Ảnh hưởng phương Tây đến lý
luận - phê bình văn học đô thị
miền Nam 1954-1975
. Trong đội ngũ những nhà lý luận - phê bình văn học ở đô thị miền Nam , có thể
nói Nguyễn Văn Trung là một trong những nhà lý luận - phê bình văn học "có tầm ảnh
hưởng lớn"
(5)
. Bởi theo Nguyễn Trọng Văn ông là người "có công trong việc giới thiệu
những trào lưu tư tưởng mới của phương Tây với độc giả Việt Nam. Những triết gia,
những tư tưởng gia, những văn nghệ sĩ cùng những chuyển biến văn học, triết học quan
trọng ở ngoại quốc thường được ông trình bày, giới thiệu một cách gọn gàng, mạch
lạc"
(6)
. Vì thế, theo chúng tôi, dù nền lý luận - phê bình văn học ở đô thị miền Nam
1954-1975 không có những nhà lý luận - phê bình chuyên nghiệp đúng nghĩa như Hoài
Thanh, Vũ Ngọc Phan giai đoạn văn học 1930-1945, nhưng vẫn là một nền lý luận - phê
bình mang tính chuyên nghiệp cả trong nội dung và hình thức hoạt động.
Chính vì vậy, chỉ trong hai mươi năm, lý luận - phê bình văn học ở đô thị miền
Nam từ những bước đi ban đầu mang tính khai phá ở giai đoạn 1954-1963 với những bài
điểm sách, điểm tình hình thời sự văn học và những cuộc trao đổi, thảo luận về một số vấn
đề lý luận - phê bình như: “Nhân vật trong tiểu thuyết”, “Nói chuyện về thơ bây giờ”,
“Nhìn lại văn nghệ tiền chiến ở Việt Nam” trên tạp chí Sáng tạo (1960); phỏng vấn các
nhà văn quan niệm "về truyện ngắn", "về sáng tác" trên tạp chí Bách khoa (1961) của
Nguyễn Ngu Í cũng như việc giới thiệu một số trào lưu tư tưởng phương Tây mà chủ
yếu là chủ nghĩa hiện sinh như: "Vấn đề giải thoát con người trong Phật giáo và Tư tưởng
Hegel và Husserl” (Tư tưởng số4,5/1968); “Triết học hiện sinh và chính trị” của Trần
Thái Đỉnh (Bách khoa số 264/1968); “Sartre trong đời sống” của Nguyễn Văn Trung
(Bách khoa số 267-268/1968); “Samuel Beckett và thẩm quyền của ngôn ngữ” của
Huỳnh Phan Anh (Khởi hànhsố 29/1969); “Nietzsche và Mật Tông” của Ngô Trọng Anh
(Tư tưởng số 5/1970); “Phê bình mới, phê bình cũ” của Nguyễn Văn Trung (Bách
khoa số 381/1972) Và rất nhiều công trình lý luận - phê bình văn học có giá trị
như Nguồn nước ẩn của Hồ Xuân Hương (1966), Vô Kỵ giữa chúng ta hay là hiện
tượng Kim Dung (1967) của Đỗ Long Vân; Xây dựng tác phẩm tiểu
thuyết (1965), Ngôn ngữ thân xác (1967), Lược khảo văn học 2 (1966), Lược khảo văn
học 3 (1968) của Nguyễn Văn Trung; Một bông hồng cho văn nghệ (1967) của Nguyên
Sa; Mấy vấn đề văn nghệ (1967) của Lữ Phương; Ý Văn 1 (1967), Văn nghệ và phê
bình (1969) của Tam Ích; Tạp bút -tiểu luận (1969) của Võ Phiến; Đọc lại truyện
Kiều(1966); Tìm hiểu văn nghệ (1970) của Vũ Hạnh; Vũ trụ thơ (1972) của Đặng
Tiến; Văn chương và kinh nghiệm hư vô(1968), Đi tìm tác phẩm văn
chương (1972), Duyên Anh tuổi trẻ mộng và thực (1972) của Huỳnh Phan Anh; Ý thức
mới trong văn nghệ và triết học (1970) của Phạm Công Thiện; Dư vang nghệ
thuật (1971) của Trần Nhựt Tân; Thơ Việt Nam hiện đại (1969), các nhà văn nữ Việt
Nam 1900-1970 (1973) của Uyên Thao; Mười khuôn mặt văn nghệ (1970), Mười
khuôn mặt văn nghệ hôm nay (1972) của Tạ Tỵ; Văn học và tiểu thuyết (1973) của
Doãn Quốc Sỹ; Thẩm mỹ học thông khảo (1974) của Nguyễn Văn Xung; Văn học và
ngữ học (1974) của Bùi Đức Tịnh; Triết học và văn chương (1974) của Đặng Phùng
Quân
Không chỉ dừng lại ở việc giới thiệu các học thuyết, các trào lưu tư tưởng nước
ngoài, các nhà lý luận - phê bình còn ứng dụng các lý thuyết đó vào việc tìm hiểu giá trị
của các hiện tượng văn học và đã có một số tác phẩm khá thành công như: Lược khảo
văn học (3 tập) của Nguyễn Văn Trung; Chinh phụ ngâm và tâm thức lãng mạn của kẻ
lưu đày của Lê Tuyên;Nguồn nước ẩn của Hồ Xuân Hương, Vô kỵ giữa chúng ta hay là
hiện tượng Kim Dung của Đỗ Long Vân; Vũ trụ thơcủa Đặng Tiến; Văn chương và kinh
nghiệm hư vô, Đi tìm tác phẩm văn chương của Huỳnh Phan Anh Hay một số
bàiđăng trên các báo như: “Nhân vị trong Hồn bướm mơ tiên”của Đỗ Minh Vọng (Đại