý
nhân cách, tiêu biểu là Sống mòn (Nam Cao).
3.4.2. Với cái nhìn loại hình, luận án mong muốn có những đóng góp nhất định
trong việc khảo sát tiểu thuyết tâm lý Việt Nam giai đoạn từ đầu thế kỷ XX đến
1945 từ góc độ thi pháp, xem tiểu thuyết tâm lý như những hình thức thể loại mang
tính nội dung. Theo hướng này, mỗi tiểu thuyết tâm lý là một chỉnh thể nghệ thuật


21
độc đáo, không lặp lại, đồng thời là một bộ phận không tách rời của một hệ thống

Xã hội Việt Nam giai đoạn giao thời (1900 - 1930) là một xã hội đầy biến
động về tất cả các mặt: chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội,v.v.. Thực dân Pháp đã đặt
xong ách đô hộ lên đất nước ta và biến chế độ phong kiến nước ta thành chế độ thực
dân nửa phong kiến. Nền kinh tế tự nhiên của Việt Nam vốn cơ bản là sản xuất
phong kiến, giờ biến đổi theo hướng tư sản hóa và bị kéo vào quỹ đạo của chủ nghĩa
tư bản. Giao lưu hàng hóa phát triển. Giao thông được mở mang. Nhiều tuyến
đường bộ, đường thuỷ và cả đường hàng không được xây dựng mới, cùng với sự
xuất hiện của điện tín, làm cho môi trường sống của con người về tất cả các mặt
không còn khép kín trong mỗi làng, mà mở rộng, liên thông với mọi vùng trong cả
nước và với cả nước ngoài. Không còn bị bó hẹp trong không gian của làng quê,
chợ quê, con người có thể đi đến nơi mình cần đến, liên hệ với người mình cần liên
hệ. Chính sách bế quan toả cảng của triều đình phong kiến bị phá vỡ. Hàng loạt các
đô thị được hình thành đông đúc khắp trong Nam ngoài Bắc. Theo Đại cương Lịch
sử Việt Nam, chỉ trong vòng 8 năm, từ 1913 đến 1921, số dân Hà Nội tăng 10.000
người, số dân Sài Gòn tăng 33.000 người, số dân Hải Phòng tăng 40.000 người.
Cho đến năm 1928, thành phố Nam Định đã có 35.000 dân, thành phố Hải Phòng có
98.000 dân, Hà Nội có 130.000 dân, thành phố Huế có 41.600 dân, Sài Gòn có
125.000 dân, Chợ Lớn có 192.000 dân. Vào năm 1920, số dân thành phố mới chỉ
chiếm 3,6% dân số, nhưng đến năm 1930 đã lên tới từ 8% - 10%, cá biệt như ở Sài
Gòn - Chợ Lớn, số dân thành phố chiếm tới 14% dân số [107, tr.235]. Các đô thị


23
đông đúc không chỉ đẩy mạnh nền kinh tế hàng hóa, mà còn thúc đẩy sự ra đời của
con người cá nhân - nhân tố nội tại chi phối sự ra đời tiểu thuyết tâm lý.
Những thay đổi cơ bản như thế về cơ cấu chính trị và kinh tế đã kéo theo cả
“một phen thay đổi sơn hà” trên lĩnh vực xã hội. Quan hệ giai cấp vốn là quan hệ
nền tảng của xã hội bị xáo trộn. Giai cấp phong kiến vẫn tồn tại nhưng đã mất
quyền thống trị và không còn uy tín trước nhân dân. Nho học lỗi thời. Tầng lớp Nho
sĩ bị phân hóa. Nho giáo thất bại hoàn toàn trước thử thách mới của lịch sử. Xã hội

với nhau. Đời sống tinh thần của con người Việt Nam bấy lâu khép kín trong sách
vở và chữ nghĩa thánh hiền, trong quan hệ họ hàng và làng xã, giờ bị xáo động. Văn
minh và lối sống vật chất phương Tây, kinh tế hàng hóa và cuộc sống nơi thành thị
đông đúc, đua chen đã gây cho con người bao tâm lý mới. Sự hưởng thụ thú vui vật
chất được coi là quyền lợi tự nhiên. Cái ngon, cái đẹp, cái tiện lợi trở thành có sức
hấp dẫn. Người ta cần hưởng thụ, cần tiền. Người ta phải tự ý thức, phải sống, mơ
ước, suy nghĩ và tính toán cho riêng mình, phải vật lộn trong những quan hệ lạnh
lùng theo lối trả tiền ngay. “Những cái lố lăng do chủ nghĩa thực dân đưa vào nước
ta xúc phạm một cách trắng trợn những truyền thống dân tộc lành mạnh của người
Việt Nam” [130, tr.225]. “Quốc gia, gần hơn nữa, gia đình đối với một vài người,
không còn là gì nữa. Người ta cần phải sống cuộc đời riêng của người ta trước đã”
[156, tr.414]. Cả một hệ thống các quan niệm truyền thống của nhà Nho từ “tam
cương”, “ngũ thường”, từ “xuất” và “xử” đến các quan niệm về lối sống, về đạo
đức, về ý thức thẩm mỹ,... bị rơi vào khủng hoảng. Con người không còn bị ràng
buộc bởi trật tự thứ bậc trong quan hệ họ hàng và trong những phong tục, luật lệ của
làng xã, mà ít nhiều đã có quyền tự do của đời sống thành thị tư sản, được thành thị
hóa, tiểu tư sản hóa và dần dần trở thành con người cá nhân. Mô hình con người
đạo lý theo quan niệm truyền thống của nhà Nho bị phá sản, mở đường cho sự xuất
hiện mô hình con người mới: con người cá nhân. Đây là sự kiện có ý nghĩa vô cùng
to lớn, vì con người cá nhân là nhân tố nội tại chi phối sự ra đời của tiểu thuyết tâm
lý.
1.1.2. Con ngƣời cá nhân và sự ra đời tiểu thuyết tâm lý
Khái niệm tiểu thuyết tâm lý mà luận án sử dụng không chỉ: “bao gồm tiểu
thuyết - tự truyện, tiểu thuyết - tự thú, tiểu thuyết - nhật ký, tiểu thuyết bằng thư và


25
các biến thể của tiểu thuyết phân tích” [25, tr.230], mà bao gồm những tác phẩm tự
sự: (1) có quy mô lớn; (2) thể hiện cuộc sống từ cái nhìn đời tư; (3) xoá bỏ khoảng
cách sử thi để thể hiện cuộc sống như một thực tại đang tiếp diễn nhằm xây dựng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status