Header Page 1 of 166.
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
NGUYỄN KIM CHÂU
THƠ TỨ TUYỆT TRONG VĂN HỌC VIỆT NAM TỪ
THẾ KỶ X ĐẾN THẾ KỶ XIX
LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGỮ VĂN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 2000
Footer Page 1 of 166.
Header Page 2 of 166.
Footer Page 2 of 166.
Header Page 3 of 166.
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu, kết quả nêu
trong luận án là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kì công trình nào khác.
Tác giả luận án
Footer Page 3 of 166.
3
2.3.1. Ảnh hưởng của thơ ca Trung Hoa và truyền thống thơ ca Lý - Trần đối với sự
phát triển của thơ tứ tuyệt bằng chữ Hán thế kỷ XV ......................................................42
2.3.2 Ảnh hưởng của văn học dân gian đối với sự phát triển của thơ tứ tuyệt bằng chữ
Nôm thế kỷ XV. ..............................................................................................................47
2.4. Thơ tứ tuyệt Việt Nam giai đoạn từ thế kỷ XVI đến cuối thế kỷ XIX..................49
2.4.1. Sự hội nhập của cuộc sống đời thường vào thơ ca bác học hình thái ngắn bằng
chữ Hán giai đoạn thế kỷ XVI - XIX. .............................................................................49
2.4.2. Ảnh hưởng của văn hóa và ngôn ngữ hội thoại dân gian đối với sự phát triển của
thơ tứ tuyệt bằng chữ Nôm thể kỷ XVI - XIX. ...............................................................55
Footer Page 4 of 166.
4
Header Page 5 of 166.
2.5. Nhận xét chung ..........................................................................................................62
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM NGHỆ THUẬT THƠ TỨ TUYỆT VIỆT
NAM TỪ THẾ KỶ X ĐẾN THẾ KỶ XIX .............................................................. 64
3.1. Sự hình thành, phát triển của thơ tứ tuyệt - nhìn từ góc độ quan niệm nghệ
thuật. ..................................................................................................................................64
3.2. Cách lựa chọn và tổ chức hình ảnh ..........................................................................72
3.2.1. Cách lựa chọn hình ảnh: .......................................................................................72
3.2.2. Cách tổ chức hình ảnh...........................................................................................81
3.2.3. Thơ tứ tuyệt và những khoảnh khắc chuyển biến đột ngột trong cảm xúc, nhận
thức của nhà thơ. .............................................................................................................96
3.3. Bố cục bài thơ tứ tuyệt ............................................................................................103
3.3.1. Câu khởi ..............................................................................................................106
3.3.2. Câu thừa ..............................................................................................................109
văn hiến đứng đầu trung châu, điển chương rạng cả triều đại. Trong khi ấy, các bậc vua sáng
tôi hiền cùng bàn bạc, các nhà học rộng tài cao soạn thuật ra, tinh thần ngụ đó, tiếng tăm lẫy
lừng. Tóm lại mà xét, há chẳng phải là văn nghệ thịnh vượng sao!.
Trong lời tựa tập “Tinh sà kỷ hành”, Ngô Thì Nhậm cũng phát biểu một cách tự hào
rằng:
Nước Việt ta dựng nước bằng văn chương, thơ từ thời Đinh, Lý đến thời Trần, nổi nhất
vào khoảng Hồng Đức nhà Lê, một bộ Toàn Việt loại cổ thể nào thua Hán Tấn, nào thua
Đường Tống, Nguyên Minh, gõ ngọc khua vàng, thực đáng gọi là một nước của thơ” [136,
tr. 22].
Có thể xem đây là một số nhận định tiêu biểu cho quan niệm của nhiều học giả nổi
tiếng khác khi nói về những thành tựu văn chương dân tộc.
Đáng chú ý là niềm tự hào sâu sắc đó thường được nhấn mạnh trong ý thức so sánh với
thơ ca Trung Hoa, đặc biệt là với thơ ca Đường Tống, như một cách thừa nhận những chuẩn
mực có ảnh hưởng rõ rệt đến sự phát triển của thơ ca cổ điển Việt Nam. Đó là một thực tế
khách quan trong quá trình giao lưu văn hóa vừa mang tính tự nguyện vừa mang tính áp đặt
Footer Page 6 of 166.
6
Header Page 7 of 166.
đã từng diễn ra liên tục suốt chiều dài lịch sử. Nó quy định sự hình thành, phát triển của
dòng văn học bác học chủ yếu dựa trên văn tự Hán. Một trong những biểu hiện cụ thể của
ảnh hưởng đó chính là việc vay mượn thể loại mà phổ biến nhất là hiện tượng sử dụng các
thể thơ Đường luật như bát cú, tứ tuyệt.
Với tư cách những thành tựu nghệ thuật của thơ ca thời Đường, bát cú và tứ tuyệt được
các nhà thơ cổ điển đặc biệt ưa chuộng ở cả Trung Quốc lẫn Việt Nam. Tuy nhiên, so với
bát cú, tứ tuyệt có số phận lịch sử đặc biệt hơn. Có nguồn gốc từ trước thời Đường và hoàn
chỉnh về thi luật trong thời Đường, tứ tuyệt là một thể thơ được sử dụng khá phổ biến trong
thức tác phẩm trong tính chỉnh thể, tính quan niệm”, “nghiên cứu cái lý bên trong sự tìm tòi,
chọn lựa của nhà văn” (Trần Đình Sử) [116]. Thực tế cho thấy: Dựa trên cơ sở khảo sát
chính cấu trúc nội tại của tác phẩm trong mối quan hệ biện chứng giữa nội dung và hình
thức, hướng tiếp cận này đã mở ra nhiều khả năng trong việc đi sâu, phát hiện, lý giải quá
trình sáng tạo nghệ thuật.
Mặt khác, nếu “Bản chất của văn xuôi là để mất đi” như Paul Valéry từng nhận xét thì
thơ cho phép người đọc tiếp nhận trọn vẹn nội dung và hình thức tác phẩm. “Chỉ khi tiếp
xúc với thơ, một câu thơ, một bài thơ thì người ta không thể quên hình thức của nó được,
nếu chỉ hiểu ý của thơ mà quên mất lời của thơ thì xem như quên cả thơ” [27, tr. 8 ]. Đặc
điểm này càng khẳng định rằng việc kháo sát các yếu tố hình thức là hết sức quan trọng bởi
chính nhờ hình thức mà toàn bộ văn bản bài thơ mới có thể được lưu giữ lại trong trí nhớ
sau quá trình tri giác nghệ thuật. Công việc nhớ, ngâm nga lại một bài thơ đã đọc trong quá
khứ chính là khả năng tác động lâu dài của thơ, là nguồn cội của tính đa nghĩa, của những
phát hiện mới mẻ qua nhiều thế hệ về các tầng nghĩa phong phú trong bài thơ. Như vậy, việc
tiếp cận tác phẩm phải “bắt đầu từ hình thức nghệ thuật, thâm nhập nội dung nghệ thuật và
kết thúc với hình thức nghệ thuật. Bởi vì, không thể có nghệ thuật nào mà không bắt đầu
bằng hình thức, bằng sáng tạo về hình thức để thực hiện sự sáng tạo về nội dung và nội
dung này cũng phải được hoàn tất trong hình thức hoàn thiện cuối cùng của nó” (Trần
Thanh Đạm) [27, tr. 9 ]. Đối với hướng tiếp cận này, thơ tứ tuyệt không phải là một ngoại
lệ.
Tuy nhiên, nếu chỉ quan tâm đến những tác động của hiện thực đời sống đối với sự
hình thành tác phẩm hoặc chỉ tập trung vào văn bản tác phẩm thì thực chất vẫn không tránh
khỏi cái nhìn phiến diện. Sự hình thành tác phẩm còn tùy thuộc nhiều vào các quy luật tâm
lý sáng tạo, tiếp nhận văn học. Vì lẽ đó, muốn phát hiện các quy luật nội tại, các yếu tố chi
phối quá trình hình thành, phát triển cũng như khẳng định những ưu thế nghệ thuật đã giúp
cho tứ tuyệt tồn tại lâu dài trong suốt tiến trình thơ ca cổ điển, vấn đề đặt ra là cần phải nhìn
nhận tác phẩm như một chỉnh thể phức hợp của những mối liên hệ bên trong lẫn bên ngoài
được thể hiện qua mối quan hệ giữa các yếu tố: “Cuộc sống - nhà văn - tác phẩm - người
thưởng thức”. Một cái nhìn toàn vẹn từ nhiều góc độ sẽ mở ra những khả năng to lớn trong
Nam” [73]...; các công trình khảo cứu, ghi chép hay phát biểu tản mạn về thơ của Nguyễn
Dữ trong “Truyền kỳ mạn lục” [24], Phạm Đình Hổ trong “Vũ trung tùy bút” [45], Lê Quý
Đôn trong “Kiến văn tiểu lục” [29] và “Vân đài loại ngữ” [28] (mục “Văn Nghệ” gồm 48
điều), Phan Huy Chú trong “Lịch triều hiến chương loại chí”[16], Nguyễn Văn Siêu trong
“Phương Đình tùy bút lục” [114]...; các quan niệm về thơ của Lưu Hiệp trong “Văn tâm
điêu long” [43], một tác phẩm lý luận văn học đặc sắc ra đời từ rất sớm (cuối thế kỷ V đầu
thế kỷ VI) ở Trung Quốc, tác phẩm “Thư gửi Nguyên Chẩn” của Bạch Cư Dị [19] hoặc các
Footer Page 9 of 166.
9
Header Page 10 of 166.
công trình có tính chất trích dẫn, giới thiệu ý kiến của các nhà thơ, nhà phê bình lý luận văn
học cổ điển Trung Quốc về thơ và các lĩnh vực nghệ thuật khác như “Tinh hoa lý luận văn
học cổ điển Trung Quốc” của Phương Lựu [71], “Lý luận văn học nghệ thuật cổ điển Trung
Quốc” của Khâu Chấn Thanh [126]... Tình hình chung vẫn là bàn luận xung quanh các đặc
điểm của thơ ca cổ điển nói chung chứ không riêng gì tứ tuyệt. Tuy nhiên, những quan niệm
về thơ của các tác giả cổ điển Trung Quốc và Việt Nam là những cơ sở hết sức tin cậy giúp
chúng tôi có thể vận dụng để khảo sát đặc điểm thơ tứ tuyệt Việt Nam từ thế kỷ X - XIX.
2.2. Từ đầu thế kỷ XX đến 1985, việc nghiên cứu thơ tứ tuyệt đã được chú ý nhiều hơn
nhưng trong hầu hết các công trình nghiên cứu hình thức và thể loại thơ ca ở Việt Nam giai
đoạn này, tứ tuyệt chỉ có một vị trí hết sức khiêm tốn. Các từ điển chuyên ngành như: “Từ
điển văn học” [94], “Từ điển thuật ngữ văn học” [96],..; các công trình nghiên cứu văn học
sử như “Việt Nam văn học sử yếu” [39] của Dương Quảng Hàm, “Việt Nam cổ văn học sử”
của Nguyễn Đổng Chi [11], “Việt Nam văn học sử giản ước tân biên” của Phạm Thế Ngũ
[83]...; các giáo trình “Lịch sử văn học Việt Nam” (Từ thế kỷ thứ X đến thế kỷ thứ XIX);
các công trình chuyên luận nghiên cứu hoặc dịch thuật về hình thức và thể loại thơ ca như:
“Phép làm thơ” của Diên Hương [50], “Khảo luận về thơ cũ Trung Hoa” (Phạm Thế Ngũ
tính hoàn chỉnh, độc lập của bài thơ tứ tuyệt để kết luận rằng đó không phải là một thể thơ
“phái sinh” từ bát cú. Khi khảo sát tiến trình thơ tứ tuyệt trong văn học Việt Nam, ở mỗi
giai đoạn cụ thể, người viết đều dừng lại, tập trung lý giải nguyên nhân hưng thịnh hoặc suy
thoái của thể thơ chủ yếu là dựa vào sự tương thích của nó đối với nhu cầu miêu tả, biểu
hiện của nhà thơ trong những biến động lịch sử đặc biệt của giai đoạn đó. Mặt khác, tác giả
cũng đã giới thiệu các đặc điểm về bố cục, cách lựa chọn hình ảnh, đặc điểm hàm súc tối đa
của ngôn từ thơ và ưu thế thể hiện của thể thơ. Công trình này là một trong những định
hướng quan trọng bước đầu, giúp chúng tôi có thể kế thừa và phát triển sâu hơn các vấn đề
cần được chú ý khi nghiên cứu về thơ tứ tuyệt trong văn học Việt Nam từ thế kỷ thứ X đến
thế kỷ thứ XIX.
2.3. Một số công trình ra đời gần đây như: “Thi pháp thơ Đường” [37] của Nguyễn Thị
Bích Hải, “Khảo sát đặc trưng nghệ thuật của thơ Thiền Việt Nam từ thế kỷ thứ X đến thế
kỷ thứ XIV” [140] của Đoàn Thị Thu Vân, “Một số đặc điểm nghệ thuật của thơ tứ tuyệt
đời Đường” [25] của Nguyễn Sĩ Đại, “Thơ văn Lý Trần, nhìn từ góc độ thể loại” [47] của
Nguyễn Phạm Hùng,... đã có nhiều đóng góp giá trị trong việc khảo sát những ưu thế nghệ
thuật và nhìn nhận thêm những vấn đề về nguồn gốc, khái niệm thơ tứ tuyệt. Tác giả
Nguyễn Thị Bích Hải sau khi đưa ra những cách hiểu khác nhau về chữ “tuyệt” đã nhấn
mạnh: “Về mặt nội dung, mỗi bài thơ tuyệt cú là một tác phẩm hoàn chỉnh, độc lập. Nhà thơ
dùng thể thơ này để trữ phát tình cảm, phát biểu trọn vẹn tình ý, xúc cảm chứ không phải
bài thơ tuyệt cú chỉ là một nửa bài thơ bát cú mà thành” [37]. Khái quát ý nghĩa thi pháp của
tứ tuyệt, tác giả cho rằng: “Đối với người Trung Hoa, hàm súc là một nhu cầu của nghệ
thuật. Nó là một giá trị. Thơ trữ tình đời Đường hầu hết không miêu tả mà chỉ thể hiện bằng
gợi ý. Luật thi, nhất là tuyệt cú, là thể thơ phù hợp nhất với nhu cầu này mà tập trung là ở
cái tứ của nó” [37, tr. 78 ].
Footer Page 11 of 166.
11
“Toàn bộ thơ Đường là một bài ca được viết ra cũng như một bài viết được hát lên. Qua
những ký hiệu, vẫn tuân theo nhịp điệu nguyên sơ, lời nói đã bung ra, lan tràn tứ phía hoạt
Footer Page 12 of 166.
12
Header Page 13 of 166.
động tạo nghĩa của nó. Khoanh lại trước tiên tính hiện thực của những ký hiệu này - những
chữ viết ghi ý của người Trung Quốc - những đặc điểm của chúng, những mối liên quan
giữa chúng với những hoạt động tạo nghĩa khác - đã làm nổi bật một vài nét chủ yếu của thơ
ca Trung Quốc” [98, tr. 78]. Hai tác giả Cao Hữu Công và Mai Tổ Lân chú ý khảo sát các
vấn đề về cú pháp, cách lựa chọn ngôn từ và sử dụng hình ảnh của thơ Đường trong quan hệ
đối sánh với thơ ca phương Tây. Các công trình nêu trên dù chuyên biệt nghiên cứu Đường
thi nhưng đã gợi ý cho chúng tôi rất nhiều trong quá trình khảo sát các đặc điểm nghệ thuật
của thơ tứ tuyệt Việt Nam từ thế kỷ X đến thế kỷ XIX.
2.5. Về các bài viết được đăng tải trên hệ thống báo chí và tạp chí chuyên ngành,
chúng tôi lưu tâm đến loạt bài viết về thơ tứ tuyệt của Ngọc Chung Tử được đăng trên báo
Văn Nghệ từ năm 1991, trong đó, ông đã thể hiện rõ một cách hiểu rất rộng về thơ tứ tuyệt
khi chọn và bình cả những bài lục bát bốn câu. Mãi đến năm 1997, khi việc sáng tác thơ tứ
tuyệt ngày càng phổ biến, nảy sinh nhu cầu xác định một cách hiểu thống nhất về tứ tuyệt,
tác giả Tạ Ngọc Liễn đã đặt ra vấn đề “Tứ tuyệt có phải là thể thơ bốn câu” [70]. Tiếp tục
vấn đề trên, tác giả Nguyễn Khắc Phi đã giới thiệu ý kiến của mình qua bài viết “Về khái
niệm tứ tuyệt” trên báo “Văn Nghệ trẻ” [106]. Đây là một bài viết chuyên sâu, giới thiệu
nhiều cứ liệu khoa học và những kiến giải của tác giả về nguồn gốc, tên gọi và nội dung
khái niệm tứ tuyệt trên cơ sở khảo sát quá trình hình thành và phát triển của thể thơ độc đáo
này trong lịch sử văn chương Trung Hoa. Tác giả cũng đặt ra những thực tế khó khăn khi
chọn cách gọi tên hợp lý nhất cho thể thơ vì xét thấy khái niệm tứ tuyệt vẫn dùng trong thực
tiễn sáng tác của văn học hiện đại Việt Nam từ trước đến nay là chưa thật ổn. Qua những
của thơ tứ tuyệt trên cơ sở những nét đặc thù trong quan niệm nghệ thuật của văn chương cổ
điển, những đặc điểm và ưu thế thích ứng của thể thơ đối với nhu cầu phản ánh và biểu hiện
ở từng giai đoạn văn học cụ thể.
3.3. Mục tiêu chính của đề tài là khảo sát các đặc điểm nghệ thuật của thơ tứ tuyệt Việt
Nam từ thế kỷ thứ X đến thế kỷ thứ XIX trong mối quan hệ đối sánh với tứ tuyệt Đường thi
và với các thể thơ khác. Như đã trình bày, chúng tôi đặt ra mục tiêu khảo sát, lý giải các đặc
điểm nghệ thuật của thơ tứ tuyệt dựa trên cơ sở mối quan hệ giữa các yếu tố: cuộc sống nhà văn - tác phẩm – người đọc. Nói cách khác, trong quá trình khảo sát những đặc điểm
nghệ thuật của thể thơ này, chúng tôi không những chỉ căn cứ vào chính cấu trúc nội tại của
tác phẩm mà còn căn cứ vào mối quan hệ với những tác động sâu sắc, những nhu cầu cần
phản ánh của hiện thực đời sống, với các quy luật tâm lý sáng tạo và tiếp nhận văn học.
Footer Page 14 of 166.
14
Header Page 15 of 166.
4. Phương pháp nghiên cứu
4.1. Để xác định những đặc điểm, trên nguyên tắc chung, cần phải khảo sát thơ tứ
tuyệt Việt Nam từ thế kỷ thứ X đến thế kỷ thứ XIX trong mối quan hệ đối sánh với nhiều hệ
thống. Cụ thể, luận án sẽ được triển khai trên cơ sở quan tâm đến các mối quan hệ giữa:
- Thơ tứ tuyệt với thơ ca nói chung và thơ ca cổ điển phương Đông nói riêng
- Thơ tứ tuyệt Việt Nam từ thế kỷ thứ X đến thế kỷ thứ XIX với thơ tứ tuyệt Đường
thi.
- Thơ tứ tuyệt với các thể thơ khác mà đặc biệt là thể thơ bát cú luật Đường trong thơ
ca Việt Nam từ thế kỷ thứ X đến thế kỷ thứ XIX
- Thơ tứ tuyệt với các thể thơ khác trong sáng tác của các nhà thơ tiêu biểu hoặc trong
các giai đoạn văn học cụ thể.
Mối quan hệ phụ thuộc, ảnh hưởng qua lại giữa các bộ phận trong hệ thống hoặc giữa
các hệ thống sẽ là cơ sở giúp xác định các đặc điểm nghệ thuật của bài thơ tứ tuyệt, bởi bên
thơ tứ tuyệt Đường thi.
4.2.2. Phương pháp phân tích - so sánh được sử dụng nhằm tìm hiểu:
- Ảnh hưởng của Đường thi, của thơ ca bác học và thơ ca dân gian Việt Nam đối với
quá trình phát triển của thơ tứ tuyệt Việt Nam từ thế kỷ thứ X - XIX.
- Đặc điểm nghệ thuật, những ưu thế thể hiện của tứ tuyệt cổ điển Việt Nam.
Tóm lại, các phương pháp, thao tác nghiên cứu đều nhằm đến mục đích cố gắng làm rõ
tính loại biệt về thể loại, xác định quá trình hình thành, phát triển, những đặc điểm nội dung
và nghệ thuật của thơ tứ tuyệt cổ điển Việt Nam trong mối quan hệ so sánh, đối chiếu với tứ
tuyệt cổ điển Trung Quốc.
5. Giới hạn phạm vi nghiên cứu và tư liệu
5.1 .Văn học dân tộc bao gồm hai bộ phận: văn học viết và văn học dân gian. Đề tài
chỉ giới hạn nghiên cứu kiểu bài thơ bốn câu xuất hiện trong phần văn học viết từ thế kỷ thứ
X đến cuối thế kỷ thứ XIX.
5.2. Đề tài chỉ tập trung thu thập tư liệu từ sự nghiệp sáng tác của một số nhà thơ tiêu
biểu ở các giai đoạn văn học.
1
Xin xem tên các bài thơ được chọn trong phần “Phụ Lục”
16
Footer Page 16 of 166.
Header Page 17 of 166.
5.3. Những tác phẩm văn học cổ đã mất mát nhiều theo thời gian. Thơ của hầu hết các
tác giả, ngày nay, chỉ còn lại một phần ít ỏi dù đương thời, số lượng tác phẩm của mỗi
người đôi khi đạt đến con số nghìn. Đó là chưa kể đến những khó khăn khách quan trong
việc giới thiệu toàn bộ tư liệu Hán Nôm còn giữ được đến ngày nay. Thực tế đó khiến cho
đoạn văn học để có được cái nhìn bao quát về tiến trình thơ tứ tuyệt trong văn học Việt Nam
từ thế kỷ X đến thế kỷ XIX.
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM NGHỆ THUẬT THƠ TỨ TUYỆT VIỆT NAM
TỪ THẾ KỶ THỨ X ĐẾN THẾ KỶ THỨ XIX
Thể loại là một phạm trù mang tính lịch sử. Vì vậy, việc nghiên cứu thể loại, trước hết,
cần được tiến hành trên cơ sở tìm hiểu, lý giải con đường hình thành, phát triển thể loại dựa
vào sự thích ứng của nó với nhu cầu phản ánh và biểu hiện ở từng giai đoạn cụ thể.
Mặt khác, để phân tích, cảm thụ, người tiếp nhận phải khởi đầu từ ngôn ngữ, bố cục
bài thơ để cảm nhận vẻ đẹp của hình ảnh và cuối cùng là hiểu được tư tưởng của tác phẩm.
Công việc sáng tác một bài thơ phải bắt đầu theo hướng ngược lại: Từ những ý tưởng phát
sinh do hứng thú, cảm xúc trước tác động của ngoại cảnh, nhà thơ sẽ chọn lọc và tổ chức
những hình ảnh từ thực tế cuộc sống để diễn đạt các ý tưởng. Tuy nhiên, các hình ảnh thể
hiện ý tưởng phải được sắp xếp trong một bố cục chặt chẽ tùy thuộc vào quy cách thể thơ
hoặc ý đồ nghệ thuật của tác giả. Đặc biệt, với thơ Đường luật (Chủ yếu là bát cú và tứ
tuyệt), việc sắp xếp ý tưởng, hình ảnh trong mỗi câu thơ cần tuân thủ theo đúng quy cách bố
cục “Khai - thừa - chuyển - hợp”. Cuối cùng, tác giả dùng ngôn ngữ nghệ thuật để thể hiện
những cảm nhận, suy tưởng qua bài thơ. Vì vậy, ở chương này, đề tài giải quyết các vấn đề
cụ thể sau:
3.1. Sự hình thành, phát triển của tứ tuyệt nhìn từ góc độ quan niệm nghệ thuật
3.2. Cách lựa chọn và tổ chức hình ảnh.
3.3. Bố cục bài thơ tứ tuyệt.
3.4. Ngôn ngữ thơ tứ tuyệt
Phần Kết Luận
Chúng tôi cố gắng đưa ra một số nhận định khái quát về sự phát triển của thơ tứ tuyệt
trong văn học Việt Nam từ thế kỷ X đến thế kỷ XIX và phác thảo vài nét về sự phát triển
Footer Page 18 of 166.
18
phải xuất phát từ thực tiễn sáng tác, cho nên, hầu hết các công trình nghiên cứu về hình thức
và thể loại thơ ca đều phải chú ý đến sự có mặt cùng lúc hai thuật ngữ tuyệt cú và tứ tuyệt để
chỉ một kiểu bài thơ bốn câu từng phát triển đến mức hoàn chỉnh về quy cách, cấu trúc trong
Đường thi, từng dược sử dụng trong văn chương cổ điển Việt Nam và đã có nhiều cách tân,
biến đổi trong quá trình hội nhập vào văn học hiện đại.
Tác giả Dương Quảng Hàm giải thích cặn kẽ chữ “tứ tuyệt” như một cách thừa nhận
sự có mặt của thuật ngữ này trong sáng tác và nghiên cứu phê bình văn học Việt Nam từ rất
sớm: “Tứ là bốn, tuyệt là dứt, ngắt. Lối này gọi thê vì thơ tứ tuyệt là ngắt lấy bốn câu trong
bài bát cú mà thành” [39, tr. 27 ]
Tác giả Bùi Văn Nguyên cũng viết: “Thơ bốn câu người ta còn gọi là tứ tuyệt tức là
bài thơ gồm bốn câu có ý nghĩa thật hay. Trong văn học Trung Quốc, người ta không gọi tứ
tuyệt mà gọi là tuyệt cú” [ 84, tr. 213 ]
Tác giả Nguyễn Khắc Phi, trong “Từ điển thuật ngữ văn học”, xác định: “ở ta, quen
gọi là thơ tứ tuyệt. Nghĩa rộng là những bài thơ bốn câu mỗi câu 5 hoặc 7 chữ. Theo nghĩa
hẹp là một dạng của thơ Đường luật, có quy định bằng trắc, niêm đối” [96, tr. 272]
Footer Page 20 of 166.
20
Header Page 21 of 166.
Tác giả Lạc Nam trong “Tìm hiểu các thể thơ” cũng có định nghĩa cùng lúc sử dụng
hai thuật ngữ để định danh một khái niệm: “Thơ bốn câu gọi là thơ tứ tuyệt, người Trung
Quốc gọi là tuyệt cú”...[77, tr. 108 ]
Việc sử dụng cùng lúc hai thuật ngữ tứ tuyệt và tuyệt cú tồn tại suốt một thời gian dài,
thậm chí, ở Việt Nam, thói quen sử dụng rộng rãi thuật ngữ tứ tuyệt khiến thuật ngữ tuyệt cú
hầu như chỉ còn được sử dụng khi cần nghiên cứu chuyên sâu. Mãi đến gần đây, trên tạp chí
“Văn Nghệ Trẻ” số 25 (1997), tác giả Tạ Ngọc Liễn mới đặt ra vấn đề có nên dùng thuật
ngữ tứ tuyệt hay không? [70]. Theo ông, trong các tài liệu xưa chưa hề có chỗ nào dùng
Khắc Phi,.. đều cho rằng tứ tuyệt là một bài thơ bốn câu, mỗi câu gồm 5 chữ, 6 chữ hoặc 7
chữ (Phần lớn là 5 chữ và 7 chữ nên còn gọi là ngũ tuyệt và thất tuyệt), có những quy cách
về cấu trúc, niêm luật chặt chẽ tương ứng với quy cách của bài bát cú luật Đường.
Ở Việt Nam, quy cách sáng tác thơ tứ tuyệt luật Đường nhìn chung được tuân thủ khá
nghiêm ngặt nhưng vẫn tồn tại một số hiện tượng phá cách mà các bài thơ Nôm thất ngôn
xen lục ngôn của Nguyễn Trãi là một trong số những hiện tượng đáng chú ý... Như vậy,
cách hiểu truyền thống này tuy có khái quát được những hiện tượng phố biến nhưng vẫn tỏ
ra bất cập trước những trường hợp cá biệt, sáng tạo ở các nhà thơ giàu bản lĩnh, muốn vượt
thoát khỏi ràng buộc của thi ca Trung Hoa.
Thời gian gần đây, khi thi pháp học phát triển mạnh mẽ trong khoa nghiên cứu văn
học ở nước ta, các công trình có tính chuyên luận về thơ tứ tuyệt hoặc có liên quan đến sự
phát triển của thơ tứ tuyệt trong một giai đoạn văn học nhất định như: “Khảo sát các đặc
điểm nghệ thuật của thơ Thiền Việt Nam từ thế kỷ thứ X đến thế kỷ thứ XIV” của Đoàn Thị
Thu Vân [140], “Thi pháp thơ Đường’ của Nguyễn Thị Bích Hải [37], “Một số đặc điểm
nghệ thuật của thơ tứ tuyệt đời Đường” của Nguyễn Sĩ Đại [25]... đã có những cách hiểu có
khả năng bao quát các trường hợp phá cách của thơ tứ tuyệt. Đặc biệt, tác giả Nguyễn Sĩ
Đại đề xuất một cách hiểu khá rộng: “Tứ tuyệt trước hết là một bài thơ bốn câu, không nhất
thiết ngũ ngôn hay thất ngôn, không nhất thiết phải có niêm luật chặt chẽ” [25, tr. 4].
Vấn đề thứ hai là sự tồn tại của hai cách hiểu khác nhau về chữ “Tuyệt”:
- Quan niệm thứ nhất cho rằng: “Tuyệt” là dứt, ngắt, cắt:
Theo tác giả Nguyễn Sĩ Đại, ở Trung Quốc, ngay từ thời Minh Thanh, những học giả
như Ngô Nột, Truyền Nhữ Bảng, Tiền Mộc Am,.. đều xem tuyệt cú là thể thơ “tiệt luật thi
chi bán” (Nửa bài cắt ra từ luật thi) [25].
“Từ Hải từ điển” cũng có một định nghĩa tương tự nhưng thận trọng hơn: “Hữu nhân
thuyết tuyệt thi thị tiệt thủ luật thi đích nhất bán nhi thành” (Có người nói tuyệt thi là do cắt
nửa bài luật thi mà thành) [127, tr. 9]
Footer Page 22 of 166.
22
Footer Page 23 of 166.
23
Header Page 24 of 166.
Tác giả Lạc Nam Phan Văn Nhiễm định nghĩa: “Thơ bốn câu gọi là tứ tuyệt... tức bài
thơ hay tuyệt vời” [77, tr. 106]
Tác giả Nguyễn Xuân Nam trong “Thơ, tìm hiểu và thưởng thức” cũng xem tính chất
tuyệt diệu, tuyệt vời như một phẩm chất nổi bật của bài thơ tứ tuyệt: “Bút pháp nghệ thuật
thơ tứ tuyệt là dồn nén trong khuôn khổ ngôn từ tinh tế nhất một tứ thơ mới lạ, độc đáo, tạo
sức hấp dẫn của ý ở ngoài lời và chính cái không nói ra lời ấy mới chính là cái đáng kể nhất,
ý vị nhất của thơ tứ tuyệt” [76, tr. 175].
Tác giả Quách Tấn, trong “Thi pháp thơ Đường”, cũng nhấn mạnh: “Tuy có bốn câu
nhưng ý tứ phải sung mãn như tám câu thì mới xứng danh là Tuyệt cú, là Tứ tuyệt. Bởi
Tuyệt vừa có nghĩa là Tiệt (cắt) vừa có nghĩa là Tuyệt diệu” [121, tr. 76].
Ngoại trừ những ý kiến khẳng định dứt khoát, một số tác giá khác vẫn còn dè dặt trong
cách hiểu “tuyệt” là tuyệt diệu, tuyệt vời dù, trong khi lý giải những đặc điểm nghệ thuật
của bài thơ tứ tuyệt, vô hình trung, họ đã thừa nhận sự “tuyệt vời” trong tất cả các phương
diện hình thức của thể thơ nhằm đạt tới tính “hàm súc cao nhất” (Đoàn Thị Thu Vân) và một
“cấu trúc đa chiều vừa đủ sức phản ánh hiện thực vừa mang tính khái quát cao” (Nguyễn Sĩ
Đại).
Cách hiểu này hợp lý hơn khi xem bài thơ tứ tuyệt là một chỉnh thể độc lập, hoàn hảo
về cấu trúc chứ không phải là kết quả của sự cắt ra từ bài bát cú. Khi đứng độc lập với tư
cách là một thể thơ nhỏ gọn nhất trong các thể thơ được sử dụng ở Trung Quốc từ đời
Đường về sau và ở Việt Nam thời trung đại, bắt buộc tứ tuyệt phải là sự tinh lọc tối đa hình
ảnh và cảm xúc, phải dồn nén được toàn bộ tài năng và tâm lực của nhà thơ sao cho bài thơ
nhỏ gọn ấy có thể chuyển tải được những vấn đề lớn lao, đa dạng, sâu xa của đời sống và
tâm linh. Muốn vậy, mỗi câu, mỗi chữ cần phải có sức nặng, phải thật sự “tuyệt vời”.
hạn định số câu, có thể ít nhất là hai hoặc bốn câu, hoặc sáu, tám, mười câu hoặc nữa là rất
nhiều câu... Tuy nhiên, thể thơ cổ phong phổ biến nhất là thể bốn câu, tám câu và thể hành”.
Cuối cùng, ông khẳng định: “Có ý kiến cho rằng thơ tuyệt cú là một thể hoàn chỉnh tự nó và
nó hình thành trước thể bát cú. Ý kiến này xác đáng hơn” [85, tr. 299].
Cuốn “Một số đặc trưng nghệ thuật của thơ tứ tuyệt đời Đường” [25] đã tập hợp được
nhiều cứ liệu khoa học để khẳng định rằng tuyệt cú đã có mầm mống ngay từ trong Kinh
Thi và dân ca thời Lục Triều. Theo tác giả Nguyễn Sĩ Đại, tên gọi “Tuyệt cú” xuất phát từ
tên gọi “Liên cú’
hai câu đối nhau gọi là nhất liên, tức lối làm thơ có hai người
trở lên, mỗi người đọc một câu. Lối làm thơ này rất thịnh hành ở đời Lưỡng Tấn, Lục Triều.
Và như vậy, chữ “Tuyệt”, theo tác giả, “Có lẽ chỉ việc cắt ra từ liên cú, sự dừng lại ở bốn
câu với ý nghĩa trọn vẹn”.
Tác giả Nguyễn Khắc Phi, trong bài viết “Về khái niệm tứ tuyệt”, phân tích cụ thể
hơn: “Khái niệm tuyệt cú, thoạt đầu đưa ra không phải để phân biệt với bát cú mà là để khu
Footer Page 25 of 166.
25