Cảm quan thế giới trong lý luận,
phê bình văn học của Phạm Quỳnh
và tác động của nó đến tiến trình
văn học
Nghiên cứu về tiểu thuyết Nhật Bản thế kỷ XVII, Richard Lane nhận thấy
một đặc điểm: “tiểu thuyết Nhật Bản không bao giờ tự mình hoàn toàn thoát khỏi
những nhân tố của văn học trung đại”. Nguyên nhân của hiện tượng này là ở chỗ:
người đọc Nhật Bản thời kỳ này vì bị “cắt rời khỏi dòng chảy của văn học thế giới”
nên đã không có khả năng để nhận ra sự mâu thuẫn của những yếu tố hiện thực (những
yếu tố mang trong nó tương lai của văn học) và những yếu tố của văn học trung đại
(1)
.
Cảm quan về văn học thế giới trong trường hợp này là nhân tố đặc biệt quan trọng để
thúc đẩy tiến trình văn học. Đây cũng chính là điểm nhìn để chúng tôi nhận diện về vai
trò của Phạm Quỳnh: không phải là người duy nhất nhưng là đại diện tiêu biểu nhất -
với những công trình lý luận, phê bình văn học đa dạng và mang tính hệ thống của
mình - đã đem đến cho văn học giao thời Việt Nam một cảm quan về văn học thế
giới và vì thế có vai trò to lớn trong tiến trình hiện đại hóa văn học Việt Nam đầu thế
kỷ XX đến 1945. Trong các công trình lý luận và phê bình của mình, Phạm Quỳnh chủ
yếu nói đến văn học Pháp và chừng mực nào đó là văn học phương Tây. Tuy nhiên, từ
thế kỷ XIX, lịch sử thế giới thực chất đã là lịch sử của châu Âu mở rộng nên cảm quan
về văn học phương Tây cũng đồng thời là cảm quan về văn học thế giới. Và thực tế
lịch sử đã chứng thực điều này: chính nhờ học tập và tiếp thu phương Tây mà văn học
Việt Nam đã thoát khỏi quỹ đạo của văn học vùng Đông Á với Trung Quốc là trung
tâm để ra nhập bản đồ văn học thế giới.
1. Cảm quan về văn học thế giới trong văn học Việt xuất hiện trước tiên từ đội ngũ
những người sáng tác. Trong lời tựa cho truyện Thầy Lazaro Phiền (1887) của Nguyễn
Trọng Quản đã thấy xuất hiện câu cách ngôn của một nhà hiền triết cổ Hy Lạp. Chẳng
. Cách phán xét truyền thống cũng như viễn kiến về phương thức cách
tân văn học của Nguyễn Văn Vĩnh như trên, rõ ràng là không thể xuất hiện nếu thiếu đi một
cảm quan về văn học thế giới. Tuy nhiên, một cách khách quan, đấy mới chỉ là những so
sánh có tính chất khái luận chứ chưa được chiếu ứng một cách trực tiếp vào thực tiễn đời
sống sáng tác văn học Việt Nam lúc bấy giờ. “Lối văn chương chân thật” mà Nguyễn Văn
Vĩnh nêu ra trong bài báo của mình cũng chưa phải là một thuật ngữ khoa học chặt chẽ, có
nội hàm xác định. Nói cách khác, đó vẫn chưa phải là nhận xét của một nhà lý luận hay phê
bình văn học với những luận điểm và khái niệm công cụ được minh định một cách rạch ròi.
Những gì trình bày ở trên chính là văn cảnh cho sự xuất hiện của Phạm Quỳnh và
những công trình lý luận và phê bình của ông. Chỉ từ một văn cảnh như thế mới giúp ta có
được một nhận xét khách quan và tổng thể về vai trò và vị trí văn học sử của lý luận và phê
bình văn học của Phạm Quỳnh đối với đời sống văn học giao thời và rộng hơn là văn học
Việt Nam nửa đầu thế kỷ. Trong trường hợp ngược lại, mọi khen chê dù tinh tế đến đâu
cũng không khỏi có tính chất cảm tính và không hiếm khi rơi vào những mâu thuẫn không
dễ lý giải.
2. Văn học giao thời, nhìn chung, không phải là thời kỳ của những kiệt tác, những
đỉnh cao về nghệ thuật. Vai trò quan trọng nhất của giai đoạn này trong tiến trình văn học
là kiến tạo nên một bộ khung thể loại của nền văn học mới: văn xuôi hư cấu (fiction) bao
gồm truyện ngắn và tiểu thuyết, thơ, kịch - một hệ thống thể loại có nguồn gốc phương Tây
- để thay thế hệ thống thể loại văn học truyền thống với văn thơ phú lục. Để những hệ thống
thể loại trên bén rễ trong văn học Việt, để những thể nghiệm trong sáng tác có được một
định hướng lâu dài và chiến lược thì điều quan trọng là phải hình thành một quan niệm về
thể loại không chỉ cho người cầm bút mà cả cho thị hiếu và kinh nghiệm tiếp nhận của
người đọc. Lý luận và phê bình văn học của Phạm Quỳnh đã góp phần đáng kể trong việc
đảm nhận vai trò lịch sử ấy.
2.1. Lâu nay, khi nhắc đến mối quan hệ giữa phong trào Thơ mới và phê bình lý luận
người ta lập tức nhớ đến Thi nhân Việt Nam. Quả thật, ở vị trí người tổng kết và xác lập tính
chất cổ điển của phong trào Thơ mới không ai có thể so sánh được với Hoài Thanh - Hoài
Chân. Tuy nhiên cũng chính Hoài Thanh trong bài khải luận Một thời đại trong thi ca đã rất
sòng phẳng khi viện dẫn Phạm Quỳnh như là người đầu tiên “công kích” thơ Đường luật:
. Cái tinh thần tự do và chân thực của cảm
xúc trong thơ phương Tây mà Phạm Quỳnh nhắc đến ở đây cũng chính là tinh thần của
thơ Mới mà Hoài Thanh nhắc đến trong Thi nhân Việt Nam sau này. Hướng thơ Việt đến
với những chuẩn mực mới mẻ ấy chính là mục đích của Phạm Quỳnh - điều mà ông đã
nói đến một cách trực tiếp khi viết những dòng kết trong bài báo: “Ta cứ nên giữ cái lối
“tranh cảnh” của ta, nhưng cũng nên rộng cái khuôn nó ra một chút mà bắt chước lấy cái
vẻ thiên thú của người”
(7)
. Chưa phải là một khẩu hiệu cách mạng mà mới chỉ là một giải
pháp dung hòa cũ mới (điều này là phù hợp với thực tiễn văn học những năm 1917)
nhưng vẫn có thể thấy ở đây một định hướng cho sự biến đổi của toàn bộ hệ thống thi
pháp thơ Việt đầu thế kỷ. Tóm lại, nếu như nói đến mối quan hệ giữa phê bình văn học và
phong trào thơ Mới trước 1945 thì có hai dấu mốc không thể bỏ qua, trong đó cột mốc của
sự tổng kết là Thi nhân Việt Nam của Hoài Thanh - Hoài Chân còn cột mốc của sự mở đầu
không ai khác chính là Phạm Quỳnh.
2.2. So với thơ, việc giới thiệu kịch và nhất là tiểu thuyết phương Tây được Phạm
Quỳnh tiến hành một cách kĩ lưỡng và hệ thống hơn hẳn. Ở đây có thể thấy song song cả
hai hoạt động: biên khảo, lí luận, phê bình và dịch thuật. Có một sự khác nhau khá căn
bản trong dịch thuật của Nguyễn Văn Vĩnh và Phạm Quỳnh. Nguyễn Văn Vĩnh dịch để
giới thiệu với người đọc ViệtNam những thực đơn mới nhưng ông để người đọc tự mình
thưởng thức những món ăn mới lạ ấy. Hoạt động dịch thuật của Phạm Quỳnh luôn gắn với
phê bình, tổng kết về lí luận, qua đó giúp người đọc không chỉ làm quen mà còn thông
hiểu được với những phạm trù thẩm mỹ mới nảy sinh từ thực tiễn đời sống văn học nghệ
thuật đương thời. Một ví dụ, nhân sự kiện Hội Khai Trí Tiến Đức cho công diễn vở Người
bệnh tưởng của Moliere do Nguyễn Văn Vĩnh dịch (ngày 25-4-1920), Phạm Quỳnh viết
bài tường thuật, bình luận Một sự thí nghiệm đã nên công (Nam Phong, số 34, tháng 4-
1920) để tỏ sự tán thưởng. Sự kiện này chắc chắn là nguyên nhân trực tiếp để ngay số tiếp
theo ông dịch bài giới thiệu về nghề diễn kịch ở Pháp, hí kịch của Moliere (số 35, tháng 5-
1920). Tiếp đó là một loạt những dịch thuật: Le Cid của Corneille (số 38-39, tháng 8 và 9-
1920),Chàng ngốc hóa khôn vì tình của Marivaux (số 45, tháng 2-1921), Phu nhân là
luyện nghề mà người đọc cũng cần am hiểu để thưởng thức cái hay cái đẹp, cái công phu
của vở diễn, của tác phẩm nghệ thuật. Chính vì thế khi giới thiệu về kịch, Phạm Quỳnh
không chỉ nói đến nguồn gốc ra đời, vai trò xã hội mà ông còn đặc biệt đi sâu vào những
vấn đề mà theo cách nói ngày nay của chúng ta là “những đặc trưng nghệ thuật” của kịch.
Theo đó, Phạm Quỳnh nói đến ba phần cốt yếu khi soạn kịch:
- sáng ý (invention) với các khái niệm về “vai chính”, “vai phụ”; về “luật tam duy
nhất” với những gia giảm của luật này trong lịch sử kịch nghệ.
- bố cục (disposition) với các khái niệm về hồi và cảnh; về những yêu cầu trong từng
phần giải đề - thắt nút - cởi nút; về đối thoại, độc thoại.
- lập từ (elocution): viết bằng thơ hay văn xuôi
(9)
.
Bên cạnh đó, ông cũng không quên định ra những khác biệt giữa bi kịch (“sinh ra sự
sợ hãi và thương xót”) và hài kịch (hướng tới “những thói xấu tật nhỏ của người thường,
bày ra cho buồn cười để mong chữa sửa lại”). Được viết vào năm 1921, những vấn đề mà
Phạm Quỳnh đưa ra về kịch quả thực đã đóng vai trò thực sự cần yếu cho hoạt động sáng
tác và thưởng thức kịch bởi trước đó chỉ một năm công chúng mới được chứng kiến vở kịch
đầu tiên được công diễn tại Hà Nội.
Tương tự, qua những bài phê bình, điểm sách, lược dịch có kèm theo những bình
luận và nhất là công trình Bàn về tiểu thuyết (1921) người ta thấy Phạm Quỳnh giới thiệu về
tiểu thuyết với một loạt những phương diện mà ngày nay thường gọi là “thi pháp thể loại”:
- tả và kể trong tiểu thuyết
- vấn đề hư cấu và logic trong dựng truyện
- kết cấu trong tiểu thuyết: mối quan hệ giữa người và việc (hoàn cảnh)
- con người trong tiểu thuyết: “con người bình thường” bị chi phối bởi ái tình - danh
- lợi
- nghệ thuật phô diễn (ngày nay gọi là trần thuật)
- các loại tiểu thuyết
(10)
.
khoáng tất yếu trong học thuật nhưng đặt vào thời điểm năm 1919 chuyên khảo này thực sự
là một đột phá có giá trị mở đường. Lí luận và phê bình văn học phương Tây không chỉ
giúp nhận diện, thúc đẩy những cách tân trong văn học đương thời mà còn năng động hóa
năng lực tiếp nhận đối với những kiệt tác của văn học truyền thống.
2.3.2. Đặc điểm thứ hai, trong khi giới thiệu các thể loại từ phương Tây có một luận
điểm mà Phạm Quỳnh luôn đặc biệt nhấn mạnh: cái thực, sự chân thực. Nội hàm của
“thực” có những sắc thái khác nhau trong từng thể loại. Với thơ, “thực” được hiểu là sự tự
do của cảm xúc đối lập với những hạn định ngặt nghèo của niêm luật. Với văn xuôi hư cấu,
“thực” được hiểu là bút pháp miêu tả với những chi tiết cảm tính nhằm tái hiện sự vật như
thật đối lập với bút pháp tả “thần” trong truyền thống; là việc hướng tới cái mà Phạm
Quỳnh gọi là “tính thông thường của loài người” nhằm phá vỡ tư duy phân loại trong miêu
tả con người với những cặp đối lập hiền - ngu/ trung - nịnh/ đấng, bậc - bình phàm của văn
học trung đại; là sự tôn trọng logic đời sống chứ không phải là những chi tiết hoang đường
của thế giới thần thánh, yêu ma
(12)
Khái niệm “phép tả thực” mà Phạm Quỳnh nói đến
trong điều lệ cuộc thi thơ văn trên báo Nam Phong
(13)
chính là ứng với những nét nghĩa nói
trên. Cũng chính vì lí do hướng văn học Việt đến phạm trù cái “thực” này mà Phạm Quỳnh
đặc biệt quan tâm đến kịch bởi lẽ ông nhận thấy đặc trưng nổi bật của thể loại này là ở chỗ:
“diễn kịch cốt là phải mô phỏng cho như hệt như sự thực ở đời. Người ta xem diễn kịch sở
dĩ có hứng thú là thấy việc bày ra hiển nhiên như thực; như vậy thời việc phải cho hợp với
lẽ thường ở đời. Boileau là người làm luật cho các lối văn chương của nước Pháp thế kỷ
XVII đã nói rằng: Truyện kì khôi thế nào mà vô lí cũng không làm cho tôi có hứng thú
được”
(14)
.
Quan niệm về “thực” với những nét nghĩa nội hàm như trên là kết quả từ sự so sánh
văn học Việt - Pháp, Đông - Tây nhằm kiến tạo một hệ giá trị mới cho văn học Việt Nam,
học đương thời. Ở vào thời điểm đó, không một tác phẩm văn học nào của các nhà văn
Việt Nam có thể đáp ứng được tất cả những tiêu chí mà Phạm Quỳnh đề xuất. Nhưng từ sau
1932 trở đi, những gì Phạm Quỳnh chủ trương mới được hiện thực hóa trong đời sống sáng
tác văn học. Dù có sự đa dạng hóa ngày một sâu sắc nhưng cả dòng văn học lãng mạn và
văn học hiện thực cũng đều được xây dựng trên những nền tảng chung của phạm trù của cái
“thực” trong bút pháp, nghệ thuật phô diễn cũng như quan niệm về con người. Nếu nói đến
lí luận, phê bình như một nhân tố tổ chức tiến trình văn học thì trường hợp Phạm Quỳnh và
văn học Việt Nam nửa đầu thế kỷ là một minh chứng đầy sức nặng. Phạm Thế Ngũ, vì thế,
đã xem Phạm Quỳnh là “đạo sư” của nền văn học mới
(16)
. Dĩ nhiên, có nhiều nhân tố để
tham dự vào sự hình thành cũng như sự kết tinh của văn học mới mà lí luận và phê bình văn
học của Phạm Quỳnh trên Nam Phong chỉ là một tác nhân. Nhưng đây lại là tác nhân đã
xuất hiện ở một thời điểm nhạy cảm và then chốt nhất nên có thể không sợ sai khi nghĩ đến
lí luận và phê bình văn học của Phạm Quỳnh như một sự khởi đầu, một sự kích hoạt đối với
tiến trình văn học. Điều này giải thích vì sao dù thuộc về những phạm trù giá trị khác nhau
(tùy theo cách đánh giá của từng thời, thậm chí của từng nhà nghiên cứu) thì Phạm Quỳnh
và những lí luận, phê bình văn học của ông luôn được nhắc tới trong mọi miêu tả về bức
tranh văn học thời kỳ này.
3. Ở trên chúng ta đã nói đến bộ khung thể loại của văn học mới với văn xuôi hư cấu
- thơ - kịch. Nhưng bộ khung hệ thống thể loại nay không chỉ thu hẹp trong địa hạt sáng tác
mà còn mở rộng sang một lĩnh vực mới: lí luận và phê bình văn học. Những gì đã trình bày
ở trên cho thấy ở lĩnh vực này, Phạm Quỳnh chính là tác gia lí luận và phê bình quan trọng
nhất của văn học giao thời, và vì thế cũng là một trong những người mở đầu cho loại hình
người viết lí luận và phê bình trong tiến trình lịch sử văn học nước nhà. Sau ông, chỉ mãi
đến 1929 mới thấy xuất hiện Phan Khôi, Trịnh Đình Rư nhưng những cây bút thực sự
chuyên sâu - chuyên nghiệp thì phải tính từ mốc 1931 với Thiếu Sơn và sau đó là một loạt
những gương mặt của Lê Thanh, Trương Tửu, Thái Phỉ, Hoài Thanh, Đặng Thai Mai, Vũ
Ngọc Phan Đó là một thực tế mà độ lùi của thời gian đã giúp chúng ta có được sự điềm
tĩnh cần thiết để có được một thức nhận và biện giải thật sự khách quan