Sự đổi mới trên bình diện phong cách của bộ phận thơ trào phúng chính trị trong văn học việt nam những thập niên đầu tiên của thế kỷ XX - Pdf 34

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA XÃ HỘI & NHÂN VĂN

LÊ THỊ DUNG

SỰ ĐỔI MỚI TRÊN BÌNH DIỆN PHONG CÁCH CỦA
BỘ PHẬN THƠ TRÀO PHÚNG CHÍNH TRỊ TRONG
VĂN HỌC VIỆT NAM NHỮNG THẬP NIÊN ĐẦU
TIÊN CỦA THẾ KỶ XX

LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC

Hà Nội, 2011


MụC LụC
PHN M U
1. Lý do chn ti
2. Lch s vn ........................................................................................... 2
3. Phm vi, i tng v mc ớch nghiờn cu ca ti .......................... 4
3.1. Phm vi nghiờn cu ................................................................................... 4
3.2. i tng nghiờn cu ................................................................................ 4
3.3. Phng phỏp nghiờn cu ............................................................................ 5
3.4. úng gúp ca lun vn............................................................................... 6
3.5. B cc ca lun vn ................................................................................... 6
PHN TH HAI: NI DUNG TI ......................................................... 7
Chng 1: Tin trỡnh vn ng phỏt trin ca th tro phỳng Vit Nam trc
th k XX .......................................................................................................... 7
1. Th tro phỳng S khỏc nhau c bn gia th tro phỳng vi th
tr tỡnh .......................................................................................................... 7
1.1 Th tro phỳng ............................................................................................ 7

5. Nghệ thuật: ............................................................................................. 60
5.1.Trào phúng là đả kích bằng cái c-ời. ...................................................... 60
5.2.Nghệ thuật chơi chữ : ............................................................................... 61
5.3. Thủ pháp ngôn ngữ trào phúng: ............................................................. 63
5.3.1.Phóng đại( ngoa dụ). .................................................................. 63
5.3.2. Vật hoá: ..................................................................................... 64
6.Mối quan hệ giữa thơ ca trào phúng chính trị với thơ ca cách mạng: .. 65
6.1. Thơ ca cách mạng: .................................................................................. 67
Ch-ơng 3. ................................................................................................... 72
1. Thơ trào phúng chuẩn bị cho văn học hiện thực phê phán ra đời: ...... 72
2. Thơ trào phúng hỗ trợ thơ ca yêu n-ớc và duy tân: ............................. 73
Phần Thứ ba: Kết luận. ....................................................................... 79
Th- mục tài liệu tham khảo .......................................................... 83


PHN TH NHT: T VN
1. Lý do chn ề ti
1.1. Th tro phỳng l mt b phn quan trng ca th ca Vit Nam. Bt
ngun v k tha nhng c sc t vn hc dõn gian, sỏng to v phỏt huy
những truyn thng quý bỏu ca dõn gian, b phn th ca ny to nờn mt dũng
vn hc riờng bit, c ỏo v cỏ tớnh trong nn vn hc bỏc hc.
1.2. Cho đến cui th k XIX, vn chng Vit Nam, bao gm c vn
chng bỏc hc v bỡnh dõn, tn ti trong khuụn kh nht nh theo nhng
quan nim vn hc nht nh, truyn bỏ theo nhng cỏch nht nh, phn ỏnh
cuc sng ng ờm ca nụng thụn v cung ỡnh.
S xut hin ca th ca tuyờn truyn yờu nc v duy tõn ó khuy ng
khụng khớ im lỡm, phỏ v khuụn kh ca vn, th, phỳ, lc c. Vo nhng nm
bn l ca hai th k XIX v XX, th tro phỳng phỏt trin mnh, khụng nhng
s lng m cht lng cng nõng cao. Cú th núi, n õy (u th k XX), th
tro phỳng ó phỏt trin thnh mt dũng riờng, cú nhng nh th tiờu biu v

v tỡm s tỏn thng ca cụng chỳng.
S thay i u th k khụng ch l s thay i trong cụng chỳng. i
ng tỏc gi cng ó khỏc trc, t Nguyn Khuyn, Tỳ Xng n Nguyn
Thin K, Kộp Tr, Phan in u l nhng nh nho, nhng cng ó cú s khỏc
nhau; trt t mi cng ó thi gian xỏc lp. Quan trng hn phong tro
Duy Tõn ó kờu gi nhõn dõn hc theo phng Tõy, nh hng cỏi nhỡn kht
khe, hp hũi, bo th. Sng trong phong tro ụng Du v ụng Kinh ngha thc
sc sụi, nhng nh th cm ghột thc dõn v tay sai, dự khụng hot ng cu
nc, thỡ cng cú cm tỡnh, ng h v hng ng cng nh chu nh hng ca
phong tro yờu nc.
2. Lch s vn
Đã có khá nhiều nhà nghiên cứu dành tâm huyết cho mảng nghiên cứu về
thơ trào phúng chính trị đầu thế kỉ XX, có thể coi thơ văn trào phúng phát triển
thành một dòng. Bt u t u nhng nm sỏu mi ca th k XX, nhiều bi
nghiờn cu xut hin, đánh giá cao các sáng tác của các nhà thơ trào phúng giai
đoạn này, chng hn nh-:
Trờn tp chớ Nghiờn cu vn hc s 7/ 1960, Nguyễn Đình Chú viết bài:
Nguyn Thin K mt nh th tro phỳng cú giỏ tr.
2


Trong bài báo này, Nguyễn Đình Chú chỉ ra Nguyễn Thiện Kế là người
hay nôm, chính ông đã góp phần tác thành thi nghiệp của Tản Đà Nguyễn
Khắc Hiếu. iu quan trng nht, l không thể phủ nhận giá trị to lớn trong thơ
văn trào phúng của ông đối với nền thơ ca dân tộc và sự khác biệt rõ rệt gia
sỏng tỏc ca ụng vi các nhà văn cựng trang la nh Nguyn Khuyn (sm
hn) hay Trn T Xng (mun hn).
n s 10 ca t tp chớ cựng nm, Nguyễn Công Hoan viết bài: Một vài
ý kiến về thơ của Nguyễn Thiện Kế. Trong bài viết này Nguyễn Công Hoan
khẳng định hn na thơ trào phúng của Nguyễn Thiện Kế, bài nào cũng giáng

dòng, đã nhận định về sự đột phá ở ph-ơng diện phong cách cũng nh- nội dung
phản ánh của thơ trào phúng thơ trào phúng chính trị. Ông đã phân chia ranh
giới và sự t-ơng tác của thơ trào phúng chính trị đối với thơ cách mạng, văn học
hiện thực phê phán.
Gần đây nhất, trong luận án tiến sĩ của mình, Trần Thị Hoa Lê đã nghiên
cứu về Thơ trào phúng Việt Nam nửa sau thế kỉ XIX nửa đầu thế kỉ XX ở
mặt diện mạo và đặc điểm. Luận án cũng đã chỉ rõ có hai quan niệm phân kì lịch
sử thơ trào phúng Việt Nam giai đoạn nửa sau thế kỉ XIX, nửa đầu thế kỉ XX.
Tuy nhiên cố giáo s- Trần Đình H-ợu và nhà nghiên cứu Trần Thị
Hoa Lê đều ch-a thật sự chú ý đến sự vận động và đặc biệt là sự đột phá đổi mới
ở ph-ơng diện phong cách của thơ trào phúng chính trị trong Văn học Việt Nam
những thập niên đầu tiên của thế kỉ XX, đặc biệt khoảng từ 1900 đến 1930. Vì
vậy luận văn của chúng tôi là nỗ lực nhằm chỉ rõ về sự đổi mới này.
3. Phm vi, i tng v mc ớch nghiờn cu ca ti
3.1. Phm vi nghiờn cu
T cỏi nhỡn tng quỏt v quỏ trỡnh phỏt trin ca th tro phỳng Vit
Nam, ti tp trung nghiờn cu mng th tro phỳng chớnh tr Vit Nam trong
nhng nm u th k XX, ch yu l 30 nm u th k: t 1900 n 1932
dng trc ngng 1932. Khi phong tro th mi cú mt trờn thi n vn hc
dõn tc.
3.2. i tng nghiờn cu
- Th tro phỳng chớnh tr Vit Nam 30 nm u th k XX.
- Cỏc tỏc gi:

Nguyn Thin K ( 1858- 1917)
Kộp Tr ( 1873- 1928)
4


Từ Diễn Đồng ( 1866- 1922)

- Phương pháp phân tích tác phẩm theo đặc trưng thể loại.
- Phương pháp phân tích tổng hợp theo yêu cầu của văn học sử
5


- Phng phỏp thng kờ, phõn loi.
- Phng phỏp liờn ngnh ngụn ng vn hc vn húa.
4. úng gúp ca lun vn
- Su tm mt khi lng th tro phỳng chớnh tr 30 nm u th k XX.
- Tỡm ra c trng ni dung, ngh thut ca th tro phỳng 30 nm u
th k XX.
- To nờn mt cỏch so sỏnh cú tớnh h thng, tng th v cỏc tỏc gi tro
phỳng.
5. B cc ca lun vn
- Ngoi cỏc phn m u - kt lun Ti liu tham kho. Phn chớnh ca
lun vn gm 3 chng:
Chng1: Tin trỡnh vn ng phỏt trin ca th tro phỳng Vit Nam
trc th k XX.
Chng 2: c im ni dung, ngh thut th tro phỳng chớnh tr 30 nm
u tiờn ca th k XX.
Chng 3: Những thành tựu nổi bật, những đóng góp có ý nghĩa sâu sắc
của bộ phận thơ trào phúng chính trị đầu thế kỉ XX đối với nền văn học dân tộc.

6


PHẦN THỨ HAI: NỘI DUNG ĐỀ TÀI

Chương 1: Tiến trình vận động phát triển của thơ trào phúng Việt Nam trước
thế kỷ XX

Văn học trào phúng nói chung, thơ trào phúng nói riêng, có thể coi là
“một loại hình đặc biệt của sáng tác văn học, gắn liền với phạm trù mĩ học “cái
hài” với các cung bậc tiếng cười...”. Cái hài – một phạm trù mĩ học phản ánh
một hiện tượng phổ biến của thực tế đời sống vốn có khả năng tạo ra tiếng cười
ở những cung bậc sắc thái khác nhau. Nhà văn, nhà tư tưởng Nga Secnưsépxki
định nghĩa: “Cái hài là sự trống rỗng và sự vô nghĩa bên trong được che đậy
bằng một cái vỏ huênh hoang tự cho rằng có nội dung và ý nghĩa thực sự”.
Cái hài gắn với cái buồn cười, nhưng không phải cái buồn cười nào cũng
trở thành cái hài. Mà cái hài bao hàm một ý nghĩa xã hội gắn liền với sự khẳng
định lý tưởng thẩm mĩ cao cả. Nó là sự phê phán mang tính cảm xúc sáng tạo
tích cực, và có sức công phá mạnh mẽ đối với những cái xấu xa lỗi thời. Sức
mạnh phê phán của nó vừa có tính phủ định lại mang ý nghĩa khẳng định. Nó
phủ định cái lỗi thời xấu xa nhân danh cái cao đẹp.
Cái hài là cơ sở quy định đặc trưng của xung đột nghệ thuật trong thể loại
hài kịch. Trong văn học nghệ thuật, tiếng cười thường có nhiều cung bËc và
mang nh÷ng sắc thái khác nhau. Người ta coi hài hước là cung bậc đầu tiên và
châm biếm là cung bậc cuối cùng. Trong hài hước có phép biện chứng của trí
tưởng tượng phóng khoáng hé mở cho ta thấy đằng sau cái tầm thường là cái cao
quý, sau cái điªn rồ là cái anh minh, sau cái buồn cười là nỗi đau. Trái lại, trong
châm biếm, đối tượng của tiếng cười là thói hư tật xấu, nên nổi bật lên là giọng
đả kích, phủ định, tố cáo. Tiếng cười còn mang nh÷ng sắc thái phong phú đa
dạng: cười khinh bỉ, cười thiện cảm, cười nghiêm khắc, cười chua chát…
Đối với cái hài, dù ở cung bậc nào của tiếng cười cũng cần có ba yếu tố
tạo thành sau đây: Một là: Bản chất mang tính hài của đối tượng mà ai cũng dễ
dàng cảm nhận được. Đây là yếu tố cơ bản. Hai là: Sự cường điệu những đường
nét, kích thước và những liên hệ của chúng trong việc mô tả đối tượng. Ba là: Sự
sắc bén ý nhị, hóm hỉnh của người thể hiện nhằm làm tăng thêm hiệu quả của
tiếng cười.
8


tng o c cụng dõn; cũn Sờrin bc l trong ting ci ca mỡnh v
9


những suy tư chính trị, những trăn trở tìm lối thoát để triệt phá chính quyền
chuyên chế địa chủ, cải tạo xã hội theo con đường dân chủ cách mạng. Bên cạnh
đó “hài hước” cũng còn bao hàm giai điệu vui đùa, vô tư, mang tính giải trí, giải
phóng con người khỏi khó khăn, trang nghiêm đời thường, cũng có khi con
người muốn hoàn thiện mình, hoặc một cái mới nào đó vừa ra đời còn chưa
mang tính hoàn chỉnh.
Mỉa mai (irony) bắt nguồn từ tiếng Hy Loạp cổ Eironia – nghĩa gốc bắt
nguồn từ tên một thằng hề luôn giả vờ nói những lời ngốc nghếch trước những
kẻ thông thái, nhưng những lời ngốc nghếch đó là chân lý còn những lời của
những kẻ thông thái kia lại hết sức ngốc nghếch. Vì vậy “Eironia” còn mang
nghĩa là giả vờ, là thái độ của một người làm ra vẻ ngốc nghếch. Trong ng«n
ng÷ học, “mỉa mai” là một dạng của cái hài, mà ở đó sự khôi hài ẩn nấp dưới vẻ
nghiêm túc để ngầm dấu đi thái độ chê bai, giễu cợt đối với đối tượng.
“Mỉa mai” là một phương thức thể hiện của cái hài trong văn học trào
phúng. Lối nói ngược của mỉa mai như nén sức mạnh phản đối lại để cho nó
bùng lên mạnh mẽ trong ý thức người tiếp nhận, nhưng lại tạo được một bề
ngoài “mát mẻ”, “dí dỏm”, “nhẹ nhàng”.
Các nhà lãng mạn Đức đã nâng mỉa mai lên thành nguyên tắc sáng tác,
khi họ có lý tưởng hóa các nhân vật hiện thực bất chấp trạng thái khách quan
của nó để hạ thấp hiện thực đó. Nhiều nhà văn hiện thực, trong đó có B.Brếch
n©ng mỉa mai lên thành nguyên tắc “lạ hóa”, tạo hiệu quả mỉa mai với thực tại
quen thuộc. “Chủ nghĩa hiện sinh” tạo hiệu quả mỉa mai bằng cách nhìn toàn bộ
tri thức chủ quan của con người dưới ý thức về sự tồn tại. (TĐVH – Tr. 196).
Khoa học về ngôn ngữ và ngôn ngữ nghệ thuật, mỉa mai còn là “phản
ngữ”, “nói ngược”, là những hình thức ngôn ngữ gắn liền với tư tưởng mĩ học
chân chính, coi trọng phương diện tiếng cười của đời sống. Nổi bật của mỉa mai

chuyển dẫn theo…).
* Thơ trào phúng: gồm các yếu tố: Thơ – trào – phúng
- Thơ: (Tiếng Pháp: Poesie) – hình thức sáng tác văn học phản ảnh cuộc
sống, thể hiện những tâm trạng, những xúc cảm mạnh mẽ bằng ngôn ngữ hàm
súc, giàu hình ảnh và có nhịp điệu: Sóng Hồng viết: “thơ là một hình thái nghệ
thuật cao quý, tinh vi. Người làm thơ phải có tình cảm mãnh liệt thể hiện sự
nồng cháy trong lòng. Nhưng thơ là tác phẩm mà tình cảm và lí trí kết hợp một
11


cách nhuần nhuyễn và có nghệ thuật. Tình cảm và lý trí ấy được diễn đạt bằng
những hoạt động đẹp đẽ qua những lời thơ trong sáng vang lên nhạc điệu khác
thường” (TĐVH, tr.310).
Thơ thiên về biểu hiện cảm xúc, hàm súc, cô đọng, ngôn ngữ có nhịp điệu
là đặc trưng cơ bản của thơ, phân biệt với các thể loại tự sự như truyện, ký, tiểu
thuyết, kịch…
Trào: Trào lộng, cười cợt, tiếng cười: “Một trong những cơ chế tâm lý chủ
yếu tạo nên tiếng cười là mối kết hợp giữa sự mâu thuẫn cộng với sự hạ giá,
giáng cấp” (TS. Trần Thị Hoa Lê).
Phúng: Phúng thích, phúng dụ bằng ngụ ngôn, giáo huấn, mang tính chất
đạo đức xã hội, hướng tới một đối tượng nhất định.
Như vậy, “Thơ trào phúng là loại tác phẩm hợp nguyên các trạng thái hết
sức trái ngược nhau, những rung động cảm xúc sáng tạo, sự phê phán và tiếng
cười. Các trạng thái tâm lý này hòa trộn, thẩm thấu lẫn nhau, triệt tiêu nhau tạo
nên hiệu quả cataxit nghệ thuật. Và như vậy, về mặt định vị thể loại, thơ trào
phúng mang tích phức hợp, pha trộn nhiều loại hình, thể loại, vừa trữ tình, vừa
tự sự, vừa mang cả “chất kịch”. Trong đó, tiếng cười là yếu tố cơ bản quyết
định những loại hình (văn) thơ trào phúng khác nhau”. (TS. Trần Thị Hoa Lê).
Đa số các nhà nghiên cứu cho rằng: Thơ trào phúng là một dạng đặc biệt
của thơ trữ tình, nghĩa là hội tụ những đặc trưng của thơ trữ tình: hình tượng,

viết cho người “đồng minh” để cùng nhìn nhận, đánh giá, tán thưởng vào cái
nhìn sắc sảo, thông minh, hóm hỉnh; mặt khác viết cho tiếng cười đối tượng chủ
yếu là những kẻ “bất đồng”: từ quan niệm sống, quan niệm thẩm mĩ, chí hướng,
tư cách đạo đức, lối sống, thói quen sinh hoạt đời thường…
Thơ trào phúng trong một phạm vi hẹp, chứa đựng thái độ, quan điểm
phản kháng trước những điều xấu xa – là một thứ vũ khí sắc bén, lợi hại. Căn cứ
trên thực tế thơ trào phúng đầu thế kỷ XX, đặc biệt trong các sáng tác của Phan
ĐiÖn, NguyÔn ThiÖn KÕ, KÐp Trµ, Tõ DiÔn Đång… Chúng tôi quan niệm: thơ
trào phúng bao hàm nhiều cung bậc khác nhau của tiếng cười, từ tiếng cười phản
kháng nhằm mục đích phóng thích chính trị xã hội cho đến tiếng cười chủ yếu
mang ý nghĩa giải trÝ, giải thoát năng lượng hoặc chứng tỏ sự tự do về tinh thần,
từ tiÕng cười “đậm chất cười” đến tiếng cười pha nước mắt (nụ cười cảm thán);
tiếng cười hiện rõ trên câu chữ, tiếng cười ẩn sâu đằng sau hình tượng phúng dụ,
13


đến tiếng cười là thứ vũ khí lợi hại sắc bén chĩa thẳng vào kẻ thù, làm cho kẻ thù
phải run sợ, kinh hãi. Với định nghĩa, tính chất “trào phúng” rộng như trên,cã
thÓ đưa ra các tiêu chí nhận diện cơ bản về thơ trào phúng, chúng tôi cho đó là
xác đáng, trên 3 phương diện:
Thứ nhất, thơ trào phúng có ý nghĩa vui chơi, gi¶i trÝ, giải thoát con người
khỏi trạng thái trang nghiêm, quan phương thông thường.
Thứ hai, tiếng cười được bộc lộ qua các kỹ thuật gây cười khác nhau, mà
trong đó nổi bật là kỹ thuật nhào nặn biến đổi một cách sáng tạo, bất ngờ mối
quan hệ - tương quan tỉ lệ giữa các chất liệu lấy từ hiện thực đời sống, nói cách
khác là kỹ thuật “đắp mặt nạ” cho đối tượng khiến người thưởng thức bật cười
khoái trá bởi vẫn phát hiện được đối tượng “giấu” đằng sau cái “mặt nạ” méo
mó, kỳ quặc tưởng như không thể nhận ra.
Thứ ba, đối với thơ trào phúng, các kỹ thuật gây cười luôn gắn liền với
các thủ pháp ngôn ngữ trào phúng như: chơi chữ, phóng đại (ngoa dụ), nói mỉa,

thời Lê Uy Mục, Lê Tương Dực trở đi…).
Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491 - 1585) cây đại thụ của thơ ca dân tộc thế kỷ
XVI cũng là người khởi xướng, mở đầu cho loại thơ ca trào phúng Việt Nam.
Những bài thơ Nôm ẩn chứa tiếng cười còn được lưu lại đầu tiên. Những suy
ngẫm chua chát của một nhà đạo đức kiêm triết gia về thói đời mặn nhạt. Thơ
ông bộc lộ rõ thái độ chính trị của nhà nho, một người trí thức có tài năng lớn,
nhân cách lớn, đã từng làm quan 8 năm dưới triều nhà Mạc, nhưng đành cáo
quan về bảo toàn danh tiết. Thơ ông bộc lộ rõ thái độ bất hợp tác với chế độ
phong kiến đương thời bằng những bài thơ vừa giàu chất triết lý, vừa giàu chất
trào lộng sâu xa.
“Đời nay nhân nghĩa tựa vàng mười
Có của thì hơn hết mọi lời
Trước đến tay không, nào thốt hỏi
Sau vµo gánh nặng , lại vui cười
Anh anh chú chú, mừng hơ hải
Rượu rượu chè chè, thết tả tơi
Người của lấy cân ta thử nhắc
Mới hay rằng của nặng hơn người”.
(Thơ Nôm, bài 74)
15


Tuy chưa có thể khẳng định Nguyễn Bỉnh Khiêm sáng tác thơ trào phúng
theo định nghĩa nêu trên, song không thể phủ nhận yếu tố “trào” mỉa mai, kín
đáo ẩn hiện trong lối so sánh “cân” giữa “nhân nghĩa” và “vàng mười” giữa
“người” và “của” cũng như trong phương thức miêu tả hành động thái quá, vị
của cải đến mức lố bịch:
“Anh anh chú chú, mừng hơ hải
Rượu rượu chè chè, thết tả tơi”.
Sang giai đoạn nửa cuối thế kỷ XVIII - đầu thế kỷ XIX, trên thi đàn dân

bi, ni dung trào phỳng a dng, phong phỳ nh: T tro: 12/60; chõm bim
thúi i: 16/60, giu ct quan nim sng ca nh nho 20/60, ci ct to húa
5/60, chi ch hi hc: 5/60.( TS. Trần Thị Hoa Lê) Qua kho sỏt trờn ta
thy Nguyn Cụng Tr c bit hng thỳ trong vic tro phỳng thúi i en
bc cng nh th lc ng tin v c bit quan nim sng bú buc ca nh
nho. Bài hát nói Vịnh đồng tiền có thể coi là tiêu biểu cho phong cách trào
phúng Nguyễn Công Trứ bởi giọng điệu hài h-ớc phóng túng, lại cũng rất mỉa
mai rát mặt.
Hôi tanh chẳng thú vị gì
Thế mà ai cũng kẻ vì ng-ời yêu
Tạo vật bất thị vô để sự
Bòn chài ra một thứ quấy chơi
Đủ vuông, tròn, t-ợng đất, t-ợng trời
Khẳm hoạ, phúc, yên nguy, tử hoạt.
Trong thơ chữ Hán Cao Bá Quát cũng có tới 32 bài trào phúng với tổng
số 156 bài, bao gồm nhiều nội dung trào phúng nh- : tự trào 17/32, châm biếm
chính trị 8/32, nhìn đời ngạo nghễ 4/32 , con mt hài hước 5/32 Ngoài ra còn
Nghè Tân (Nguyễn Quý Tân 1811- 1856) với tác phẩm : Tuý tiên thi tập ch-a
đ-ợc s-u tầm, hiện còn l-u lại một số bài thơ Nôm trào phúng đ-ợc giáo s- Vũ
Ngọc Khánh sưu tầm và in trong tập Thơ văn trào phúng Việt Nam.
Nhìn chung, văn học giai đoạn này càng ngày càng thiên về ý
phúng thích xã hội, c-ời nhạo những sự trớ trêu của ng-ời đời, của cuộc m-u
sinh hoặc của nền chính trị suy thoái. Nghệ thuật trào phúng nghiêng về tiếng
c-ời hài h-ớc mỉa mai, lối nói bóng gió, ch-a đến mức châm biếm trực tiếp gay
gắt. Giọng điệu mạnh mẽ và táo bạo có ở hai tác giả Hồ Xuân H-ơng và Nguyễn
17


Công Trứ . Cũng có thể do quan niệm văn ch-ơng nhà nho coi trọng tính trữ tình,
điển nhã của thơ ca . Thơ trào phúng trung đại Việt Nam xuất hiện muộn màng,


Bắc Kỳ vào năm 1915 và ở Trung Kỳ 1919 đã đặt tầng lớp nhà nho trước tình
trạng “cáo chung”. Tuy nhiên, tư tưởng Nho giáo chưa vì thế mà chấm dứt ngay,
bởi cả thế hệ nhà nho còn sống đến mấy thập niên sau đó của thế kỷ XX. Bên
cạnh đó, tư tưởng Tây học đã hình thành và chiếm ưu thế trong xã hội. Mâu
thuẫn bùng phát ở nhiều phương diện: ở tầng lớp cũ – mới, giữa các luồng tư
tưởng, nền văn hóa. Những hiện tượng “dựa gió bẻ măng”, “đục nước, béo cò”,
nhố nhăng, điên đảo, mất đạo lý, tình người… Tất cả khiến nhà nho bất bình,
tìm đến vũ khí duy nhất còn lại trong tay họ là tiếng cười. Tiếng cười bật lên
nhằm từ chối thực tế phũ phàng, chối bỏ thực trạng bế tắc, tự trấn an tinh thần,
chống lại việc đồng hóa - mua chuộc của các thế lực đến từ hoặc theo chân Phương
Tây, cứu vớt truyền thống.
Cơ cấu giai tầng phân hóa, cũ mới đan xen, xáo trộn, dẫn đến sự biến đổi
trong nhân sinh quan, quan niệm sáng tác và đội ngũ tác giả cũng như độc giả
thay đổi cả về số lượng và chất lượng.
Trên đây là những tiền đề xã hội - văn hóa ở bề sâu tư tưởng làm nở rộ
tiếng cười cña thơ trào phúng chính trị đầu thế kỷ XX. Cũng còn phải kể đến
một số điều kiện xã hội cụ thể ở phương diện hình thức. Ảnh hưởng to lớn, đáng
kể đó là thành tựu báo chí những năm đầu của thế kỷ XX. Một loạt các tòa soạn
báo, tạp chí xuất hiện nối tiếp từ Nam ra Bắc. Trung Kỳ có “Tiếng dân”, Bắc kỳ
phong phú hơn cả với các báo Đại Nam (Đăng cổ tùng báo); Ngày nay, Phong
Hóa, Tiểu thuyết thứ bảy, Đông Pháp thời báo, các tạp chí Đông Dương, Nam
Phong, An Nam, Tri Tân, Thanh Nghị… Mục đích chính trị cũng như giá trị ảnh
hưởng của các báo và tạp chí có thể khác nhau, song tất cả có điểm chung là
thực hiện vai trò “kết nối” giữa thơ ca trào phúng với độc giả, vai trò “tuyên
truyền cổ động” này ở các thế kỷ trước ch-a có. “Nam Phong T¹p ChÝ” là cơ
quan xuất bản đầu tiên phát hành rộng rãi trong công chúng những tác phẩm thơ
Nôm của Nguyễn Khuyến và Tú Xương, mà trước đó mới chỉ lưu hành quanh
hai vùng Yên §æ, Vị Xuyên. Rồi liên tiếp suốt 30 số tạp chí trong vòng 14 năm
(1918 - 1932) trên mục Văn uyển, Nam Phong đã giới thiệu cho chúng ta khoảng

tượng mới. Thơ trào phúng hình thành chậm hơn, vào cuối thế kỷ XIX, chỉ phát
triển thành một dòng vào đầu thế kỷ XX, ở miền Nam có thể kể thêm Cử Trị,
Nhiêu Tâm, Học Lạc, … mà đặc điểm sáng tác có khác với những Tú Mỡ, Đồ
Phồn …sau này.
20


Xut hin trờn thi n vn hc dõn tc, vi khụng ớt cỏc tờn tui ln, th
tro phỳng chớnh tr cú mt v th c bit trong lũng cụng chỳng; bi nú thay
li cho nhng ngi cú tõm - o (GS. Trần ỡnh H-ợu) phỏ nhng gỡ
b coi l d dỏng di hỡnh, ó giỏng nhng ũn chớ mng, mnh m n i
tng đả kớch..
Tỳ Xng ch giu:
Khn l bỏc n to ty r
Vỏy lnh cụ kia quột sch hè.
Cụng c tu hnh s cú lọng
Xu ho rủng rnh mỏn ngi xe
Cỏi l lng, hợm ca, trỏi tụn ti trt t y trụng chng tai gai mt, gõy ra
bt bỡnh phn ng khụng phi cho riờng ai m cho c xó hi vn tụn trng tc l,
tụn trng l giỏo, phn v trờn di. Nhng v sau khi quyn ca k cú ca
c tha nhn, s hng th thỳ vui vt cht c coi l quyn li t nhiờn - l
giỏo tc l lựi bc - thỡ cỏi ngon, cỏi p, cỏi tin li, cỏi ho nhoỏng tr thnh
cú sc hp dn. Ngi ta khụng chờ vic: lm ụng Phỏn để có đ-ợc ti
ru sõm banh, sỏng sa bũ na m gi õy thnh ph l nơi:
Nh ngúi bỏt ỳp ng bn c
ốn in sao sa, nc mỏy di
Tt c cỏi xó hi nh nhng, nhng x y, c a vo cỏc trang vit ca
Nguyn Thin K, Kộp Tr, Phan in, Từ Diễn ồng tr thnh th v khớ
tip tc chinh phc ng-ời đọc và góp sức gii phúng dõn tc.
Phn ln cỏc tỏc gi tro phỳng thuc giai on ú l nhng nh nho, nh

thuần túy.
Thời kỳ văn học trung đại Việt Nam chưa có khái niệm thơ trào phúng,
nhưng thơ chữ H¸n thấp tho¸ng nét cười giải trí, trào từ cuối thế kỷ XIII đầu thế
kỷ XIV tiếng cười phê phán nhân tình thế thái đã có trong thơ Nôm thế kỷ XVI
và bùng lên, khởi sắc từ thế kỷ XVIII nửa đầu thế kỷ XIX.
Kế thừa truyền thống thơ ca trung đại mang yếu tố “trào” tiếp thu tinh hoa
phong phú của văn học dân gian, vận động trên cơ sở xã hội kinh tế đặc thù của
thời đại, thơ trào phúng đã phát triển “thành một dòng” với đội ngũ tác giả đông
đảo, phong cách đa dạng, số lượng tác phẩm đạt kỷ lục so với truyền thống.

22


Trích đoạn Tội theo Tây của các cụ lớn: Tội phản đảng và làm mật thám: Thủ pháp ngôn ngữ trào phúng: Thơ ca cách mạng: Thơ trào phúng chuẩn bị cho văn học hiện thực phê phán ra đời:
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status