Chu Mạnh Trinh trong đời sống văn hóa và
văn học Việt Nam những thập niên cuối thế kỷ
XIX, đầu thế kỷ XX
Nguyễn Thị Phƣợng Trƣờng Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn
Luận văn ThS. ngành: Văn học Việt Nam; Mã số: 60 22 34
Ngƣời hƣớng dẫn: TS. Trần Hải Yến
Năm bảo vệ: 2012 Abstract. Khái quát về Tiểu sử và giai thoại của tác giả Chu Mạnh Trinh. Nghiên
cứu về những trƣớc tác văn chƣơng của Chu Mạnh Trinh. Làm sáng tỏ vị trí Chu
Mạnh Trinh trong lịch sử văn học.
Keywords. Văn học Việt Nam; Phê bình văn học
Content
A. MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Đƣơng thời, Chu Mạnh Trinh là một bậc danh sĩ nổi tiếng đủ ngón tài: cầm, kì, thi, hoạ.
Nhƣng ông cũng nhƣ các nhân vật sống ở thời kì “nhạy cảm” của lịch sử, có liên quan đến
những vấn đề thuộc vùng “tranh chấp” của những giá trị tƣ tƣởng, văn hoá, tập tục, đã từng bị
đánh giá chƣa đầy đủ hoặc lệch lạc.
Chu Mạnh Trinh chủ yếu đƣợc biết đến trong tƣ cách là một nhà nho tài tử với thể loại
hát nói và là tác giả của giải nhất thơ Nôm cuộc thi vịnh Kiều (1905). Nhƣng theo nguồn tƣ
liệu Hán Nôm trƣớc tác của Chu Mạnh Trinh còn nằm ở nhiều thể loại, đề tài khác nữa. Đặc
trong sách Nguyễn Bỉnh Khiêm, Chu Mạnh Trinh, Phan Bội Châu do Vũ Tiến Quỳnh (sƣu
tầm, tuyển chọn, 1991). Khuynh hƣớng thứ hai có cuốn Chu Mạnh Trinh. Trúc Khê và Tiên
Đàm có lƣợc thuật về gia thế, hoạn lộ và có những lời bình về con ngƣời Chu Mạnh trinh
“nhà thơ lãng mạn, đắm say với cảnh vật”. Viết kĩ nhất là cuốn của Lê Văn Ba, tác giả đã xây
dựng lại chân dung nhà thơ khá chân thực và sinh động. Cuốn sách viết theo lối pha trộn giai
thoại, sử liệu cảm bình và ít nhiều mang phong cách cá nhân hơn là một chuyên luận nghiên
cứu.
Có thể thấy các tác giả nói trên tiếp cận Chu Mạnh Trinh và thơ văn của ông trên tinh
thần mến mộ không bị chi phối bởi quan điểm chính trị nên thái độ là sự ngƣỡng mộ tài năng
đi liền với đó là thƣơ
̉
ng ngoạn, ca ngợi.
2.2.2. Các bộ văn học sử
- Thời kì từ đầu thế kỉ XX đến năm 1945
Ngƣời viết sớm nhất là Dƣơng Quảng Hàm với Việt Nam Văn học sử yếu, ông có lời nhận
xét về con ngƣời và nghệ thuật của nhà thơ “ông tỏ ra là một bậc tài tình phong nhã, lời thơ
rất êm đềm bay bổng”.
- Thời kì 1945 - 1975
Ở Miền Bắc, cuốn Sơ thảo lịch sử văn học Việt Nam là điển hình cho xu hƣớng hạ bệ thơ
ca Chu Mạnh Trinh. Nhóm các tác giả này đã rất nặng lời với Chu Mạnh Trinh cho rằng ông
“ích kỉ”, “hời hợt” và so sánh bộ tác phẩm tiêu biểu nhất của Chu Mạnh Trinh là Thanh Tâm
Tài Nhân thi tập với Truyện Kiều của Nguyễn Du để chỉ ra thơ văn Chu Mạnh Trinh mất hết
“sắc thái tinh vi” ở Truyện Kiều.
Cũng ở Miền Bắc nhƣng nhóm Lê Quý Đôn lại có một cách nhìn nhận khác. Cuốn Lược
thảo lịch sử văn học Việt Nam, Tập 3: “Từ giữa thế kỉ XIX đến 1945” đã ca ngợi Chu Mạnh
Trinh là một nhà thơ lãng mạn yêu cảnh, và đắm say với Thu
́
y Ki ều đồng thời đặt nhà thơ
vào khuynh hƣớng lãng mạn thoát li.
Ở khu vực Miền Nam, hai bộ lịch sử văn học là Bảng lược đồ văn học và Việt Nam văn
phƣơng pháp phân tích, đối sánh.
6. Đóng góp của luận văn
Luận văn dựng lại một chân dung đầy đủ về Chu Mạnh Trinh từ cuộc đời, hoạn lộ, đến
những di sản ông để lại. Và luận văn đánh giá giá trị thơ văn ông trong khung cảnh lịch sử
cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX.
7. Kết cấu của luận văn
A. Mở đầu
B. Nội dung: kết cấu thành 3 chƣơng:
Chƣơng 1: Chu Mạnh Trinh - Tiểu sử và giai thoại
Chƣơng 2: Trƣớc tác văn chƣơng của Chu Mạnh Trinh
Chƣơng 3: Chu Mạnh Trinh trong lịch sử văn học
C. Kết luận
Ngoài ra luận văn còn có phần Thƣ mục tham khảo và Phụ lục
B. NỘI DUNG
CHƢƠNG 1:
CHU MẠNH TRINH - TIỂU SỬ VÀ GIAI THOẠI
1.1. Xã hội Bắc Kì những năm cuối thế kỉ XIX
Năm 1884 triều đình kí với Pháp hiệp ƣớc Patenôtre, từ đây Việt Nam chính thức trở
thành xứ sở thuộc địa. Giai đoạn nửa sau thế kỉ XIX đƣợc xem là chính thức bắt đầu một bi
kịch dân tộc.
Ở Bắc Kì, trên danh triều đình Huế còn quyền hành nhƣng trên thực tế mọi việc do ngƣời
Pháp điều khiển. Toàn bộ Bắc Kì do phủ Thống sứ quản lí đứng đầu là viên Thống sứ. Ở bộ
máy chính quyền thuộc địa, quan chức từ cấp tỉnh trở lên đến Toàn quyền Đông Dƣơng đều
do ngƣời Pháp nắm giữ. Tất cả quyền lực trong một tỉnh đều do viên Công sứ Pháp thâu tóm.
Theo điều 7 của hiệp ƣớc Patenôtre thì các quan chức Nam triều vẫn tiếp tục cai trị nhƣ cũ
nhƣng khi Pháp yêu cầu cách chức viên quan nào thì triều đình phải theo. Nhƣ vậy Pháp đã
bắt đầu thao túng toàn bộ triều đình và can thiệp vào việc cai trị dân sự ở Việt Nam.
Về kinh tế, do ảnh hƣởng từ cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất, từ năm 1897 khiến nền
Năm Quý Tị niên hiệu Thành Thái thứ 5 (1893) sau khi đỗ đại khoa, Chu Mạnh Trinh
đƣợc bổ Tri phủ Lí Nhân tỉnh Hà Nam. Nhậm chức đƣợc 3 tháng thì thân phụ mất, ông về cƣ
tang cha. Những năm làm quan sau đó của Chu Mạnh Trinh có nhiều điểm chƣa thống nhất.
Theo cuốn Chu Mạnh Trinh của Trúc Khê và Tiên Đàm thì ông từng làm Tri phủ Lí Nhân,
Án sát sứ tỉnh Hƣng Yên, rồi sau trải làm Án sát tỉnh Hà Nam, Bắc Ninh, Thái Nguyên. Còn
trong cuốn Các nhà khoa bảng Việt Nam đã dẫn nguồn tài liệu từ Quốc triều khoa bảng
quyển III tờ 15a của Cao Xuân Dục lại nói: ông làm Tri phủ Lí Nhân, rồi thăng Án sát Thái
Nguyên, Án sát Hƣng Yên. Tác giả Lê Văn Ba trong cuốn Chu Mạnh Trinh thơ và giai thoại
có nghi vấn về nguồn gốc sử liệu mà Trúc Khê đƣa ra. Trong Trúc Vân thi tập có nhiều bài
thơ cho thấy Chu Mạnh Trinh từng đi qua nhiều địa danh: vừa đi chơi, vừa đến vì việc công
cũng vừa là nơi trị nhậm trong đó có tỉnh Bắc Ninh. Nhƣ vậy Chu Mạnh Trinh đã làm quan ở
nhiều nơi nhƣ Trúc Khê và Tiên Đàm từng viết. Tuy nhiên, dù làm quan ở nơi nào ông cũng
không mẫn cán và luôn cảm thấy mình là ngƣời “sinh bất phùng thời”. Quan Án không thiết
tha tới việc triều chính mà chỉ thích thơ từ, xƣớng hoạ, và vãn cảnh chùa. Ông bị thiên hạ chì
chiết, miệt thị và gắn cho cái tên còn hơn cả tiện dân “Đĩ Trinh”
Về thái độ chính trị của Chu Mạnh Trinh có nhiều điểm cần bàn, để trả lại công bằng cho
ông. Nhiều tài liệu chỉ trích qua
̃
ng thơ
̀
i gian ông là m cho tờ Đại Nam đồng văn nhật báo,
đánh giá ông “không quan tâm gì đến vấn đề thời sự”. Chúng tôi chia sẻ với cách nhìn của Lê
Văn Ba không nên nhìn vấn đề một cách cứng nhắc. Ông làm quan nhƣng không muốn làm
tay sai cho Pháp. Và với bản tính yếu đuối, nhà thơ chỉ có thể chốn chạy vào thƣởng ngoạn
và thú vui sáng t ạo nghệ thuật. Câu chuyện đánh tháo tù chính trị chứng tỏ trạng thái “dùng
dằng”của ông: không đủ bản lĩnh đối mặt vơi thực dân nhƣng cũng không thiếu lƣơng tri
trƣớc những ngƣời dám xả thân thủ nghĩa.
Sau một thập niên làm quan “vô vị”, lƣu chuyển nhiều năm, năm Giáp Ngọ (1903) Chu
Mạnh Trinh cáo quan về dƣỡng bệnh, kết thúc cuộc đời làm quan Án sát tẻ nhạt và lắm tai
tiếng.
đạm, thanh nhã. Điểm nhấn luôn coi trọng thế đất. ƣa chuộng sự kín đáo. Theo các nhà
chuyên môn, những công trình ấy đều có sự dung hợp của văn ho
́
a Phật giáo và văn ho
́
a Nho
giáo đã đƣợc sàng lọc thành bản sắc của ngƣời Việt, tiêu biểu là 3 công trình: ngôi nhà Chu
Mạnh Trinh có từ thời thân phụ làm quan Ngự sử; ông vẽ kiểu, xây dựng chùa Thiên Trù; xây
dựng và tu tạo đền Chính Đa Hoà, đền Hoá. Ba công trình này hiện nay vẫn còn giữ đƣợc hai
đền và một chùa Thiên Trù. Những công trình này hiện vẫn còn lƣu bút tích của Chu Mạnh
Trinh; đặc biệt tại đền Đa Hoà, nhân dân dành một điện thờ ông với vị thế là thần hộ đền.
1.4.4. Văn học
Sinh thời Chu Mạnh Trinh vốn nổi tiếng là ngƣời yêu văn chƣơng, giỏi thơ từ ông để lại
khá nhiều tác phẩm trong đó lớn nhất là Trúc Vân Thi tập lên đến hàng trăm bài và đặc biệt
nổi tiếng với Thanh Tâm Tài Nhân thi tập và bài hát nói Hương Sơn phong cảnh. Cuộc đời
ông luôn sống nghiêm cẩn và say sƣa với sáng tạo nghệ thuật, luôn sống để khẳng định “quý
thích chí”.
Tiểu kết
Cuộc đời hoạn lộ Chu Mạnh Trinh nằm trọn trong những năm tháng “nhạy cảm” của lịch
sử kể từ khi Pháp xâm lƣợc. Hoạn lộ của ông khá suôn sẻ. Ông là ngƣời nhập cuộc nhƣng
không nhiệt tâm với chức vị, vì thế luôn bị dị nghị và để lại rất ít công trạng trên quan trƣờng.
Song ông là ngƣời đa tài và để lại mô
̣
t di sản đa dạng về âm nhạc, hội ho
̣
a, kiến trúc đặc biệt
là văn học. CHƢƠNG 2:
Ông dành tình cảm đặc biệt cho Hƣơng Sơn để tìm cảm hứng thƣởng ngoạn và thỏa mãn
“quý thích chí”. Cảnh Hƣơng Sơn đƣợc ông chớp lấy những khoảnh khắc thần nhất, trạng
thái sự vật “hƣớng thiền” nhất. Hương Sơn phong cảnh là bức tranh non nƣớc, mây trời chập
chùng man mác, vấn vƣơng thanh âm, hình sắc. Phong cảnh quyến rũ với bao nét nhạc và
nhiều chiều ánh sáng biến hóa kì ảo, nửa thực nửa hƣ. Hương Sơn hành trình, Hương Sơn
nhật trình nhà thơ miêu tả tỉ mỉ cảnh vật và đƣờng nét chùa Hƣơng từ chùa ngoài vào chùa
trong. Thông qua những bài viết về phong cảnh Hƣơng Sơn có thể thấy Chu Mạnh Trinh lãng
mạn từ đề mục đến lãng mạn trong cảm hứng.
Thơ vịnh cảnh của Chu Mạnh Trinh không đồng nhất với cách vịnh của các nhà nho mà ở
đó tâm sự, tâm trạng ngƣời ngắm cảnh là rất ít, chỉ thuần có tả cảnh. Ông đã vẽ lên những
bức tranh phong cảnh đẹp. Cái “đẹp” tự thân ở thiên nhiên đã vƣợt ra ngoài quan niệm về cái
Đẹp của Nho giáo hƣớng tới nội dung của đạo lí. Các tác phẩm lấy bút pháp tả làm chủ lực
còn vịnh chỉ mang tính bổ sung. Chu Mạnh Trinh làm thơ để biểu lộ mối cảm của mình với
cảnh. Cảnh trong thơ ông luôn sinh động quyến rũ. Ở đó có sự hòa lẫn giữa cái thắm xinh của
tạo vật với cái đẹp trang nghiêm của Phật giáo với cái đẹp phiêu diêu của tình mộng Trang
Chu. Trong bức tranh dày đặc cảnh vật nhà thơ không hề quên cá tính, phong thái của mình là
đa tình và nghệ sĩ.
Tình yêu thiên nhiên của Chu Mạnh Trinh trong bối cảnh lịch sử cuối thế kỉ XIX bị coi là
tƣ tƣởng xa xỉ, có tính chất ích kỉ hẹp hòi và bị đặt ngoài quỹ đạo của lòng yêu nƣớc. Đó là lí
do để ngƣời ta đẩy xa Chu Mạnh Trinh khỏi chủ đề văn học yêu nƣớc truyền thống. Thể tài
vịnh cảnh đậm đặc chất du lãm, thoát thực đã là nguyên cớ khiến nhà thơ bị xếp vào khuynh
hƣớng văn học hƣởng lạc thoát li.
2.1.2. Vịnh sử
Các bài thơ vịnh sử của Chu Mạnh Trinh đều lấy nguồn cảm hứng từ những vùng huyền
tích: đó là những danh lam thắng cảnh nhƣ đền An Dƣơng Vƣơng, thành Cổ Loa hoặc những
biên ải nhƣ cửa Hàm Tử. Chu Mạnh Trinh không quá xa đà vào sự huy hoàng của cái xƣa cũ
mà cảnh xƣa nay đều ảm đạm, u ám nên thơ vịnh sử của ông luôn ẩn giấu nỗi buồn. Ở đó,
tiêu chí nêu gƣơng theo quan điểm đạo đức phong kiến đã mất hẳn mà chỉ dừng lại ở suy
nghĩ, bình luận, đánh giá những hình ảnh quá khứ còn tồn tại trong cuộc sống.
Ở thể tài vịnh sử đã có những biểu hiện rõ nhất của lòng yêu nƣớc, cảm hứng thế sự của
hiểu tâm tƣ nhà thơ. Không chỉ có thế ngƣời đào hát còn là những ngƣời tài năng, những
truyền nhân của nghệ thuật.
Tuy thực tế số phận của những đào hát thật bi đát nhƣng nhà thơ không đi sâu khắc họa
thân phận cảnh ngộ, cũng nhƣ thế giới nội tâm ở họ mà họ xuất hiện với tƣ cách của con
ngƣời nghệ thuật, và là tấm tri kỉ của nhà thơ.
Sáu bài thơ viết về đào hát của Chu Mạnh Trinh đều nhất quán với thái độ trân trọng, yêu
mến đào hát. Tác giả đã phản ánh nếp sinh hoạt rất đặc trƣng của những văn nhân tài tử và
đào hát ở các ca quán. Đó là chén rƣợu hòa với tiếng đàn, tiếng hát khi vui vẻ, lúc sầu đong,
cho thấy rất rõ mối quan hệ hệ này trƣớc khi ca trù biến thái thành một sinh hoạt ngoài nghệ
thuật.
Nhƣ vậy tƣ tƣởng nhà thơ không có tính duy lí để đối phó trƣớc vận nƣớc mà ông rơi vào
duy tình, hoài cổ. Hệ thống chủ đề, đề tài đều phát triển lại hệ thống chủ đề, đề tài cũ, nội
dung sáng tác tách khỏi thực tại nóng bỏng nhất của lịch sử xã hội.
2.2. Thơ văn Chu Mạnh Trinh nhìn từ thể và thể loại
Chu Mạnh Trinh sáng tác thơ văn bằng cả chữ Hán và chữ Nôm, và sáng tác chữ Hán là
đa số. Nhƣng ông đặc biệt thành công ở thơ Nôm. Tuy Chu Mạnh Trinh không phải là cây
bút xuất chúng nhƣng thơ văn ông lại đƣợc xếp vào dạng có sức lôi cuốn cả về nội dung và
hình thức.
2.1.1. Thơ Đường luật
Chu Mạnh Trinh sáng tác thơ Đƣờng luật với số lƣợng lớn lến đến hàng trăm bài, đƣợc
tập hợp chủ yếu trong Trúc Vân thi tập.
Trong thơ Đƣờng luật ông sử dụng các hình ảnh thơ rất đa dạng từ thiên nhiên, con
ngƣời, những nếp sinh hoạt con ngƣời. Đặc biệt là các hình ảnh đƣợc khai thác ở những thời
điểm, những không gian độc đáo. Trong thơ là cả một thế giới âm thanh, màu sắc đa chiều
sinh động, với nhiều dáng vẻ khác nhau. Bởi vậy tập thơ ghi nhận đầy đủ về tâm hồn con
ngƣời nhà thơ: lãng mạn, tài hoa và tinh tế.
Thơ Đƣờng luật của Chu Mạnh Trinh ít không gian hình tƣợng mà không gian rất cụ thể
có tên, có thời khắc, có sự tƣơng phản nhƣng ở cấp độ hẹp và sự tƣơng phản chỉ làm cho sự
vật nhỏ bé trở nên bé nhỏ.
2.2.2. Hát nói CHƢƠNG 3:
CHU MẠNH TRINH TRONG LỊCH SỬ VĂN HỌC
3.1. Hát nói của Chu Mạnh Trinh – sự phục hồi của hát nói trong môi trường mới
3.1.1. Môi trường đô thị hóa thực dân – tiền đề của sự phục hồi hát nói nửa cuối thế kỉ
XIX
Giữa thế kỉ XIX sự phát triển của hát nói bị dừng lại đột ngột do hoàn cảnh lịch sử đặc
biệt: Pháp xâm lƣợc. Nhƣng từ những năm cuối thế kỉ này khi môi trƣờng đô thị hóa mang
tính thực dân xuất hiện hát nói lại có cơ hội phục hồi. Bằng chứng là hệ thống giao thông
thông suốt kéo theo đó nhiều tỉnh lị, huyện lị mọc lên bên cạnh những trục đƣờng giao thông
lớn nhỏ. Một số giáo phƣờng di chuyển ra tỉnh để mở nhà hát. Không riêng gì ở Hà Nội mà
các tỉnh lân cận thì các tƣ gia, nhà trò đã mọc lên theo sự mở rộng của đô thị thực dân.
Hƣng Yên – nơi nhà thơ sống vốn là phố Hiến rất sầm uất. Các mạng lƣới bến sông, bến
chợ, giao thông đƣợc mở rộng trong chính sách phục vụ khai thác của chính quốc. Đặc biệt
con ngƣời phố thị vẫn là cái gốc của cƣ dân phố Hiến.
Tại các đô thị tập trung một phức thể dân cƣ đa dạng thuộc nhiều thành phần xã hội khác
nhau nhƣ: quan lại, nho sĩ, quý tộc, ca kĩ, viên chức…Trong thiết chế kinh tế xã hội đặc thù
của đô thị tâm lí của họ thƣờng phóng khoáng, hoạt bát hơn và có nhu cầu giãi bày rất lớn.
Bên cạnh đó tâm trạng bất an, bất lực của thân phận vong quốc có lẽ cũng là một nguyên cớ
khiến họ đi tìm những phƣơng thức xoa dịu, lãng quên. Cũng vì vậy hát nói có điều kiện vực
dậy trong một tâm lí tiếp nhận mới.
3.1.2. Chu Mạnh Trinh trong sự phục hồi hát nói
Sinh thời Chu Mạnh Trinh rất đam mê ca trù. Trên chiếu hát nhà thơ vào vai một quan
viên, điểm trống thƣởng hát, tiếng dạo trống của ông từng đƣợc ví nhƣ “mây vờn nƣớc chảy”
Số lƣợng những bài hát nói của Chu Mạnh Trinh rất ít có 3 bài: Thúy Kiều oan trái, Thúy
Kiều lưu lạc, Hương Sơn phong cảnh. Với số lƣợng sáng tác nhƣ vậy không đủ sức để ông có
thể phục hồi, vực dậy một thể loại đã bị đứt đoạn gần nửa thế kỉ. Sự đóng góp của nhà thơ là
phần mở rộng biên độ và sắc thái nội dung phản ánh của hát nói đó là hát nói về thể tài phong
cảnh.
3.2. Bình, vịnh Kiều của Chu Mạnh Trinh trong lịch sử bình giá Truyện Kiều
3.2.1. Lịch sử bình, vịnh Kiều
3.2.1.1. Lịch sử bình Kiều
Truyện Kiều ra đời đã khuấy động đời sống văn học sau đó. Đặc biệt ở thế kỉ XIX những
cuộc bút chiến gay gắt của các nhà nho xoay quanh vấn đề của Truyện Kiều nhất là các nhân
vật trong truyện điển hình là Thúy Kiều. Cuộc chiến ấy kéo dài sang thế kỉ XX nhƣng mang
màu sắc khác – màu sắc chính trị giữa Ngô Đức Kế, Huỳnh Thúc Kháng và Phạm Quỳnh.
Khoảng thời gian sau đó Truyền Kiều đƣợc nhìn nhận dƣới nhiều góc độ nhƣ: phân tâm học,
xã hội học, lịch sử, thi pháp học, văn hóa học,…Nhƣ vậy từ khi Đoạn trường tân thanh ra đời
đến nay thì tác phẩm và những vấn đề quanh nó đã có đời sống phong phú, cả trong sáng tác,
phẩm bình và nghiên cứu.
3.2.1.2. Lịch sử vịnh Kiều
Thế kỉ XIX đặc biệt phát triển với phong trào ngâm vịnh Kiều, bình Kiều nhất là vịnh
Kiều.
Bài thơ luật vịnh Kiều đầu tiên là của Phạm Quý Thích từ đó phong trào ngâm vịnh lan
rộng khắp môn sinh họ Phạm, rồi lan rộng trong tầng lớp nho sĩ. Ngay cả vua cũng ham say
với Kiều nhƣ Minh Mệnh, Tự Đức. Tất cả họ đều gửi gắm ít nhiều tâm sự, cảm xúc của mình
trong cảm nhận và thƣởng thức Truyện Kiều. Vịnh Kiều bằng cả chữ Hán và chữ Nôm, trong
đó có tác giả viết lên đến vài chục bài.
3.2.2. Cuộc thi vịnh Kiều năm 1905
3.2.2.1. Hoàn cảnh tổ chức cuộc thi
Mùa xuân năm Ất Tị (1905), Tổng đốc Lê Hoan có cao hứng muốn thu tập một số danh sĩ
đƣơng thời vào dự thi viết thơ vịnh Kiều. Khi ấy phong trào Cần Vƣơng đã bị dập tắt, đời
sống chính trị trong nƣớc rất ngột ngạt. Ý đồ của Lê Hoan và Pháp muốn tạo một bầu không
khí văn chƣơng có tính chất ôn hòa. Còn xét trên địa hạt văn học thì cuộc thi này nhằm hút
tâm điểm vào dòng văn học công khai. Bởi vậy cuộc thi này thiên về mƣu đồ chính trị nhiều
hơn là mục đích vinh danh dân tộc, trấn hƣng đất nƣớc.
3.2.2.2. Thể lệ cuộc thi
Kiều. Số phận của họ bi đát không phải do ý thức chủ quan mà do một lực lƣợng siêu nhiên
bên ngoài chi phối, đó là mệnh. Về điều này, tƣ tƣởng Chu Mạnh Trinh đồng dạng với
Nguyễn Du. Chu Mạnh Trinh cũng nhƣ Nguyễn Du lấy Nho giáo để lí giải cái tài ẩn chứa
nguyên nhân tai họa rồi đi đến khẳng định “tài mệnh tƣơng đố”. Nhƣng theo Chu Mạnh Trinh
thì trong ý thức của Kiều vẫn bị ảnh hƣởng bởi cái gọi là Nghiệp mà kiếp trƣớc để lại. Đối
với việc lí giải về nguyên nhân sâu sa của bấy nhiêu khổ đau trong cuộc đời Kiều cũng nhƣ
cái chết của Từ Hải thì Chu Mạnh Trinh đã cao hơn một mức so với nhiều ngƣời khác nhƣ:
Phạm Quý Thích, Tiên Phong Mộng Liên Đƣờng đó là cảm quan hiện thực. Ông lí giải
nguyên nhân ấy có manh nha từ những bất công xã hội.
Nhƣ vậy câu chuyện tài–mệnh của Chu Mạnh Trinh ảnh hƣởng trực tiếp từ tƣ tƣởng triết
học của Nguyễn Du trong Truyện Kiều. Đó là sự kết hợp tƣ tƣởng Nho, Phật và một cảm
quan hiện thực. Trong tập vịnh Kiều của ông ngƣời ta tìm đƣợc mối nối giữa Nguyễn Du –
Thúy Kiều – Chu Mạnh Trinh ở thân phận con ngƣời. Hệ lụy của những kẻ tài tử đa cùng,
hồng nhan đa truân.
3.2.3.2. Thái độ của Chu Mạnh Trinh với nàng Kiều
Toàn tập vịnh Kiều Chu Mạnh Trinh đều xoay quanh việc đánh giá Thúy Kiều, hay đúng
hơn ông chỉ say mê mỗi Thúy Kiều. Suốt mƣời lăm năm Kiều ôm mối cô trinh tâm trạng ấy
đồng dạng với nỗi cô đơn không tỏ cùng ai của Chu Mạnh Trinh. Từ những trải nghiệm của
số phận, nhà thơ đã tìm đƣợc sự đồng điệu với cô Kiều. Bởi vậy toàn bộ quyển vịnh Kiều ông
Nghè Phú Thị trút toàn bộ bút lực, tình cảm để say mê riêng nàng Kiều.
Mặc cho những lời thóa mạ Kiều là trắc nết, thất tiết, “tà dâm” thì trong mắt Chu Mạnh
Trinh Kiều “trăm chiều đẹp”. Nhà thơ không trực tả vẻ đẹp hình thể của Kiều mà điều đó
đƣợc hiện lên một cách gián tiếp qua quan niệm “má đào thì phận bạc” trong triết lí về
“mệnh”. Điều Chu Mạnh Trinh nhấn mạnh để ca ngợi Kiều là tài, cụ thể là tài nhả ngọc phun
châu, tài cả cầm, kì, thi, họa – cái tài của ngƣời nghệ sĩ. Cái tài này là nguyên nhân dẫn đẩy
Kiều tới những đau khổ một cách bị động, vô thức.
Trong quan niệm của Chu Mạnh Trinh, Kiều bán mình chuộc cha rồi trao duyên cho
Thúy Vân nhƣ vậy là vẹn cả hiếu trung. Kiều đã ứng xử nhƣ một đấng trƣợng phu cứu cha và
em. Chu Mạnh Trinh đề cao hành động ứng xử của nàng nhƣ một tấm gƣơng sáng sánh
ngang với nữ nhi nổi tiếng trong sử sách là ả Lí, nàng Oanh. So sánh nhƣ vậy tấm lòng nhà
́
.
3.2.3.3. Cảm quan hiện thực của Chu Mạnh Trinh
Trong Vịnh Vương ông được tha, Chu Mạnh Trinh nhấn mạnh tới sự thao túng của đồng
tiền. Ông phản ánh một sự thật về sự lũng đoạn của đồng tiền. Tiền làm biến sắc sự thanh
liêm, làm lực đẩy ghê gớm khiến con ngƣời đô
̉
i trắng thay đen. Nhƣ vậy nhà thơ dù lãng mạn
nhƣng vẫn không hoàn toàn thoát khỏi hiện thực. Tập vịnh Kiều của Chu Mạnh Trinh là sự
nhận thức chân thành của nhà thơ về số phận na
̀
ng Kiều. Ở đó nhà thơ tìm đƣợc sự đồng điệu
gan ruột giữa cuộc đời mình với cảnh đời một hồng nhan. Ông đã thu phục lòng ngƣời ở cái
tâm đồng cảm và bằng những trải nghiệm của đời mình, qua đó thể hiện những nhận thức về
cuộc đời, con ngƣời, nhân tình thế thái. Ở một mức độ nào đó Chu Mạnh Trinh đã thể hiện
một tấm lòng nhân đạo, sự bao dung rộng lƣợng. Ông là đại diện tiêu biểu cho một nhà thơ
lãng mạn, có khuynh hƣớng thoái li hiện thực.
Tập vịnh Kiều của Chu Mạnh Trinh tuy xúc cảm song đây là lối phê bình hoàn toàn cảm
giác. Bởi vậy nhiều chỗ quá nặng về cảm xúc mà rơi vào cực đoan. Hơn nữa ở đây, Chu
Mạnh Trinh có say mê Kiều nhƣng say mê chỉ dừng lại ở tình cảm cá nhân, không phải tình
cảm mang tính nhân loại kiểu nhƣ Nguyễn Du. Trải qua gần một trăm năm nhƣng Chu Mạnh
Trinh dẫm lại chính những mâu thuẫn trong triết học của Nguyễn Du. Ông vẫn luẩn quẩn
trong thuyết tài–mệnh của Nho giáo đôi lúc lại lấn sang Phật giáo với kiếp ba sinh còn nặng
căn ở Kiều, đôi lúc lại thấp thoáng trong cảm quan hiện thực. Tính hiện thực quá ít ỏi không
đủ đƣa Chu Mạnh Trinh đến với một cách nhìn mới mẻ hơn.
Tiểu kết
Sự nghiệp sáng tác của Chu Mạnh Trinh để lại đã làm phong phú thêm cho hệ thống
chủ đề, đề tài, thể loại của văn học trung đại Việt Nam. Nhƣng tinh túy nhất và đóng góp lớn
nhất của ông cho nền văn học là thể loại hát nói và chủ đề Bình-vịnh Kiều. Bằng tâm huyết
và tài năng của mình Chu Mạnh Trinh đã góp phần làm cho gia sản hát nói phong phú hơn ở
1905 khi bình luận về phẩm hạnh Thu
́
y Ki ều. Có thể nói Chu Mạnh Trinh đã bình giá tác
phẩm và nhân vật một cách cá thể và độc lập với thời cuộc, theo mạch nhân văn chủ nghĩa
của thời kì trƣớc đó. Sự lựa chọn này đã buộc ông phải hứng chịu thêm tai tiếng nhƣng lại
cũng là căn nguyên giải thích cho giá trị lâu bền của tập thơ văn khi những ba động của thế
cuộc qua đi.
Nhìn lại toàn bộ sáng tác của Chu Mạnh Trinh có thể thấy tác giả đã né tránh những
vấn đề nóng bỏng của lịch sử. Hơn nữa, ông cầm bút và trƣớc tác theo mạch truyền thống.
Tuy nhiên Chu Mạnh Trinh lại là một trong những tên tuổi mà lịch sử văn học không thể bỏ
qua. Bởi tài năng đa dạng và tinh thần nhân văn ở ông đã đem lại thêm cho truyền thống sáng
tác cũ những nét tƣơi mới cả về nội dung và nghệ thuật. References
1. Lê Văn Ba (2005), “Cây đàn Chu Mạnh Trinh”, Xưa và nay, số 244, tr. 19,37
2. Lê Văn Ba (1994), Chử Đồng Tử Tiên Dung: vùng đất con người, Nxb Văn hóa Thông
tin, Hà Nội
3. Lê Văn Ba (2004), Miền quê Văn Giang, Nxb Văn hóa dân tộc, Hà Nội
4. Lê Văn Ba (1996), Nhà thơ Chu Mạnh Trinh, Nxb Văn hóa Thông tin, Hà Nội
5. Bách khoa toàn thư,
6. Bút tích của chúa Trịnh Sâm trên danh thắng Thăng Long,
/>thang-Thang-Long.html
7. Dƣơng Thị Cẩm (sƣu tầm và tuyển chọn) (1999), Các nhà khoa bảng Hưng Yên (1075-
1919), Nxb Sở văn hóa thông tin Hƣng Yên
8. Lê Nguyên Cẩn (2008), Tiếp cận Truyện Kiều từ góc nhìn văn hóa, Nxb Giáo dục, Hà
Nội
9. Nguyễn Xuân Diện (2000), Góp phần tìm hiểu lịch sử ca trù, Nxb Khoa học xã hội, Hà
Nội
10. Nguyễn Xuân Diện (2003), Thơ hát nói xưa và nay, Nxb Văn hóa dân tộc, Hà Nội
29. Nguyễn Đức Mậu (2005), “Hát nói Phan Bội Châu và lịch trình hát nói”, Văn hóa nghệ
thuật, số 12, tr. 78-82
30. Nguyễn Đức Mậu (2000), Thể loại hát nói trong sự vận động của lịch sử văn học LATS ,
Hà Nội
31. Tô Nam (1967), “Nhai thoại về một câu đối tết”, Tập san Văn Sử Địa, số 5, tháng 1,2,3
32. Nam phong tạp chí (1915) số 8, tháng 2
33. Nguyễn Viết Ngoạn (nghiên cứu và tuyển chọn, chú thích) (2010), Nguyễn Công Trứ bài
ca ngất ngưởng, Nxb Đại học quốc gia, thành phố Hồ Chí Minh
34. Nguyễn Viết Ngoạn (2001), Nguyễn Công Trứ ông hoàng hát nói, Nxb Trẻ, Thành phố
Hồ Chí Minh
35. Phan Ngọc (2001), Tìm hiểu phong cách Nguyễn Du trong Truyện Kiều, Nxb Khoa học
xã hội, Hà Nội
36. Phạm Thế Ngũ (1961), Việt Nam văn học sử giản ước tân biên – văn học hiện đại (1862-
1945), Quốc học tùng thƣ xb, Sài Gòn
37. Phạm Đan Quế (1991), Bói Kiều, bình Kiều, vịnh Kiều, Nxb Hà Nội
38. Phạm Đan Quế (2003), Truyện Kiều trên báo chương thế kỉ XX, Nxb Thanh Niên, Hà Nội
39. Phạm Đan Quế (biên soạn) (2000), Truyện Kiều và các nhà nho thế kỉ XIX, Nxb Văn học,
Hà Nội
40. Vũ Dƣơng Quý (tuyển chọn và biên soạn) (2002), Chu Mạnh Trinh, Trần Tế Xương, Nxb
giáo dục, Hà Nội
41. Vũ Tiến Quỳnh (sƣu tầm, tuyển chọn) (1991), Nguyễn Bỉnh Khiêm. Chu Mạnh Trinh.
Phan Bội Châu: những bài phê bình – bình luận văn học của các nhà văn – nghiên cứu Việt
Nam và thế giới, Nxb Tổng hợp Khánh Hòa
42. Ngô Quốc Quýnh (2010), Thử tìm hiểu tâm sự Nguyễn Du qua Truyện Kiều, Nxb Giáo
dục, Hà Nội
43. Sơ thảo lịch sử văn học Việt Nam (giai đoạn nửa cuối thế kỉ XIX), Viện Văn học (1964),
Nxb Văn học, Hà Nội
44. Nguyễn Hữu Sơn (2005), Văn học trung đại Việt Nam – Quan niệm con người và tiến
trình phát triển, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội
45. Trần Đình Sử (2005), Thi pháp Truyện Kiều, Nxb Giáo dục, Hà Nội
64. Trần Quốc Vƣợng (chủ biên) (1998), Cơ sở văn hóa Việt Nam, Nxb Giáo dục, Hà Nội
65. Nguyễn Khắc Xƣơng (1995) , Tản Đà thơ và đời, Nxb Văn học, Hà Nội
66. Lê Thu Yến (sƣu tầm và tuyển chọn) (2003), Nguyễn Du và Truyện Kiều trong cảm
hứng thơ người đời sau, Nxb Giáo dục, Hà Nội