QUAN NIỆM NGHỆ THUẬT VỀ CON NGƯỜI TRONG VĂN HỌC
VIỆT NAM TỪ CÁCH MẠNG THÁNG 8/1945 ĐẾN NAY
LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Quan niệm nghệ thuật về con người là một phạm trù rất quan trọng, được
nhắc đi nhắc lại nhiều lần trong thi pháp học. Mặc dù hiện nay, khái niệm
này chưa được các nhà nghiên cứu định nghĩa một cách thống nhất và chặt
chẽ, nhưng nó đã phần nào gợi mở cho chúng ta hướng đến đối tượng chủ
yếu của văn học. Theo đó, “Văn học nghệ thuật là một sự ý thức về đời
sống, nên nó mang tính chất quan niệm rất cụ thể” và “Hình tượng nghệ
thuật một khi đã hình thành là mang tính chất quan niệm, ngay cả vô thức
cũng là quan niệm về cái vô thức. Nhà văn không thể miêu tả đối tượng mà
không có quan niệm về đối tượng”[4;23]. Có thể khẳng định, quan niệm
chính là một phương tiện thiết yếu của sáng tạo nghệ thuật. Do vậy, tìm
hiểu quan niệm nghệ thuật về con người trong văn học trung đại nói riêng
và văn học Việt Nam nói chung, chính là bước đi thiết thực để đến với
chiều sâu của các tác phẩm, của các giai đoạn văn học.
NỘI DUNG
I.
Quan niệm về con người trong văn học
Macxim Gorki đã từng khẳng định: “Văn học là nhân học”. Đó là nghệ
thuật miêu tả, biểu hiện con người. Do vậy, con người chính là đối tượng
chủ yếu của văn học. Dù miêu tả thần linh, ma quỉ, đồ vật, hoặc đơn giản là
miêu tả các nhân vật, văn học đều nhằm mục đích miêu tả và thể
hiện vào con người.
Thực tế cho thấy, không có một tác phẩm, một tác giả hay một nền
văn học nào lại chỉ đơn thuần nói về thiên nhiên mà không liên quan đến
1
cách cắt nghĩa, lí giải tầm hiểu biết, tầm đánh giá, tầm trí tuệ, tầm nhìn,
2
tầm cảm của nhà văn về con người được thể hiện trong tác phẩm của
mình”[5;15]. Tức, quan niệm nghệ thuật về con người sẽ đi vàophân tích,
mổ xẻ đối tượng con người đã được hóa thân thành các nguyên tắc,
phương tiện, biện pháp thể hiện con người trong văn học của tác giả, từ
đó, tạo nên giá trị nghệ thuật và thẩm mỹ cho các hình tượng nhân vật
trong đó. Vì vậy, chúng ta sẽ thấy được giá trị của hình tượng nghệ thuật
trong các tác phẩm.
Giáo sư Huỳnh Như Phương cũng góp tiếng nói của mình bằng
một cách nhìn khá bao quát: “Quan niệm nghệ thuật về con người thể hiện
tầm nhìn của nhà văn và chiều sâu triết lí của tác phẩm”.
Cũng với vấn đề về quan niệm nghệ thuật về con người, Từ điển Thuật
ngữ văn học định nghĩa như sau: “Quan niệm nghệ thuật về con người là
hình thức bên trong, là hệ quy chiếu ẩn chìm trong hình thức tác phẩm.
Nó gắn với các phạm trù khác như phương pháp sáng tác, phong cách
của nhà văn, làm thành thước đo của hình thức văn học và cơ sở của tư
duy nghệ thuật.”
Nhìn chung, tuy khác nhau về cách diễn đạt nhưng những khái
niệm trên đều nói lên được cái cốt lõi của vấn đề quan niệm nghệ thuật về
con người. Từ đó, chúng ta có thể đi đến khái quát cách hiểu quan niệm
nghệ thuật về con người như sau:
Quan niệm nghệ thuật về con người được hiểu là cách nhìn, cách cảm,
cách nghĩ, cách cắt nghĩa lí giải về con người của nhà văn. Đó là quan
niệm mà nhà văn thể hiện trong từng tác phẩm. Quan niệm ấy bao giờ cũng
gắn liền với cách cảm thụ và biểu hiện chủ quan sáng tạo của chủ thể, ngay
cả khi miêu tả con người giống hay không giống so với đối tượng.
Như vậy, vì trung tâm của văn học là con người nên con người cũng chính
thời kì nhỏ của sự phát triển văn học trong giai đoạn này, cụ thể là qua ba
chặng đường: 1945 - 1954; 1954 - 1964 và 1964 - 1975. Sau 1975, quan niệm
nghệ thuật về con người có sự đổi mới mạnh mẽ.
4
Dưới đây, chúng tôi sẽ lần lượt tìm hiểu quan niệm về con người trong
từng chặng đường ấy và cố gắng chỉ ra những đặc điểm như là những nguyên
tắc lớn của sự thể hiện con người trong văn học của từng chặng đường.
II.
Quan niệm nghệ thuật về con người trong văn học từ 1945 1975:
1.Quan niệm nghệ thuật về con người trong văn học Việt Nam
giai đoạn 1945 - 1954
Cách mạng đã đem lại những biến đổi kỳ diệu cho con người Việt
Nam. Đó không chỉ là người nô lệ thành người tự do của một nước Việt Nam
độc lập, mà còn tập hợp, liên kết mọi con người trong một cộng đồng dân tộc,
trong các đoàn thể, tạo nên sức mạnh to lớn của dân tộc và nhân dân, đặt mỗi
con người vào trong cộng đồng, sống với đời sống chung của dân tộc và đất
nước, trong dòng chảy xiết của lịch sử, thức tỉnh ở mỗi con người ý thức công
dân và tinh thần dân tộc tiềm tàng. Nhà văn là một công dân đồng thời với sự
nhạy cảm của người nghệ sĩ, đã cảm nhận được điều biến đổi lớn lao ấy. Cách
mạng tháng Tám, rồi kháng chiến đã đem lại cho nhà văn sự phát hiện lớn lao:
Phát hiện ra sức mạnh quật khởi của dân tộc và con người Việt Nam hiện ra
trong một vẻ đẹp mới lạ của đời sống cộng đồng. Nguyễn Đình Thi viết:
"Chúng ta đã tìm thấy bao trùm trên chúng ta, bao trùm làng xóm, gia đình
chúng ta một cái gì lớn lao chung ấy là dân tộc" (Nhận đường: Tạp chí văn
nghệ số 1/1948). Còn Hoài Thanh thì nhận thấy: Thực đẹp đẽ vô cùng cái
chuyển biến theo hướng thống nhất giữa quan điểm trần thuật của tác giả và
nhân vật quần chúng, giữa hình tượng tác giả - người kể chuyện và hình tượng
quần chúng. Văn xuôi kháng chiến đã tìm thấy cách trần thuật từ quan điểm
của chính nhân vật quần chúng. Các sáng tác từ khoảng giữa cuộc kháng chiến
đã chuyển hẳn sang lối trần thuật khách quan từ điểm nhìn trần thuật của các
nhân vật quần chúng, hình tượng tác giả - người trần thuật hầu như không tồn
tại nữa, hoặc nếu có còn (chẳng hạn trong tập tùy bút Tình chiến dịch của
Nguyễn Tuân), thì cũng cố gắng nhập vào chỗ đứng và tâm trạng của đám
đông nhân vật quần chúng.
Cái mới mẻ trong sự thể hiện con người quần chúng của văn học thời kỳ
này trước hết là việc đưa vào trung tâm chú ý của văn học con người chính trị,
con người công dân. Cách mạng và kháng chiến đã thức tỉnh ý thức công dân,
7
tinh thần yêu nước, ý thức giai cấp của quần chúng lôi cuốn, tập hợp đông đảo
quần chúng vào trong cái tổ chức chính trị, các đoàn thể quần chúng xung
quanh Đảng. Con người của gia đình, gia tộc, làng xóm đã thành con người
của dân tộc, giai cấp cả đời sống cộng đồng. Từ em nhi đồng, chị phụ nữ, đến
các cụ phụ lão đều được tập trung trong các đoàn thể của mình. Việc đưa lên
hàng đầu con người chính trị, con người công dân đã khiến cho văn học thời
kỳ này tập trung thể hiện những nét tâm lý chung của quần chúng như lòng
yêu nước, căm thù giăc, tình nghĩa đồng bào, tình cảm tiền tuyến hậu phương,
ý thức giai cấp, sự ham thích đời sống tập thể, sinh hoạt chính trị,…. Em nhỏ
đi liên lạc thấy " vui lắm chú à, ở đồn Mang cá, thích hơn ở nhà"
(Lượm Tố Hữu). Chị phụ nữ nông dân ý thức về trách nhiệm công dân của
mình, hăng hái đi "phá đường" dù việc nhà bộn bề (Phá đường Tố Hữu). Anh
thanh niên làng vác bó tre đi cản giới địch say sưa, đọc thuộc lòng bài "Ba giai
đoạn" kháng chiến "Đôi mắt Nam Cao). Người nông dân phải xa làng đi tản
cư, thấy đau xót, tủi hổ khi nghe tin làng mình lập tế theo giặc và lại vui mừng
ngoại. Thế giới nội tâm tuy không phải là bị bỏ qua nhưng không được chú ý
khai thác và đời sống nội tâm cũng hầu như không có, những diễn biến phức
tạp, những quá trình tâm lý riêng biệt. Các tác phẩm thường chỉ thể hiện
những nét tâm lý tiêu biểu của quần chúng, của tập thể hơn là đi vào những
biểu hiện riêng biệt của mỗi cá nhân. Các quá trình tâm lý nếu có được miêu tả
thì cũng không được quy vào một số típ đặc trưng như từ ngộ nhận đến thức
tỉnh, từ căm thù đến hành động, từ giác ngộ thấp đến giác ngộ cao hơn v.v…
Vợ chồng A Phủ là một trường hợp hiếm hoi mà các quá trình tâm lý của nhân
vật đã được tập trung soi rọi nhưng cũng không ra ngoài các mô típ tiêu biểu
như trên và sự miêu tả quá trình tâm lý của nhân vật chủ yếu chưa nhằm khắc
họa cá tính mà là bộc lộ quy luật chung của sự phản kháng và sức sống tiềm
tàng của quần chúng lao động bị áp bức.
Nhìn chung, con người trong văn học kháng chiến ít có những dằn vặt,
suy tư, giằng xé nội tậm. Họ thường là những con người trong sáng dứt khoát,
toàn tâm vì sự nghiệp chung, hòa mình trong tập thể. ở các nhân vật chính
diện của văn học thời kỳ này, mối quan hệ riêng - chung thường rất dễ dàng
10
được giải quyết theo hướng gác tình riêng vì sự nghiệp chung và hòa nhập
những tình cảm riêng trong những tình nghĩa chung như Thăm lúa của Trần
Hữu Thung, Cá nước, Bầm ơi của Tố Hữu.
Nhìn chung, trong văn học 1945 - 1954 hầu như chưa có những nhân
vật được xây dựng với cá tính rõ nét, với quá trình tâm lý cụ thể riêng biệt.
Nhưng như thế hoàn toàn không có nghĩa là văn học thời kỳ này đã không thể
hiện được con người của thời đại ấy. Với sự phát hiện con người quần chúng,
con người tập thể, với sự chú trọng làm nổi bật con người công dân và con
người hành động, văn học Việt Nam 1945-1954 đã đem lại một kiểu người
mới mẻ chưa từng có trước đó, phản ánh khá chân thực con người Việt Nam
của thời đại vươn mình, giải phóng, hồi sinh dưới ánh sáng của cách mạng và
con người tập thể, chưa chú ý đến việc xây dựng những tính cách riêng, nhân
vật chưa tách ra khỏi đám đông mà hòa tan trong tập thể. Văn học những năm
hòa bình đã chú ý đến các tính cách cá nhân và ngày càng coi trọng giá trị của
điển hình. Trong một số tác phẩm, nhất là ở đề tài về kháng chiến chống Pháp
và để tài cách mạng, đã xuất hiện những nhân vật được xem như những điển
hình văn học của thời kỳ này. Có thể kể đến Núp trong Đất nước đứng lên
của Nguyên Ngọc, chị Tư Hậu trong Một chuyện chép ở bệnh viện của Bùi
Đức ái, Khắc trong Vỡ bờ của Nguyễn Đình Thi…Nhìn chung, trong tiểu
thuyết lúc này, nhân vật đã có một dáng dấp riêng, một bề dày về đời sống nội
tâm, một quá trình vận động, biến đổi của số phận và tính cách qua những
biến cố xã hội - lịch sử. Văn xuôi thời kỳ này quan tâm tái hiện những biến bố
lịch sử trọng yếu, những hiện trạng xã hội rộng lớn theo khuynh hướng tiểu
thuyết - sử thi, nhưng cũng không coi nhẹ việc xây dựng nhân vật sáng tạo
điển hình. Các nhân vật được xem là thành công, trong văn học thời kỳ này
đều được xây dựng theo hướng tập trung, khái quát những nét tiêu biểu của số
phận, tính cách của tầng lớp giai cấp của họ, hoặc rộng hơn, mang ý nghĩa tiêu
biểu cho dân tộc, cho số phận của nhân dân (như trường hợp Đất nước đứng
lên của Nguyên Ngọc và những nhân vật trữ tình trong thơ Tố Hữu như chị
Trần Thị Lý trong Người con gái Việt Nam, Mẹ Tơm trong bài thơ cùng tên).
12
Việc không phân biệt rõ, thậm chí đồng nhất điển hình xã hội với điển hình
văn học đã dẫn đến tình trạng nhiều nhân vật văn học thiếu cá tính sinh động,
chưa vượt qua những nét chung nhất của bản chất một tầng lớp xã hội hay giai
cấp, không mang được tính nhân loại phổ quát.
Nét đặc trưng cơ bản trong quan niệm con người của văn học thời kỳ
này là con người trong sự thống nhất riêng - chung. Trong văn học kháng
chiến chống Pháp, hầu như chưa đặt vấn đề cái riêng của con người, hoặc nếu
có nói đến cuộc sống riêng, số phận của một cá nhân nào đó thì cũng là để cụ
nghĩ lựa chọn gì như con người trong thời đầu cách mạng và kháng chiến.
Nhiều tác phẩm viết về nông thôn ở khoảng trước năm 1960 thường
xoay quanh vấn đề "vào - ra" hợp tác xã. Lựa chọn con đường làm ăn tập thể
được xem là tiêu chuẩn hàng đầu của cái mới, cái tiên tiến. Lớp người già
thường bị xem như nặng đầu óc bảo thủ, chậm tiếp nhận cái mới và lớp trẻ
được coi là đại diện cho cái mới, cho tư tưởng xã hội chủ nghĩa ở nôn thôn
(Cái sân gạch và Vụ lúa chiêm của Đào Vũ…). Sau năm 1960, khi phong trào
hợp tác hóa đã căn bản hoàn thành, các tác phẩm viết về nông thôn lại nêu lên
vấn đề "riêng-chung" này trong những hình thức đấu tranh mới, nhưng quan
niệm xã hội và thẩm mỹ về cơ bản vẫn không có gì thay đổi. Nguyễn Khải
trong một loạt truyện vừa viết về nông thôn hợp tác hóa (Tầm nhìn xa, Người
trở về, Gia đình lớn) rất có tiếng vang lúc ấy, đã phát hiện những vấn đề xã
hội ở nông thôn sau hợp tác hóa- chẳng hạn vấn đề đội ngũ cán bộ nông thôn,
vấn đề tư tưởng tư lợi và phường hội của người nông dân khi đã vào hợp tác
xã, vấn đề mâu thuẫn giữa lợi ích của tập thể nhỏ và tập thể lớn là toàn xã hộinhưng cách lý giải và giải quyết của nhà văn thì vẫn không vượt ra ngoài
những quan niệm chung, nhận thức chung lúc bấy giờ, như phải biết hy sinh
những lợi ích riêng cho lợi ích chung, phải có "tầm nhìn xa" không để cho mối
lợi trước mắt nó cản trở, níu kéo mình…..Những nhân vật cán bộ nông thôn
được xây dựng trong văn học lúc này như những mẫu người tiêu biểu, tích cực
thường là những con người chịu hy sinh lợi ích riêng, có một cuộc sống gia
14
đình nghèo khó, vợ con nheo nhóc vì họ không thể chăm lo cho gia đình riêng
mà toàn tâm dành cho công việc chung, lợi ích tập thể: Ví dụ: anh chủ nhiệm
trong thơ của Hoàng Trung Thông đến anh Biên trong Tầm nhìn xa, Năm
trong Gia đình lớn của Nguyễn Khải.
Một hướng khẳng định sự thống nhất riêng - chung trong văn học lúc
này là thể hiện những cuộc đổi đời của con người trong xã hội mới, miêu tả
sự biến đổi số phận và tính cách nhân vậttrong hoàn cảnh xã hội tốt đẹp, trong
diện cho những phẩm chất, cho số phận và con đường của giai cấp ( Núp trong
Đất nước đứng lên – Nguyên Ngọc, các hình tượng trong thơ Tố Hữu). Trong
văn học 10 năm chống Mỹ tiếp theo, kiểu nhân vật thứ 2 được đặc biệt phát
triển trở thành những nhân vật mang đậm tính sử thi.
Trong quan niệm về con ngườ thời kì này, mặc dù sự thống nhất riêng –
chung có thể xem là một bước tiến so với quan niệm về con người tập thể,
hoàn toàn hòa tan trong tập thể của văn học kháng chiến. Nhưng nhìn chung,
sự thống nhất này chưa phải được quan niệm trong tính biện chứng và đa
dạng. Nhiều trường hợp còn đơn giản, còn tuyệt đối hóa cái chung và vai trò
tập thể trong một mô tip đi từ cái riêng đến cái chung, từ cô đơn đến chan hòa
tập thể như một giải pháp toàn năng để giải quyết mọi cảnh ngộ số phận con
người.
3. Quan niệm nghệ thuật về con người trong văn học mười năm
kháng chiến chống Mỹ (1965 -1975)
Trong những năm tháng chống Mỹ, đất nước và con người Việt Nam đã
sống những năm đau thương, dữ dội những cũng hào hùng chói lọi nhất. Bước
vào cuộc kháng chiến chống Mỹ, quan niệm nghệ thuật về con người vẫn tiếp
tục quan niệm về con người trong văn học 20 năm trước đónhuwng được phát
triển tập trung vào mộ hướng lớn và đi tới đỉnh cao của nó là quan niệm con
người sử thi. Biểu hiện:
Con người trong văn học chống Mỹ vẫn được khai thác trên phương
diện con người chính trị, cong người công dân, nhưng mỗi cá nhân được thể
16
hiện như là biểu hiện tập trung của ý chí khát vọng và sức mạnh của cộng
đồng dân tộc, thậm chí của thời đại của nhân loại. Con người trong văn học
chống Mỹ thường thể hiện ý thức công dân, nhận thức chính trị một cách hồn
nhiên, còn trong văn học chống mỹ con người được nhấn mạnh về tầm vóc tư
tưởng và ý thức chính trị. Đó là con người có ý tưởng độc lập tự do và chủ
và lối giải thoát của cuộc sống mới do cách mạng mang lại ( Bài ca xuân 61 –
Tố Hữu; Các vị La Hán chùa Tây Phương – Huy Cận)
Con người mang tính sử thi được nhìn nhận như là sự kết tinh của quê
hương đất nước và gắn bó sâu nặng với quê hương, đất đai quê hương đã hóa
thân vào mỗi con người, vàcon người cũng hóa thân làm nên quê hương đất
nước ( Đất nước – trích trường ca Mặt đường khát vọng – Nguyễn Khoa
Điềm)
Từ quan niệm về con người toàn vẹn, văn học chống Mỹ chú trọng mô
tả con người ở các phương diện ý thức, tư tưởng, ý chí niềm tin và hành động
anh hùng đồng thời cũng rất chú ý khắc họa đời sống tình cảm, vẻ đẹp tâm
hồn con người. Lòng nhân ái, tình thương, ân nghĩa được khắc họa như là sự
đối lập, vươn lên và chiến thắng sự tàn bạo hủy diệt của chiến tranh xâm lược.
Thế giới tình cảm của con người thời kỳ này được khai thác ở nhiều mặt
nhưng nổi lên và bao trùm vẫn là những tình cảm cộng đồng, tình quê hương,
đất nước nhưng không thiếu những tình cảm riêng như tình yêu đôi lứa.Đây là
bước tiến so với văn học chống Pháp. Khai thác tình cảm cá nhânvà đời sống
nội tâm con người là cách để văn học chống Mỹ làm nổi bật vẻ đẹp tâm hồn,
sự thống nhất giữa cái riêng và cái chung, lý tưởng và tình cảm.
Từ quan niệm về con người quần chúng trong văn học thời chống Pháp,
văn học thời chống Mỹ đã vươn tới những hình tượng tập thể, xây dựng hình
tượng nhân dân với những thành công đáng kể. Nhìn chung, văn học thời
chống Mỹ đã sáng tạo những hình tượng con người mang được dấu ấn, tầm
vóc tư tưởng và ý chí của thời đại. Con người sử thi trong văn học thời kì này
với 2 phương diện nổi bật là chủ nghĩa anh hùng và vẻ đẹp tâm hồnlà đóng
18
góp lớn của văn học vào việc khám phá và thể hiện con người, đè cao sức
mạnh của con người Việt Nam.
Nhìn chung, văn học 1945 -1975 đã đi qua một gia đoạn đầy biến động
23