ĐÓNG GÓP CỦA PHÓNG SỰVÀ TIỂU PHẨM NGÔ TẤT TỐ ĐỐI VỚI VĂN HỌC VIỆT NAM 1930 - 1945 - Pdf 30

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
PHAN THỊ MỸ HẠNH ĐÓNG GÓP CỦA PHÓNG SỰ VÀ TIỂU
PHẨM NGÔ TẤT TỐ ĐỐI VỚI VĂN HỌC
VIỆT NAM 1930 - 1945
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam

LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS. NGUYỄN THÀNH THI

Thành phố Hồ Chí Minh - 2007
MỞ ĐẦU
1. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Ngô Tất Tố được coi là một trong những cây bút xuất sắc nhất của dòng văn học hiện
thực Việt Nam 1930-1945. Tài năng của ông được bộc lộ trên nhiều phương diện: sáng tác,

này cần phải đọc, tìm hiểu cập nhật về Ngơ Tất Tố v sự nghiệp văn chương của ông, kịp
thời bổ sung những gì chưa biết, để việc giảng dạy tốt hơn.
Đó cũng chính là lí do chúng tôi chọn “Đóng góp của ph
óng sự và tiểu phẩm Ngô Tất
Tố đối với văn học Việt Nam 1930-1945” làm đề tài nghiên cứu cho luận văn này. 2. LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ
Việc nghiê
n cứu về thân thế và sự nghiệp Ngô Tất Tố tính đến nay đã cĩ nhiều thành tựu
với một bề dày đáng quý, rất thuận lợi cho tất cả những ai đến sau muốn tìm hiểu su về ơng.
Có thể điểm qua một số bài viết và những công trình nghiên cứu về Ngô Tất Tố từ sau năm
1930 trở về đây để thấy rõ điều đó.
The
o trục thời gian, chng tơi tạm chia lịch sử nghiên cứu về Ngô Tất Tố, trong đó có
phóng sự và và tiểu phẩm thành ba chặng đường: trước 1945, 1945-1975 v sau 1975.
 Trước 1945
Tuy t
hời kì ny chưa có nhiều công trình nghin cứu ring, nhưng sáng tác văn học và
báo chí của Ngô Tất Tố ngay từ năm 1931 đ được đánh giá rất cao. Tiu biểu l cc ý kiến của
Vũ Trọng Phụng, v cơng trình nghi
n cứu Vũ Ngọc Phan.
Vũ Trọng Phụng trong bài giới thiệu về tác phẩm Tắt đèn của Ngô Tất Tố đã gọi Ngơ
Tất Tố l “một tay ngôn luận x
uất sắc trong đám làng nho”. (Báo Thời vụ số ra ngày
31.01.1931)
Trong “Nhà văn hiện đại”(1938-1940) Vũ Ngọc Phan khi giới thiệu bảy mươi chín
nhà văn Việt Nam tham gia sáng tác bằng chữ quốc ngữ từ cuối thế kỉ XIX đến đầu những
năm 40
của thế kỉ XX cũng đ dnh cho Ngơ Tất Tố một vị trí vẻ vang. Ơng gọi Ngơ Tất Tố l

Trên tạp chí Văn nghệ số 8 năm 1958, Bùi Huy Phồn cũng có những đánh giá rất khách

quan về Ngô Tất Tố qua phóng sự “Việc làng”. Bùi Huy Phồn cho rằng lập trường giai cấp
của Ngô Tất Tố còn mơ hồ cho nên còn một số hạn chế nhỏ trong “Việc làng”. Ông cũng
cho rằng sự hạn chế này không lấy gì làm lạ, vì Ngô Tất Tố vốn xuất thân từ một nhà nho.
Bùi Huy Phồn cũng khẳng định đóng góp lớn nhất của “Việc làng” là đã phản ánh một cách
chân thực đời sống của người
dân quê, những nỗi thống khổ về tinh thần mà khó ai có thể
nhìn thấy được. Từ xưa đến nay người ta chỉ thấy người nông dân bị bóc lột về kinh tế, áp
bức về chính trị, ít ai thấy được nỗi khổ của người nông dân dưới gánh nặng của hủ tục.
Năm 1961, trên tạp chí Nghiên cứu văn học số 3, Nguyễn Đức Đàn, qua phân tích một
số tác phẩm của Ngô Tất Tố trước 1945, đã chỉ ra “sự sáng tạo nghệ th
uật của Ngô Tất Tố
có một ý nghĩa vị nhân sinh rõ rệt” [33, tr.65]. Nguyễn Đức Đàn đi đến kết luận “Bao giờ
ông – tức Ngơ Tất Tố - cũng đứng về phía những người bị đày đọa, bị áp bức. Chính nhờ đó
mà nhà văn đã vẽ lên được bức tranh chân thực của xã hội đương thời. Trong hoàn cảnh
lúc bấy giờ, ngòi bút Ngô Tất Tố dám dũng cảm tố c
áo những cái xấu xa thối nát của xã
hội, xây dựng những hình tượng đẹp đẽ về người lao động cùng khổ đã là một thành công
lớn” [33, tr.66]
Năm
1962, trên tạp chí Văn nghệ số 61, Nguyễn Đức Bính cũng viết bài bàn về con
người và văn chương Ngô Tất Tố. Trong đó ông có đề cập đến phóng sự “Việc làng”, và
các tiểu phẩm
báo chí của Ngô Tất Tố. Nguyễn Đức Bính tiết lộ “Quyển Việc làng ra đời
năm 1940. Nhưng có thể tác giả đã nhẩm từ lâu, trong những buổi nhàn đàm với anh em ở
toà soạn tờ báo Hàng Da”. Ông còn cho rằng “Nếu có ai cho rằng đó là một tập văn kí sự
ghi lại những tệ tục ở nông thôn thì thật chưa hiểu được dụng ý của người viết. Mặc dù lời
văn có khi nặng tích chất khách quan của kẻ quan sát hiện thực, nhưng nên tìm ở trong đó


đáng chú ý là nhà nghiên cứu đ khẳng định: Ngô Tất Tố, với tư cách l “người bạn đường tin
cậy của giai cấp công nhân”, luôn đứng trên quyền lợi của dân tộc, của quần chúng bị áp
bức, luôn xuất phát từ một tấm
lòng yêu nước thương dân mà sáng tác.
Về nghệ thuật, Phan Cự Đệ đánh giá cao nghệ thuật châm biếm sắc sảo của Ngô Tất Tố:
“… bất cứ lúc nào có điều kiện,
Ngô Tất Tố sẵn sàng sử dụng những đòn đánh thẳng vào
mặt đối phương, không kiêng nể và ông phân biệt rất rõ lối đả kích và trào lộng đả kích để
đánh địch. Lối hài hước và trào lộng hài hước là để giải quyết những vấn đề m
âu thuẫn

trong nội bộ nhân dân. Nụ cười của Ngô Tất Tố không phải là sự chế giễu lạnh lẽo vô tình,
không phải là thái độ bông phèng “lùng tùng xoè” như nhóm Tự lực văn đoàn, cũng không
phải là sự đả kích đôi khi vô chính phủ theo quan điểm hư vô chủ nghĩa của Vũ Trọng
Phụng, mà đây là một sự phê phán xã hội đứng trên lập trường một người trí thức yêu nước.
Chính lập trường đó đã tạo nê
n tiếng cười của Ngô Tất Tố, có nội dung xã hội sâu sắc, lành
mạnh, lạc quan và nói chung lúc nào cũng nhằm trúng đích, bắn chính xác vào kẻ thù của
dân tộc và của quần chúng bị áp bức bóc lột” [17, tr.57].
Năm
1978, Nhà xuất bản Giáo dục xuất bản công trình “Lịch sử văn học Việt Nam” của
Nhóm tác giả Huỳnh Lý, Hoàng Dung, Nguyễn Hoành Khung, Nguyễn Đăng Mạnh,
Nguyễn Trác. Trong đó có một chương viết về “Ngô Tất Tố- nhà báo” do Nguyễn Đăng
Mạnh biên soạn. N
guyễn Đăng Mạnh đã nêu khái quát cuộc đời làm báo của Ngô Tất Tố, và
cũng đi đến những nhận xét rất tích cực “Nhìn chung, qua những bài bình luận, bút chiến,
phóng sự, ta thấy Ngô Tất Tố thực sự là một nhà báo hăng hái và chân thành chiến đấu cho
những yêu cầu cải cách dân chủ thật sự vì lợi ích của nhân dân lao động. Những việc ông
làm, những điều ông đấu tranh như thế đã k
hiến ông gần với cách mạng” [24, tr.201].

cái đình”, và về các tiểu phẩm báo chí của Ngô Tất Tố .
Ở phần viết về tiểu phẩm của Ngô Tất Tố, Phan Cự Đệ đã khẳng định những đóng góp
lớn lao của N
gô Tất Tố về nội dung cũng như nghệ thuật. Về nội dung Phan Cự Đệ viết
“Văn tiểu phẩm của Ngô Tất Tố dường như làm thành một bộ sử biên niên của xã hội Việt
Nam những năm từ trước 1930 cho đến hồi đại chiến lần thứ hai” [21, tr.395]. Về nghệ
thuật thì “các tiểu phẩm của Ngô Tất Tố vừa mang tính chất của một bài
bình luận chính trị,
bình luận xã hội nhưng đồng thời cũng là một tác phẩm văn học. Do đó nó vừa phải có sức
thuyết phục logic, có căn cứ và lập luận chặt chẽ, vừa phải xây dựng được những hình
tượng và có một sức truyền cảm mạnh mẽ, sâu sắc đối với người đọc” [21, tr.395]. Và,
“phong cách châm biếm trong tiểu phẩm của Ngô Tất Tố là sự kết hợp hài hoà c
ái thâm
thuý của một nhà nho trí thức với cái vui hồn hậu, lạc quan, tính chiến đấu mạnh khỏe của
văn học dân gian” [21, tr.400].
Hai tập phóng sự “Việc làng” và “Tập án cái đình” cũng được Phan Cự Đệ đánh giá cao.
Ơng đặc biệt khẳng định giá trị hiện thực vào tính chiến đấu của nó “Trong hai phóng sự
“Tập án cái đình” và “Việc làng”, Ngô Tất Tố tìm cách phơi trần những sự thật xấu x
a về
các hủ tục ở nông thôn, xem đó là một cái gì vô lý “quái gở”, “mọi rợ” và đặt chính quyền
thực dân trước nhiệm vụ phải giải quyết” [21, tr.409]
Nhìn chung, với bi viết ny, Phan Cự Đệ đã đưa ra được một cái nhìn khái quát toàn bộ
văn nghiệp của Ngô Tất Tố, chỉ ra một cách tương đối thỏa đáng những thành công, hạn chế
trong tư tưởng chí
nh trị cũng như về hình thức thể hiện trong sng tc của nhà văn.
Xuất phát từ sự quan tâm sâu sắc đến nghệ thuật viết tiểu phẩm của Ngô Tất Tố, năm
1983, trên tạp chí Văn học số 6, Lê Thị Đức Hạnh viết bài “Đặc sắc trong tiểu phẩm của
Ngô Tất Tố”. Trong bi viết ny, với lưu ý “những bài viết này chưa ai nghiên cứu kĩ, chưa
được chú ý nhiều về nghệ thuật, nhất là nghệ thuật trào phúng”, Lê Thị Đức Hạnh c
ho rằng:

tương đối đầy đủ những bài viết, những lời giới thiệu v những bài phê bình, nghiên cứu về
nhà văn- nhà báo-nhà dịch thuật Ngô Tất Tố. Trong đó có bài viết “Ngô Tất Tố tài năng v
à
tấm lòng” của Mai Hương, thể hiện lòng mến phục và trân trọng đối với Ngô Tất Tố. Đáng
chú ý l ý kiến giải thích về văn tài và động cơ viết văn của Ngô Tất Tố: “… Vượt lên mọi hư
danh, cám dỗ, Ngô Tất Tố “đã biết đánh đổi cơm áo để lấy cái quyền viết theo chỉ thị của
trái tim mình”, trái tim chỉ thuộc về đất nước mà ông hết lòng yêu thương, chỉ thuộc về
nhân dân mà ông thiết tha gắn bó. C
hính đó là cái lõi để tạo nên tài năng lớn, đa dạng nơi
ông” [33, tr.30-31]
Nhìn chung dù viết dưới dạng bài báo, bài nghiên cứu, phê bình hay bài giới thiệu, dù
phân tích các tác phẩm tiểu thuyết, phóng sự, tiểu phẩm
hay dịch thuật, phê bình, các nhà

nghiên cứu đều có sự nhìn nhận, đánh giá thống nhất với nhau ở quá trình phát triển tư
tưởng, quá trình lao động, sáng tạo, và quá trình đấu tranh không mệt mỏi vì nhân dân và
dân tộc của nhà văn lão thành Ngô Tất Tố. Tất cả mọi lời nhận định đều khẳng định tài năng
về mọi mặt của Ngô Tất Tố và những cống hiến to lớn của ông đối với nền văn học dân tộc,
với việc bảo tồn và phát huy những nét đẹp văn hoá vốn có của đất nước. Một số hạn chế
trong tác phẩm v
à tư tưởng của ông nếu được vạch ra, không hề làm giảm đi lòng yêu mến
và sự cảm phục của các đồng nghiệp và của các thế hệ độc giả từ xưa đến nay.
Tìm hiểu lịch sử nghin cứu vấn đề, ta nhân thấy:
Thứ nhất, chưa có một công trình nghiên cứu riêng, sâu về các mảng sáng tác của Ngô
Tất Tố. Phần lớn các sách thường chỉ sưu tầm và biên tập lại những bài viết trên các báo, tạp
chí hay một bài nghiên cứu nhỏ về Ngô Tất Tố.
Thứ hai, thnh tựu nghin cứu về sự nghiệp văn chương, báo chí của N
gô Tất Tố tính đến
nay đ kh dy dặn, phong ph. Giới nghin cứu cng ngy, cng mở rộng, khơi sâu nhiều mặt giá trị
trong sự nghiệp viết văn của ông, càng khẳng định thêm vị trí qua

oại hình được sử dụng để nghiên cứu phĩng sự, tiểu phẩm của Ngơ Tất
Tố từ gĩc nhìn thể loại.
Tất cả những qua
n điểm, những phương pháp được vận dụng nghiên cứu đề tài đều đứng
trên lập trường của chủ nghĩa duy vật Mác-Lênin để nhìn nhận,
đánh giá vấn đề một cách
khách quan và khoa học.
4. GIỚI HẠN ĐỀ TÀI
Mặc dù tài năng của Ngô Tất Tố thể hiện trên nhiều bình diện nhưng đề tài chỉ hướng
vào tìm
hiểu những tác phẩm thuộc hai thể loại tiểu phẩm và phóng sự của ông.
Về phóng sự, chủ yếu tìm
hiểu tập phóng sự “Việc làng”, “Tập án cái đình”, để thấy
được cái nhìn của Ngô Tất Tố về nông dân và nông thôn Việt Nam.
Về tiểu phẩm, số lượng tác phẩm mới tìm thấy của ông rất nhiều. Chúng tôi sẽ tiến hà
nh
khảo sát các tiểu phẩm tiêu biểu trong ba quyển sách “Ngô Tất Tố tiểu phẩm báo chí”, Ngô
Tất Tố chuyện người đương thời” của nhà xuất bản Hội nhà văn, xuất bản năm 2005,
và“Ngô Tất Tố toàn tập”, tập 1, và chủ yếu l
à những tác phẩm được sáng tác trước 1945.
5. ĐÓNG GÓP MỚI CỦA LUẬN VĂN
Thông qua việc nghi
n cứu tiểu phẩm và phóng sự, hai mảng thể loại còn chưa được nhà
phê bình quan tâm nhiều, chúng tôi muốn thêm một lần khẳng định lại vị trí của ông trên
văn đàn bằng cách chỉ ra những đóng góp có ý nghĩa tích cực trong việc phát triển thể loại
phóng sự và tiểu phẩm nói riêng, phát triển ngôn ngữ văn xuôi nghệ thuật nói chung.
6. KẾT CẤU LUẬN VĂN
Ngoài Mở đầu, Kết luận, luận văn được tổ chức thành ba chương.
Chương1: Ngô Tất Tố v thể văn phóng sự, tiểu phẩm trong văn học Việt Nam hiện đại
(1930-1945). Chương này xác định vị trí của Ngô Tất Tố cùng với các thể loại sáng tác, phê

TRONG VĂN HỌC VIỆT NAM HIỆN ĐẠI (1930-1945)

Ngô Tất Tố trong lòng độc giả Việt Nam là một con người mẫu mực, nghiêm
túc trong
cuộc sống cũng như trong hoạt động văn học. Đặc biệt trong lĩnh vực sáng tạo nghệ thuật
ông nổi tiếng là một người đa tài. Nhắc đến Ngô Tất Tố là nhắc đến một nhà nho lão thành
với tư tưởng tiến bộ, một nhà văn, một nhà báo, một nhà nghiên cứu, phê bình, dịch thuật
xuất sắc. Ngô Tất Tố t
ham gia vào nhiều lĩnh vực sáng tác và ở lĩnh vực nào cũng tạo được
tiếng vang, được sự đồng tình ủng hộ của độc giả và đồng nghiệp.
Năm
1923, ông bắt đầu con đường hoạt động văn học với tác phẩm dịch từ Trung văn:
Cẩm Hương Đình, in tại Tản Đà tu thư cục (do Tản Đà mở từ năm
1922 tại 58 phố Hàng
Bông). Trong thời gian này, văn học nước ta đang tiến dần đến sự hiện đại hoá toàn diện.
Đây là giai đoạn giao thời của văn học, và từ đây Ngô Tất Tố đã có bước song hành cùng sự
phát triển của nền văn học. Tài năng của ông ngày càng pht triển, chín muồi. Ơng trở thnh
một trong những cây bút kì cựu của giai đoạn văn học 1930-1945, có nhiều đóng góp quan
trọng, được bạn bè đồng nghiệp cng cc thế hệ độc giả yêu mến.
Vị trí của ông đã được
khẳng định trong văn học Việt Nam hiện đại (1930-1945) như là một nhà văn, nhà báo xuất
sắc, một nhà tiểu thuyết lớn, một nhà khảo cứu phê bình, dịch thuật đầy tài năng:
1.1. Ngô Tất Tố - nhà văn, nhà báo xuất sắc trong văn học Việt Nam (1930-
1945)
1.1.1. Một nhà báo với ngòi bút chiến đấu sắc bén
Nhắc đến sự nghiệp văn chương của Ngô Tất Tố trước hết là nhắc đến một Ngô Tất Tố
– nhà báo. Với mảng thành tựu xuất sắc về tạp văn tiểu phẩm. Năm 1926, ông chính thức
bước vào nghề báo và liên tục xuất hiện trên các báo An Nam tạp chí, Đông Pháp thời báo,
Thần chung, Phổ thông, Đông phương, Công dân, Hải Phòng tuần báo, Tương lai, Thời vụ,
Hà Nội tân văn, Con ong, Việt nữ, Tiểu thuyết thứ ba… với các bút da

hiệu thuốc về quê và trục xuất ông khỏi các thành phố lớn.
Năm1939, ông cho đăng phóng sự “Tập án cái đình” trên bá
o Con ong.
Năm 1940, đăng phóng sự “Việc làng” trên báo Hà Nội tân văn.
Với hai tập phóng sự này, Ngô tất Tố thực sự là nhà báo hiểu biết sâu sắc về đời sống
người nông dân với biết bao nhiêu nỗi vất vả cơ cực. Bùi Huy Phồn đã khẳng định đóng
góp của “Việc làng” là giúp cho người đọc hiểu sâu sắc hơn về nỗi khổ của người nông dân.
Ơng viết: “Chúng ta c
hỉ mới biết rằng người nông dân bị bóc lột về kinh tế và áp bức về
chính trị. Rằng cuộc cách mạng chống đế quốc và phong kiến đã giải phóng cho người nông
dân thoát khỏi quan hệ sản xuất cũ. Nhưng còn điều mà chúng ta ít chú ý là, cũng nhờ có
cách mạng người nông dân còn được giải phóng thoát khỏi trăm ngàn thứ hủ tục nó trói
buộc, đè nén họ hàng ngàn vạn năm.” [33, tr.336]
Nói như vậy là Bùi Huy Phồn đã công nhận Ngô tất Tố là người góp phần hoàn thiện cái

nhìn toàn diện về đời sống cuả người nông dân, có nghĩa là khẳng định vị trí không thể thiếu
của thiên phóng sự “Việc làng”.

Nguyễn Đức Đàn và Phan Cư Đệ cũng đã khẳng dịnh vị trí của Ngô Tất Tố ở thể loại
phóng sự: “Ngô Tất Tố vốn xuất thân nho học. Nhưng đối với một thể loại mới mẻ như thể
loại phóng sự, Ngô tất Tố đã không tỏ vẻ bỡ ngỡ chút nào. Trái lại ngòi bút của ông khi nào
cũng vững vàng, chắc chắn, lời văn bao giờ cũng bình dị, sáng sủa và c
ô đúc. Việc làng đã
góp phần làm cho tên tuổi Ngô Tất Tố càng có thêm uy tín trong làng văn Việt nam” [33,
tr.361]
Một thể loại báo chí khác cũng góp phần làm nên thành công của toàn bộ văn nghiệp của
Ngô Tất Tố đó chính là thể loại tiểu phẩm. Bàn về tiểu phẩm của Ngô Tất Tố, nhà nghiên
cứu Lê Thị Đức hạnh nhận xét: “Chưa nói tới các lĩnh vực khác, chỉ riêng ở văn tiểu phẩm
cũng đã thấy rõ đư
ợc tính chất phong phú và đa dạng trong ngòi bút của Ngô Tất Tố. Ông

Hồng Chương cũng khẳng định vị trí của Ngô Tất Tố qua “Tắt đèn”: “Với Tắt đèn, với
cuốn tiểu t
huyết hiện thực chủ nghĩa duy nhất đó của ông, Ngô Tất Tố cũng đã xứng đáng
được liệt vào hàng các đại biểu xuất sắc nhất của chủ nghĩa hiện thực phê phán Việt Nam”
[33, tr.242]
Nguyễn Đăng Mạnh khi nói về tác phẩm “Tắt đèn” cũng không ngần ngại khẳng định:
“Tắt đèn là một trong những thành tựu nghệ thuật xuất sắc nhất t
rong dòng văn học hiện
thực phê phán Việt Nam trước cách mạng” [33, tr.271]
Sự thành công của tiểu thuyết “Tắt đèn” có lẽ không còn ai phải bàn cãi, nhưng còn một
tác phẩm cũng không kém phần tiêu biểu của Ngô Tất Tố đó chính là tiểu thuyết phóng sự
“Lều chõng”, một tác phẩm miêu tả những bi kịch của những người trí thức thời phong kiến.
Khác với “Tắt đèn”, ở “Lều chõng”, Ngô Tất Tố miêu
tả một cách thẳng thắn, chân thực
việc giáo dục và chế độ thi cử của phong kiến vào lúc suy tàn. Và sự ra đời của “Lều chõng”
đã góp phần hoàn thiện cái nhìn đầy đủ, toàn diện của Ngô Tất Tố về xã hội. Đó là cái nhìn
nhân hậu trước bao nỗi đắng cay cơ cực của người nông dân, cái nhìn cương trực, thẳng
thắn vạch trần mọi ung nhọt của xã hội phong kiến t
hối nát, bảo thủ lỗi thời. Đáng quý là ở
chỗ người có cái nhìn tiến bộ đó lại từng là một môn đệ của Khổng -Mạnh, của một nền
Hán học lâu đời.
“Tắt đèn” và “Lều chõng” cho đến nay đã khẳng định được sức sống bền bỉ vượt qua
mọi sự thử thách của thời gian, c
hinh phục biết bao thế hệ độc giả của biết bao thời đại.
Những thiên tiểu thuyết như thế đ khẳng định một cách vững chắc vị trí đầy vinh dự của
Ngô Tất Tố trong dòng văn học hiện thực phê phán Việt Nam 1930-1945.
1.1.3. Một nhà khảo cứu, phê bình, dịch thuật tài năng
Ngoài việc viết báo và sáng tác Ngô Tất Tố còn là một trong những nhà văn giu nhiệt
tâm đối với công tác nghiên cứu. Chẳng những ông nghiên cứu văn học mà còn có công
nghiên cứu cả triết học nữa. Ông nghiên cứu Mặc Tử, Lão Tử một cách công phu và thận

Như vậy với ngòi bút sắc sảo vốn có, Ngô Tất Tố đã tham gia vào lĩnh vực nghiên cứu,
phê bình một cách tự tin và có hiệu quả. Vẫn cái bản lĩnh hơn người của mình ông đã thực
sự chinh phục độc giả bằng những luận điểm sắc bén, thông m
inh.
Chưa dừng lại ở đó, tài năng của ông còn được bộc lộ một cách rõ rệt trong lĩnh vực dịch
thuật. Với vốn Hán học uyên thâm, ông đã tham gia dịch các tác phẩm thơ chữ Hán thời Lý
Trần, và thơ Đường, các bản dịch của ông hiện nay thường được đưa vào Sách Giáo Khoa
của học sinh cơ sở cũng như học sinh trung học và được coi là những bản dịch chuẩn mực.
Ông không chỉ đơn t
huần dịch cu chữ thơ mà ông còn dịch được cả cái hồn cái thần của thơ.
Thơ ông dịch, vì thế là thơ dịch xuất phát từ trái tim, chứa đựng tình cảm chứ không đơn
thuần là một bản dịch nghĩa khô khan.
Đánh giá về sự nghiệp dịch giả của Ngô Tất Tố Trần Thị Băng Thanh cho rằng: “Làm
thơ, viết văn để lại dấu ấn đã k
hó, nói chi đến dịch. Vậy mà có thể nói Tản Đà và Ngô Tất

Tố là những dịch giả đã để lại được những dấu ấn của phong cách cá nhân. Điều đó cũng
hiếm và chính là cống hiến riêng, lớn của hai ông” [33, tr.518].
Nhìn tổng thể sự nghiệp của Ngô Tất Tố, người ta không thể không thán phục trước một
ngòi bút đa tài, mạnh mẽ và bền bỉ như vậy. Sự nghiệp của Ngô Tất Tố đã dành cho ông
một vị trí xứng đá
ng trong nền văn học nước nhà.

1.2. Phóng sự và một số đặc điểm chung từ gĩc nhìn thể loại
1.2.1. Sơ lược về sự hình thành và phát triển của phóng sự
1.2.1.1. Sự ra đời của phóng sự
Phóng sự là một thể loại báo chí mà ngay từ khi nó ra đời đã làm chấn động công
chúng báo chí, còn các nhà cầm quyền thì ra lệnh đóng cửa các toà soạn báo vì tính chất
nguy hiểm của những bài phóng sự. Leonard Ray Teel-Ron Tay đã viết : “Phóng sự có thể
là vị trí quyến rũ hơn cả trong nghề báo” [Dẫn theo 20, tr.7], còn GS, TS Karel Storkal(

về nước đã mang trong mình những tư tưởng tiến bộ của phương Tâ
y, như Hoàng Tích
Chu, Đỗ Văn, Phùng Bảo Thạch, Tạ Đình Bích…. Họ đã cùng nhau thực hiện một cải cách
quan trọng trong nghề báo: áp dụng vào Việt Nam lối viết báo và cách trình bày báo hiện
đại đã học được từ châu Âu, với lối hành văn gọn gàng, sáng sủa của người Pháp, khác với
lối văn biền ngẫu, chứa nhiều điển tích Trung Hoa. Phóng sự “Tôi kéo xe” của Tam Lang
Vũ Đình
Chí được coi là một tác phẩm mở đầu cho lối viết này, được đăng trên tờ Đông
Tây vào tháng 8, 1932, do Hoàng Tích Chu và Đỗ Văn, hai người có công lớn trong việc
thay đổi diện mạo báo chí nước ta. Đặc biệt Hoàng Tích Chu đã cho ra đời hàng loạt bài báo
có thông tin thời sự nóng bỏng, tư liệu chính xác, mặc dù “lúc ban đầu độc giả xem đó là lố
lăng, không thích hợp nhưng lần hồi, họ làm quen được và xem đó là lối viết thích hợp trê
n
báo chí, nhiều người lại bắt chước Hoàng Tích Chu” [51, tr.126-127]. Cuộc thay cũ, đổi
mới này đã tạo điều kiện cho các thể loại báo chí mang phong cách hiện đại du nhập dần
vào Việt Nam, trong đó có Phóng sự. Năm 1942, nhà nghiên cứu phê bình Vũ Ngọc Phan đã
viết: “Ở nước ta, nghề viết báo là một nghề mới có, nên những thiên phóng sự xứng đáng
với cái tên của nó, cũng chỉ mới ra đời trong vòng mươi năm trở lại đây” [45, tr.520].
Nguyễn Đăng Mạnh cũng nhận xét: “Vào đầu những Năm 30 của thế kỉ này ( tức thế kỉ XX )

cùng với sự phát triển mạnh mẻ của báo chí, một thể văn mới ra đời; thể Phóng sư”[41,
tr.63]
Thứ hai, lịch sử dân tộc ta vào những năm 30, của thế kỉ XX dồn dập những biến cố dữ
dội. Cuộc khủng hoảng kinh tế lớn 1929-1939, những cuộc khủng bố cách mạnh hết sức tàn
bạo của bọn đế quốc, sự bất công của xã hội đã đẩy người dân nghèo vào tình trạng hết sức
bi thảm. T
hực trạng xã hội với hình ảnh cùng quẫn của tầng lớp tiểu tư sản và dân nghèo
thành thị; sự “phất” lên của những tên quan lại, địa chủ theo Pháp… là mảng đề tài hiện
thực nóng bỏng, được các nhà văn lựa chọn để “mổ xẻ”, bằng “một lối tả thực như văn kí
sự, trào phúng như văn châm biếm, cảm người ta như văn tiểu thuyết, mà trong lại bao gồm

Dân nói, Sài Gòn, tháng hai năm 1938, của Đồng Phương, mô tả việc tác giả bám theo
những đám buôn lậu vượt biên khá rùng rợn, hoặc những phóng sự mang tính chất mua vui
rẻ tiền, khơi gợi thị hiếu thấp hèn, đầu độc tâm hồn trong trẻo của thanh niên, đến nỗi khiến
Ngô Tất Tố phải thốt lên: “Họ không cần thuốc mê, chỉ dùng những văn thơ khêu gợi để đầu
độc những óc ngây t
hơ của phụ nữ

[Dẫn theo 20, tr.26].
Khuynh hướng thứ hai: Phản ánh cuộc sống bần cùng của người lao động, đề cập đến
nhưng bất công trong xã hội. Có thể nói rằng trong bối cảnh xã hội ngột ngạt của những
năm 1930-1945, các phóng sự của Trọng Lang như: Trong làng chạy (1935), Hà Nội lầm
than (1937) Làm dân (1938); Tam Lang với Tôi kéo xe (1932); Vũ Trọng Phụng với hàng

loạt tác phẩm như: Cạm bẫy người (1933), Kĩ nghệ lấy Tây (1934), Dân biểu và dân biếu
(1935), Cơm thầy cơm cô, Lục xì, Một huyện ăn tết (1938); Ngô Tất Tố với Việc làng(1940),
Tập án cái đình (1939); Nguyễn Đình Lạp với Ngoại ô, Ngỏ hẻm, Thanh niên trụy lạc
(1937-1938), Những vụ án tình (1938)… đã phản á
nh phần nào nỗi thống khổ của một dân
tộc thuộc địa. Tuy nhiên, những tác phẩm kể trên vẫn còn bộc lộ những hạn chế nhất định
về mục đích và tính khuynh hướng, chưa tìm được biện pháp giải quyết vấn đề thực tiễn.
Khuynh hướng thứ ba: Là khuynh hướng của báo chí cách mạng. Những nhà phóng sự
theo khuynh hướng này hoạt động bí mật, làm nhiệm vụ chính là tuyên truyền chủ nghĩa
Mác-Lêni
n, lí tưởng cách mạng, khơi gợi lòng yêu nước và kêu gọi nhân dân tham gia cách
mạng. Cùng với cuộc chiến đấu vì độc lập tự do của dân tộc, thể loại phóng sự trên báo chí
cách mạng đã thực sự bám sát cuộc chiến đấu của quân và dân ta, cổ vũ và kịp thời động
viên tinh thần yêu nước, lòng tự hào dân tộc.
Giai đoạn từ 1945 đến những năm 80 của thế kỉ XX
Phóng sự đư
ợc coi là một trong những thể loại báo chí hàng đầu, là tấm gương phản

1.2.2.2. Một số quan niệm về phóng sự
Nhìn chung có rất nhiều quan điểm khác nhau, khi tiếp cận với phóng sự.
Trên thế giới: khi quan niệm về phóng sự thường tập trung ở hai xu hướng.
Xu hướng thứ nhất: Cho phóng sự là kể lại một câu chuyện có thật một cách ngắn gọn,
chính xác, các chi tiết tập trung trả lời cho các câu hỏi: Cái gì? Xảy ra ở đâu? Xảy ra như
thế nào? Có liên quan hoặc ảnh hưởng đến ai? Tại sao lại xảy ra như vậy? Có nghĩa là
người phóng viên khi viết phóng sự không bình luận, lí giải thêm, thậm
chí không cần bộc
lộ mình là một nhân chứng lịch sử bằng cách xưng “tôi” trong bài. Xu hướng này chủ yếu
quan tâm đến lượng thông tin trong bài phóng sự, lượng thông tin càng cao thì bài viết càng
có giá trị. Nhà văn, nhà báo Mỹ, Mark Twain cho rằng “Phóng sự chỉ là một sự ghi chép
máy móc đơn thuần các sự việc chứ không phải là một công việc sáng tạo”
Có thể nói rằng quan điểm
này là phiến diện vì lịch sử phát triển của phóng sự cho thấy
thể tài này không chỉ dừng lại ở mức độ ghi chép, tường thuật sự kiện. Mà nó còn lí giải, tìm
kiếm nguyên nhân sự việc cũng như gợi ý một hướng giải quyết.
Xu hướng thứ hai: Cho rằng phóng sự là thể loại báo chí mang bản chất tổng hợp kế
thừa phong cách sáng tạo của tất cả các thể loại báo chí
khác (như Tin, Phỏng vấn, Tường
thuật, Điều tra…)và cả văn học. Chính vì vậy phóng sự vừa có khả năng phản ánh một bức
tranh tổng thể hoặc một lát cắt tiêu biểu, độc đáo của hiện thực khách quan. Hoặc đi sâu
khám phá một số phận con người hay một tập thể người trong những điều kiện tự nhiên và
hoàn cảnh chính trị, kinh tế, xã hội cụ thể. Lại vừa có khả năng đem đến cho công chúng
báo c
hí những cảm xúc thẩm mĩ từ cái hay, cái đẹp của cuộc sống, của con người cụ thể.
Xu hướng này coi trọng cảm xúc của tác giả phóng sự, người có nhiệm vụ làm cho công
chúng tiếp nhận thông tin có thể “nhìn” thấy được không gian, thời gian, hành động, con
người, và diễn biến của sự việc. Qua đó công chúng sẽ thấy rõ mối liên hệ chặt chẽ giữa sự
kiện, người kể với họ.


đúng người và việc mà họ đang quan tâm theo
dõi (…) việc sử dụng một số phương tiện
biểu đạt của văn học như các biện pháp tu từ, ngôn ngữ giàu hình ảnh, hướng vào thế giới
bên trong (ở một mức độ nhất định) của nhân vật …khiến cho phóng sự vốn từ báo chí, có
thể trở thành văn học” [Dẫn theo 20, tr. 39].
Cũng cùng quan điểm trên, năm 1992, trong cuốn “Kí báo chí”, Đức Dũng đã nêu ra một
định nghĩa về phóng sự : “Phóng sự là thể loại đứng giữa văn học và
báo chí, có khả năng
trình bày diễn tả những sự kiện, con người, tình huống điển hình trong một quá trình phát

sinh phát triển, đồng thời thẩm định hiện thực đó thông qua cái tôi trần thuật vừa tỉnh táo
vừa lí trí vừa cảm xúc với một bút pháp giàu chất văn học” [2, tr.60] .
Tóm lại có thể nói, tuy góc độ tiếp cận phóng sự có khác nhau dẫn đến nhiều quan điểm
phóng sự không giống nhau nhưng đều gặp nhau ở những điểm chung, cơ bản về chức năng
thể loại: Mô tả người thật, việc thật có tính chất thời sự, xã hội theo một quá
trình vận động
khách quan. Chính vì vậy người ta có thể tập hợp các quan niệm để rút ra một khái niện thể
loại đầy đủ với đặc trưng của thể loại như sau:
“Phóng sự là một thể loại báo chí quan trọng, thông tin cụ thể và sinh động về con
người, sự việc, tình huống, hoàn cảnh có thật, có ý nghĩa t
hời sự theo một quá trình phát
sinh, phát triển thông qua cái Tôi tác giả và ngôn ngữ giọng điệu linh hoạt với bút pháp mô
tả tường thuật kết hợp với nghị luận.” [20, tr.44]
Khái niệm trên bao hàm những ý sau:
- Khẳng định phóng sự là một thể loại báo chí.
- Thừa nhận phóng sự phản ánh sự việc sự kiện, con người và những hành động, việc
làm có thật trong quá trình phát sinh, phát triển.
- Ghi nhận phóng sự có quan hệ mật thiết với văn học, sử dụng bút pháp văn học như tả,
bình, thuật và các biện pháp tu từ, ngôn ngữ giàu hình ảnh, hướng vào nội tâ
m nhân vật ở

cực, hạnh phúc hay bất hạnh, đáng biểu dương hay đáng phê phán, cần đồng cảm hay
khuyến khí
ch.
Tính xác thực trong thông tin đòi
hỏi người viết phóng sự phải thực sự hiểu biết về vấn
đề mình đề cập. Tác giả phải là người tận mắt chứng kiến sự việc hoặc tự mình tìm hiểu vấn
đề thông qua những nhân chứng đáng tin cậy, thậm chí người viết phóng sự phải xâm nhập,
thể nghiệm vào cuộc sống, nghề nghiệp mà mình muốn đề cập. Để viết được “Tôi kéo xe”,
tác giả Tam
Lang Vũ Đình Chí đã phải cởi bỏ bộ đồ kí giả, chụp lên đầu chiếc nón và mặc
lên người bộ quần áo phu xe để hiểu đến tận cùng nỗi vất vả nhọc nhằn của những kiếp
“người ngựa” và từ đó kêu gọi xoá bỏ công việc đầy bất công ấy. Vũ Trọng Phụng cũng
phải cố gắng làm quen đư
ợc những nhân vật đáng tin cậy để tìm những thông tin chính xác
cho phóng sự “Lục xì”, hoặc tự mình hoá thân thành những kẻ bán sức lao động trong
phóng sự “Cơm thầy cơm cô”. Ngô Tất Tố cũng phải đến từng nhà, thăm từng người để có
thể viết được những trang phóng sự về nông thôn đầy đủ và sâu sắc.
Phản ánh tr
ong phóng sự không chỉ dừng lại ở một hiện tượng, một sự kiện đơn lẻ mà

còn trình bày một chuỗi các sự kiện. Các sự kiện, sự việc được đặt ra trong tiến trình lịch sử,
quá trình phát sinh phát triển khiến người đọc dễ dàng theo dõi và nắm bắt được vấn đề.
Người viết trình bày một cách khách quan diễn biến của câu chuyện, sự việc, đồng thời
cũng nhằm chứng minh cho một kết luận của m
ình hoặc từ đó gợi mở những vấn đề có ý
nghĩa xã hội nhất định.
Chí
nh vì đặc trưng này của phóng sự, nhà nghiên cứu Vũ Ngọc Phan đã viết: “ở các
nước, người ta thường căn cứ vào những thiên phóng sự có giá trị để định lại pháp luật, sửa


Tính chính xác: Ngôn ngữ phóng sự phải biểu đạt đúng bản chất sự vật, hiện tượng trong
từng thời khắc nhất định, trong bối cảnh cụ thể, nhằm tạo ra một văn bản đơn nghĩa, dễ hiểu.
Tính hàm súc: Tính hàm súc của ngôn ngữ phóng sự nảy sinh từ yêu cầu phải cu
ng cấp
một lượng thông tin cao về con người và sự kiện trong một diện tích ngôn ngữ hạn hẹp trên
trang báo, cho nên cần phải sử dụng từ ngữ sao cho đắt nhất, có giá trị biểu đạt cao nhất,
thực hiện được chức năng giao tiếp lí trí có hiệu quả nhất.

Trích đoạn Bút pháp miêu tả trong trần thuật. Kết cấu giản dịnh ưng chặt chẽ Những đóng góp lớn về nội dung Vạch trần bản chất xấu xa của các thế lực trong xã hội thực dân phong kiến
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status