TÍNH HIỆN đại và LỊCH sử lý LUẬN PHÊ BÌNH văn học VIỆT NAM THẾ kỷ XX - Pdf 24

TÍNH HIỆN ĐẠI VÀ LỊCH SỬ
LÝ LUẬN PHÊ BÌNH VĂN HỌC VIỆT NAM
THẾ KỈ XX

Lý luận văn học Việt Nam thế kỉ XX là một bộ phận không tách
rời của văn học dân tộc, đồng thời cũng không tách rời với các trào
lưu lý luận văn học thế giới, bởi quá trình hình thành, phát triển của
nó gắn liền với quá trình tự ý thức của văn học trong suốt thế kỉ qua
và đang bước vào thế kỉ XXI. Đánh giá quá trình lý luận văn học ấy
như thế nào, theo phương pháp nào, tiêu chí nào là một vấn đề có ý
nghĩa bức thiết. Lý luận ấy phát triển tất nhiên không phải chỉ do bản
thân nó và nhu cầu của văn học dân tộc mà còn do lịch sử xã hội,
quan hệ giao lưu quốc tế, bởi vì đó là những nhân tố quy định sự lựa
chọn, phương hướng, tính chất, hình thái của lý luận văn học ấy. Từ
trước đến nay chúng ta nhìn nhận sự phát triển của lý luận văn học
theo quan điểm ý thức hệ mác xít, coi đó là quá trình truyền bá lý
luận văn học mác xít vào Việt Nam, là quá trình đánh dẹp các lý
thuyết phong kiến, tư sản, xét lại… Tiến trình lý luận coi như sự phản
ánh quá trình đấu tranh giai cấp, đấu tranh ý thức hệ giữa lý luận văn
học mác xít vơi lý luận văn học phong kiến, tư sản để tiến lên theo
định hướng xã hội chủ nghĩa, với các tiêu chí như thực tiễn cách
mạng, tính chiến đấu, tính giai cấp, tính biện chứng, tính tiên phong,
quan hệ địch – ta, bức tranh lí luận không chỉ mang đậm màu sắc
đấu tranh chính trị, mà còn có thể có nguy cơ khái quát thiên lệch,
đem cái đặc thù làm cái phổ biến hoặc đem cái chính thống, quan
phương làm cái phổ biến. Chẳng hạn, nếu xem lịch sử lý luận văn học
Việt Nam thế kỉ XX là lịch sử truyền bá lý luận mác xít, là lịch sử
khẳng định vị trí độc tôn của nó và là lịch sử đấu tranh, phê phán tất
cả các thứ lý luận văn học phi mác xít, thì sẽ làm nghèo, làm méo bức
tranh phát triển thực tế của lý luận văn học. Đó là tình hình của một
số cuốn lịch sử lý luận văn học trước đây thiên về miêu tả các cuộc

Tính hiện đại là một phạm trù nhiều nghĩa
[2]
, có mâu thuẫn và có
nội hàm diển biến theo lịch sử. Tính hiện đại của xã hội như là trạng
thái chuyển biến về hình thái, từ xã hội trung đại sang hiện đại, từ tôn
giáo sang thế tục, từ quân quyền sang dân chủ, tự do; từ cát cứ sang
quốc gia dân tộc, từ dân tộc biệt lập sang giao lưu quốc tế. Tính hiện
đại có tính chất toàn cầu hoá. Tính hiện đại như một phạm trù văn
hoá bao gồm các thuộc tính như sùng thượng lí tính, khoa học, giải
phóng cái tôi, đề cao tính chủ thể. Tính hiện đại của văn học nóí
chung bao gồm sự đề cao tính thẩm mĩ, phân biệt với tính giáo huấn,
tính cộng cụ; đề cao tính tự chủ phân biệt với tính phụ thuộc; giải
phóng cá nhân với cái tôi chủ thể; đề cao nhận thức, sáng tạo, phân
biệt với việc sử dụng các hình thức có sẵn. Cần phân biệt tinh hiện đại
như là thuộc tính của trào lưu văn học hiện đại chủ nghĩa
[3]
với tính
hiện đại về văn học nói chung. Chủ nghĩa hiện đại bao gồm các thuộc
tính như tính hướng nội, tính phi lí, tính phi ngã, đề cao vô thức.
Trong lý luận văn học, tính hiện đại vừa bao hàm các nội dung của
một phạm trù văn hoá vừa bao hàm các nội dung thuộc phạm trù văn
học
[4]
. Bước phát triển mới của tính hiện đại là hậu hiện đại, một sự
hoài nghi, phản ứng lại đối với các quan niệm độc tôn, tuyệt đối hoá
các nguyên lý văn hoá, tư tưởng thành các “đại tự sự” đã nêu ra các
nguyên lý mới như phi lý tính, giải cấu trúc, vô trung tâm, phi bản
chất chủ nghĩa…Các nguyên lý này cũng có thể được xem như những
công cụ để “đặt lại vấn đề”trong phạm vi tính hiện đại. Phạm trù tính
hiện đại cũng biến đổi sâu sắc trong tiến trình lịch sử. Chẳng hạn về

bởi nó chống tư tưởng quốc gia quân chủ, xây dựng quốc gia độc lập,
dân chủ (bao gồm quan niệm của Đảng cộng sản là xây dựng quốc gia
dân chủ mới (“Đề cương văn hóa” năm 1943 gọi là “tân dân chủ”theo
quan niệm của Mao Trạch Đông), tiến lên chủ nghĩa xã hội. Tuy duới
thời trung đại văn học dân tộc đã được ý thức, song phải đến thế kỉ
XX chúng ta mới có ý niệm về văn học dân tộc Việt Nam, về lịch sử
văn học Việt Nam, mới quan tâm sưu tầm, phiên dịch, nghiên cứu,
phân loại, phân kì, mới có các vấn đề như văn học chữ Hán có phải là
bộ phận của văn học Việt Nam hay không, tính chất của văn học Việt
Nam qua các thời kì, vấn đề tính dân tộc, bản sắc văn hoá dân tộc của
văn học…
Nội dung thứ tư là tính tự chủ, thẩm mĩ của văn học. Thời cổ đại,
trung đại văn học chủ yếu được xem là công cụ giáo huấn đạo đức,
“văn dĩ tải đạo”. Vấn đề đặc trưng văn học nghệ thuật trên thế giới
mới bắt đầu được xem xét từ Kant, Schiller. Khái niệm văn học như
một nghệ thuật ngôn từ mang bản chất thẩm mĩ, ở phương Tây, theo
Wellek, Worren mới có từ 200 năm nay. Đi tìm đặc trưng văn học là
một nội dung tính hiện đại của lý luận văn học, các thời đại trước
người ta chưa ý thức rõ rệt vấn đề này. Gắn với vấn đề đặc trưng văn
học là các vấn đề về các thuộc tính thẩm mĩ của văn học, ngôn từ văn
học, tư duy văn học, hình thức văn học, các thể loại văn học, lý luận
sáng tác, tiếp nhận văn học, điển hình hoá, các trào lưu nghệ thuật,
phê bình văn học…
Nội dung thứ năm là nội dung văn học tức là con người, tư tưởng,
tình cảm trong văn học. Văn học hiện đại, tính từ thời Phục Hưng,
đặc biệt từ thế kỉ XVIII, đã làm thay đổi hẳn nội dung của văn học.
Gắn liền với vấn đề này là vấn đề con người cá nhân, cá tính, con
người cảm tính, tự nhiên, bản năng, vô thức, tính chủ thể, tính sáng
tạo trong văn học với các cách thức, phương pháp biểu hiện con
người khác nhau.

nhóm phái và cá nhân khác nhau. Trong điều kiện lịch sử lúc ấy nét
nổi bật là hình thành tinh thần dân tộc, ý thức quốc gia dân tộc trong
đa số trí thức Việt Nam. Các phong trào yêu nước đầu thế kỉ dấy lên
sau thất bại của phong trào Cần vương đã hun đúc tinh thần dân tộc
như một một biểu hiện của tính hiện đại. Tính dân tộc này khác về
chất so với ý thức dân tộc thời quân chủ. Các hoạt động sưu tầm,
phiên âm, phiên dịch về văn học cổ nước nhà, kỉ niệm Nguyễn Du
và Truyện Kiều, việc trình bày các thể loại văn học cổ, việc soạn văn
học sử Việt Nam… đều mang tinh thần và hình thái hiện đại, chưa
từng có trong truyền thống văn học phong kiến nhằm khẳng định sự
tồn tại của một quốc gia, dân tộc, tiếng nói và văn hoá dân tộc với
tình cảm mảnh liệt, thiêng liêng.
Việc giới thiệu, tiếp thu, vận dụng các lý thuyết văn học phương Tây
là một bộ phận lớn, thậm chí là cơ bản của lý luận văn học Việt Nam.
Có thể nói suốt cả thế kỉ XX người Việt Nam, mặc dù gặp nhiều hạn
chế và trở ngại, song vẫn nổ lực theo dõi, giới thiệu và phần nào vận
dụng các lý thuyết hiện đại vào đời sống văn học của mình. Lý luận
mác xít đã có truyền thống không chỉ ở Hải Triều, Đặng Thai Mai, mà
còn có ở Trương Tửu, Lương Đức Thiệp. Lý luận phân tâm học bắt
đầu từ Nguyễn Văn Hanh, Trương Tửu trước 1945 đến Đàm Quang
Thiện trước năm1975, rồi Đỗ Lai Thuý những năm gần đây.
Việc giới thiệu các tư tưởng và văn học phương Tây, giới thiệu văn
học cổ Việt Nam, nghiên cứu Truyện Kiều, cổ xuý văn xuôi quốc ngữ
ở tạp chí Nam Phong là đi theo tiếng gọi của tính hiện đại. Quan
niệm văn học của Phạm Quỳnh, Phạm Duy Tốn chủ yếu thể hiện ở
tinh thần thực dụng nhưng lại mâu thuẫn với tính thẩm mỹ của văn
học, gây nên sự phê phán của Thiếu Sơn. Cuộc xung đột giữa cụ nghè
Ngô Đức Kế với hoạt động kỉ niệm, đề caoTruyện Kiều thể hiện sự
mâu thuẫn giữa hai khuynh hướng về ý thức dân tộc. Ở Tản Đà tính
hiện đại thể hiện ở ý thức tự biểu hiện, giải phóng cá tính.

kém hóc búa là vấn đề mối quan hệ văn học và chính trị. Văn học có
phải là vũ khí của chính trị, là phương tiện của chính trị với tư cách là
một hình thái ý thức xã hội hay không? Quan niệm phổ biến ngày
nay ở phuơng Tây là xem văn học tự thân như một hình thái ý thức
xã hội, văn học có ý thức xã hội của nó. M. Bakhtin cũng xem văn học
là kí hiệu của ý thức hệ. Quan niệm đó không hạn chế tự do của văn
học, không làm mất tính tự chủ của nó và không gây phản ứng trong
giới học thuật. Trái lại ở các nước xã hội chủ nghĩa trước đây và ngày
nay quan niệm xem văn nghệ là hình thái ý thức xã hội lại gây nhiều
tranh cãi. Đó là vì nhu cầu biến văn học thành công cụ, vũ khí để
truyền bá cho một ý thức xã hội của nhà nước được quy định sẵn, một
thế giới quan định sẵn đã làm mất đi cái ý thức xã hội vốn có của văn
học và cũng làm mất đi tự do của sáng tạo. Do đó vấn đề không phải
là văn học có hay không có tính chất của hình thái ý thức xã hội, mà
là quan niệm về tính chất hình thái ý thức xã hội ấy như thế nào.
Cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc là sứ mạng lịch sử của dân tộc Việt
Nam thế kỉ XX. Sự chuyển giao lá cờ cứu nước từ các nhà văn thân
sang các nhà cách mạng tư sản, rồi cuối cùng lá cờ ấy được trao vào
tay các nhà cách mạng vô sản mà đảng Cộng sản Việt Nam là đại diện
đã làm cho quan niệm mác xít thắng thế, trở thành tư tưởng chủ đạo,
độc tôn và đã đưa văn học cùng lí luận phát triển theo hướng tính
hiện đại của lí luận văn học mác xít.
Lí luận văn học mác xít Việt Nam hình thành dần dần trong quá
trình phát triển. Từ những ý kiến ban đầu của Hải Triều đến Đề
cương văn hoá Việt Nam năm 1943, rồi các bài báo giải thích, bản
báo cáo của Trường Chinh năm 1948 quan niệm được rõ dần. Đó là
quan niệm xem văn học là một hình thái ý thức hệ thuộc thượng tầng
kiến trúc, là vũ khí đấu tranh cho sự nghiệp giải phóng dân tộc và
tiến bộ xã hội theo quan điểm của Đảng cộng sản. Quan niệm này lúc
đầu được phát biểu tóm tắt, rõ ràng chịu ảnh hưởng trực tiếp của bài

Xem văn học như hình thái ý thức xã hội là một quan niệm hiện đại,
xuất phát từ một học thuyết của khoa chính trị kinh tế học, nhưng
xem văn học là công cụ của đấu tranh giai cấp, giải phóng dân tộc,
một vũ khí tuyên tuyền cách mạng, thì tuy đáp ứng nhu cầu thực tế,
song lại là sự tiếp tục quan niệm “văn dĩ tải đạo” của truyền thống
nho giáo. Quan niệm đó hàm chứa một mâu thuẫn chưa được giải
quyết về chức năng xã hội và tính tự chủ của văn học, gieo cái mầm
cho nhiếu cuộc tranh luận về văn nghệ trong suốt trăm năm.
Lý luận về nội dung văn học xuất phát từ lí thuyết hình thái ý thức xã
hội chủ đạo là phản ánh cái hiện thực phù hợp với hệ tư tưởng của
Đảng. Tư tưởng ấy nếu trong thời kì chiến tranh giải phóng dân tộc
còn có khả năng phát huy tác dụng thì đến sau chiến tranh trở thành
trở ngại cho sự phát triển của văn học mà đến thời “Đổi mới” đã được
hoá giải bằng khẩu hiệu “cởi trói” do ông Tổng bí thư Nguyễn Văn
Linh nêu ra.
Cuộc “tranh đấu về học thuyết” và “tranh đấu về tông phái” được đề
xuất từ 1943 và được thực hiện từ những năm 1948 -1949 trở đi ở
vùng tự do và ở miền Bắc Việt Nam sau 1954 đã làm cho việc tiếp
nhận các trường phái lý luận văn học, mỹ học hiện đại trên thế giới
gặp trở ngại. Các cuộc đấu tranh về ý thức hệ chống các khuynh
hướng lý luận và sáng tác tư sản và “xét lại” đã tạo ra những công
trình khoa học giả. Chẳng hạn, công trình Phê phán chủ nghĩa xét lại
hiện đại trong văn nghệ của GS. Hoàng Xuân Nhị hay công
trình Phê phán chủ nghĩa hiện sinh của GS. Đỗ Đức Hiểu, không có
sức thuyết phục ngay cả đối với chính tác giả của nó. Có một thời
chúng ta hầu như cấm tiếp nhận, vận dụng một số trường phái lí luận
phương Tây, như chủ nghĩa cấu trúc trong nghiên cứu văn học. Một
số công trình của Phan Ngọc nghiên cứu về thơ Đường, về Truyện
Kiều theo lối cấu trúc chủ nghĩa đã không thể công bố, phải sau
những năm 80 mới được công bố dưới tên gọi “thao tác luận”, được

Việt Nam bị giới hạn bởi truyền thống, và do bị giới hạn bởi truyền
thống thì đó là một tính hiện đại yếu. Chừng nào nhu cầu đột phá
truyền thống thắng thế thì Việt Nam mới thật sự có tính hiện đại, bởi
lúc đó mới thật sự có linh hồn của tính hiện đại.
Nhìn lại lý luận văn học Việt Nam thế kỉ XX theo tiêu chí tính hiện
đại nghĩa là khắc phục cái nhìn theo tiêu chí chính trị thuần tuý, hẹp
hòi, mà phải nhìn trong viễn cảnh phát triển lý luận của thòi kì hội
nhập, toàn cầu hoá tri thức. Nó không chỉ cung cấp một mặt bằng
mới để đánh giá các thành tựu và nhược điểm của chuyên ngành
trong thời đại giao lưu, hội nhập, mà còn cho phép so sánh sự phát
triển lý luận văn học Việt Nam trong tương quan với lý luận văn học
thế giới nói chung và với một số nước phát triển trong lĩnh vực này
nói riêng. Những nhận thức ấy sẽ góp phần định hướng con đường
tiếp theo của lý luận văn học Việt Nam trong thế kỉ mới.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status