BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐÀ LẠT
KHOA NGỮ VĂN VÀ VĂN HÓA HỌC
BẦI TIỂU LUẬN
CHỦ ĐỀ:
GVHD:ThS:Lê Văn Sơn
SVVB:Trần Xuân Hạnh
MSSV:0911406
ĐÀ LẠT.4/2011
1
MỤC LỤC
TỰA ĐỀ TRANG
I/LỜI MỞ ĐẦU 3
II/TOÀN CẦU HÓA 4
1) Định nghĩa 4
2) Ý nghĩa toàn cầu hóa 4
3) Các dấu hiệu toàn cầu hóa 5
III/TÁC ĐỘNG CỦA TOÀN CẦU HÓA 6
1) Khía cạnh kinh tế 6
2) Khía cạnh chính trị 6
3) Khía cạnh văn hóa xã hội,ngôn ngữ 7
a/Những thách thức từ toàn cầu hóa đới với văn hóa dân tộc 7
b/Những mặt tích cực và tiêu cực của toàn cầu hóa 9
b.2 Tích cực 9
b.2 Tiêu cực 10
4)Toàm cầu hóa và những ảnh hưởng của nó đến việc giữ gìn và phát huy
bản sắc văn hoa dân tộc 11
a/Tác động của toàn cầu hóa đến truyền thống hiếu học của
dân tộc Việt Nam 13
Thuật ngữ toàn cầu hoá xuất hiện vào những năm 1950, với sự phổ biến các
phương tiện vận tải có động cơ và sự gia tăng các trao đổi thương mại; và được
chính thức sử dụng rộng rãi từ những năm 1990 của thế kỷ thứ XX.
Toàn cầu hóa là khái niệm dùng để miêu tả các thay đổi trong xã hội và trong
nền kinh tế thế giới, tạo ra bởi mối liên kết và trao đổi ngày càng tăng giữa các
quốc gia, các tổ chức hay các cá nhân ở góc độ văn hóa, kinh tế, v.v trên quy mô
toàn cầu. Đặc biệt trong phạm vi kinh tế, toàn cầu hoá hầu như được dùng để chỉ
các tác động của thương mại nói chung và tự do hóa thương mại hay "tự do
thương mại" nói riêng. Cũng ở góc độ kinh tế, người ta chỉ thấy các dòng chảy tư
bản ở quy mô toàn cầu kéo theo các dòng chảy thương mại, kỹ thuật, công nghệ,
thông tin, văn hoá.
2/Ý nghĩa của toàn cầu hóa
"Toàn cầu hóa" có nghĩa là:
• Sự hình thành nên một ngôi làng toàn cầu — dưới tác động của những tiến
bộ trong lĩnh vực tin học và viễn thông, quan hệ giữa các khu vực trên thế
giới ngày càng gần gũi hơn, cộng với sự gia tăng không ngừng về các trao
đổi ở mức độ cá nhân và sự hiểu biết lẫn nhau cũng như tình hữu nghị giữa
các "công dân thế giới", dẫn tới một nền văn minh toàn cầu,
• Toàn cầu hoá kinh tế — "thương mại tự do" và sự gia tăng về quan hệ giữa
các thành viên của một ngành công nghiệp ở các khu vực khác nhau trên
thế giới (toàn cầu hoá một nền kinh tế) ảnh hưởng đến chủ quyền quốc gia
trong phạm vi kinh tế.
• Tác động tiêu cực của các tập toàn đa quốc gia tìm kiếm lợi nhuận việc sử
dụng các phương tiện luật lệ và tài chính mạnh mẽ và tinh vi để vượt qua
giới hạn của các tiêu chuẩn và luật pháp địa phương hòng lợi dụng nhân
công và dịch vụ của các vùng phát triển chưa đồng đều lẫn nhau.
• Sự lan rộng của chủ nghĩa tư bản từ các quốc gia phát triển sang các quốc
gia đang phát triển.
Khái niệm này cũng chia sẻ một số tính chất với khái niệm quốc tế hoá và có thể
dùng thay cho nhau được, mặc dù có một số người thích dùng "toàn cầu hoá" để
• Phát triển hạ tầng viễn thông toàn cầu
• Phát triển các hệ thống tài chính quốc tế
• Gia tăng thị phần thế giới của các tập đoàn đa quốc gia
• Gia tăng vai trò của các tổ chức quốc tế như WTO, WIPO, IMF chuyên xử
lý các giao dịch quốc tế
• Gia tăng số lượng các chuẩn áp dụng toàn cầu; v.d. luật bản quyền
5
III/TÁC ĐỘNG CỦA TOÀN CẦU HÓA
1/Khía cạnh kinh tế
Các tổ chức quốc gia sẽ mất dần quyền lực (xem ảnh hưởng về khía cạnh chính trị
phía dưới), quyền lực này sẽ chuyển về tay các tổ chức đa phương như WTO. Các
tổ chức này sẽ mở rộng việc tự do đối với các giao dịch thương mại, và thông qua
các hiệp ước đa phương hạ thấp hoặc nâng cao hàng rào thuế quan để điều chỉnh
thương mại quốc tế.
Toàn cầu hóa cũng làm cho hiện tượng "chảy máu chất xám" diễn ra nhiều và dễ
dàng hơn, kéo theo biến tướng là nạn "săn đầu người". Hai hiện tượng này đã góp
phần gia tăng khoảng cách giàu nghèo giữa các quốc gia phát triển và đang phát
triển, giữa từng khu vực riêng biệt trong một đất nước.
2/Khía cạnh chính trị
Toàn cầu hoá sẽ làm tăng lên nhiều lần các mối quan hệ giữa các công dân trên thế
giới và cũng như các cơ hội cho từng người. Tuy nhiên nó đặt ra vấn đề là phải tìm
ra một giải pháp thay thế cho hệ thống chính trị và hiến pháp hiện tại dựa trên khái
niệm nhà nước-quốc gia. Các thực thể này đã từng gây ra những tác động tiêu cực
trong suốt lịch sử do tính chất can thiệp mạnh bạo của nó. Ảnh hưởng của chúng
giảm dần do sự toàn cầu hoá, và không còn đủ tầm xử lý nhiều thách thức mang
tính toàn cầu ngày nay.
Từ đó nảy sinh thách thức cần thiết lập một toàn cầu hoá dân chủ thể chế nào đó.
Kiểu toàn cầu hoá này dựa trên khái niệm "công dân thế giới", bằng cách kêu gọi
mọi người sống trên hành tinh này tham gia vào quá trình quyết định những việc
liên quan đến họ, mà không thông qua một bức màn "quốc tế".
dân tộc.
Những nguy cơ, thách thức do toàn cầu hóa đối với văn hóa dân tộc biểu hiện ở
những mặt sau:
Thứ nhất, nguy cơ làm lu mờ quan điểm coi trọng truyền thống, dẫn đến
tình trạng xem nhẹ tính kế thừa các giá trị văn hóa dân tộc trong bộ phận cán bộ
nhân dân. Đó là thông qua các quan hệ kinh tế, các nước tư bản tích cực truyền
bác các giá trị phương Tây, khai thác và phát triển tâm lý hưởng lạc vật chất tầm
thường, đánh vào thị hiếu thấp hèn của một bộ phận dân chúng và cán bộ, công
chức trong hệ thống chính trị làm thay đổi quan niệm của họ về giá trị văn hóa
truyền thống. Các giá trị văn hóa phương Tây đang thâm nhập ngày càng tăng, từ
đó tạo ra trong lòng xã hộiii trào lưu “cách tân”, xem nhẹ và quay lưng lại với các
giá trị truyền thống và coi thường tính kế thừa, tạo ra một lớp người “mới” xa lạ,
mất gốc và không định hướng được tương lai, gieo rắc và khuyến khích các loại
hình văn hóa độc hại, các tệ nạn xã hộiii phát triển nhằm từng bước hủy hoại sức
7
sống văn hóa dân tộc. Theo tổ chức Văn hóa, Khoa học, Giáo dục của Liên Hợp
Quốc (UNESCO) hiện nay hãng thông tấn liên bang và hãng thông tấn AP (Mỹ)
sử dụng 100 thứ tiếng để phát tin liên tục trong ngày 24/24 giờ vào 100 quốc gia.
Mạng internet, số lượng bài viết truyền bá các giá trị Mỹ và phương Tây với gần 7
triệu chữ được đưa lên mạng hàng ngày. Các chương trình truyền hình của các
nước đang phát triển sử dụng từ 60 -70% các nội dung chương trình của các kênh
truyền hình Mỹ và phương Tây, biến các kênh truyền hình, phát thanh của các
nước này thành trạm trung chuyển cho truyền hình Mỹ và Phương Tây.
Thứ hai, nguy cơ đồng hóa văn hóa bởi cái gọi là giá trị của “thế giới tự
do”. Bắt nguồn từ học thuyết của S. Hăn -Tinh- Tơn, một học giả người Mỹ với
tên gọi “Cuộc xung đột giữa các nền văn minh”
(2)
. Bản chất của học thuyết này
chỉ bao biện cho các hành động của chủ nghĩa đế quốc, gieo rắc tâm lý lo sợ về
một thảm họa do xung đột văn hóa gây ra. Điều mà chúng ta thấy ở đây đó là văn
GDP thế giới tăng hơn 2,7 lần, đến cuối thế kỷ thì đã tăng lên 5,5 lần. Toàn cầu
hóa góp phần chuyển biến cơ cấu kinh tế thế giới, đặc biệt tăng mạnh các sản
phẩm chế tác, chiếm khoảng 22% và các dịch vụ chiếm 63% trong cơ cấu kinh tế
thế giới. Toàn cầu hóa tạo thêm những tiền đề rất quý cho xã hộiii mới hiện đại.
Xét từ góc độ này, ngay cả những khiếm khuyết của toàn cầu hóa tuy có hại nhưng
nó đã góp phần vào việc đặt ra hoặc cảnh báo những vấn đề lớn của tương lai và
mở ra các giải pháp. Sự phát triển bền vững kinh tế xã hội với sự tôn vinh con
người là nguồn lực chính, với mối quan tâm đặc biệt tới môi trường sinh thái cũng
xuất phát từ tiến trình toàn cầu hóa. Mặt khác, toàn cầu hóa truyền bá và chuyển
giao trên quy mô ngày càng lớn những thành quả, những đột phá sáng tạo về khoa
học và công nghệ, về tổ chức và quản lý, về sản xuất và kinh doanh, đưa kiến thức
và kinh nghiệm đến với các dân tộc, đến từng hộ gia đình, từng con người và dọn
đường cho công nghiệp hóa và hiện đại hóa. Chính toàn cầu hóa tạo nên khả năng
phát triển rút ngắn, mang lại những nguồn lực rất quan trọng, cần thiết cho các
nước đang phát triển từ các nguồn vốn vật chất đến các nguồn tri thức và kinh
nghiệm, cả về chiến lược lâu dài, về tổ chức và cả ở tầm vĩ mô của một quốc gia
và tầm vi mô của từng doanh nghiệp và cá thể. Toàn cầu hóa đã gây sức ép mãnh
liệt và gay gắt về mặt cạnh tranh do dó đòi hỏi những tiến hành cải cách sâu rộng
để nâng cao sức cạnh tranh và hiệu quả của mỗi nền kinh tế, mỗi doanh nghiệp,
chỉ rõ yếu tố hàng đầu của yếu tố chất lượng, thời gian, nâng cao giá trị gia tăng để
có sức cạnh tranh và hiệu quả. Mặt khác, toàn cầu hóa mở ra những địa bàn và
cách thức hoạt động mới, những thị trường mới, những đối tác mới cho từng nước
như các nước đang phát triển. Toàn cầu hóa thúc đẩy sự xích lại gần nhau giữa các
dân tộc, kích thích các luồng và các dạng giao lưu, làm cho con người ở mọi châu
lục ngày càng hiểu biết nhau hơn, nắm bắt được mọi tình hình, cập nhật ở mọi nơi
và góp phần tác động nhanh chóng đến các sự kiện. Toàn cầu hóa cũng góp phần
vào sự nâng cao dân trí và sự tự khẳng định mình của các dân tộc và của từng con
người.
9
b.2. Mặt tiêu cực
4. Toàn cầu hóa và ảnh hưởng của nó đến việc giữ gìn và phát triển
bản sắc văn hóa dân tộc
Như trên đã phân tích, toàn cầu hóa đang tác động mạnh mẽ đến các lĩnh
vực trong đó có văn hóa, đặc biệt như Việt Nam, một dân tộc có nền văn hóa lâu
đời, khẳng định niềm tự hào của bao thế hệ về độc lập chủ quyền của đất nước
trước kẻ thù xâm lược. Văn hóa là một di dản vô cùng quý báu được lưu truyền, kế
thừa từ thế hệ này sang thế hệ khác. Bản sắc văn hóa Việt nam bao gồm những giá
trị bền vững, những tinh hoa của cộng đồng các dân tộc được vun đắp nên trong
quá trình dựng và giữ nước. Nó kết tinh những gì tốt đẹp nhất, đặc sắc nhất, độc
đáo nhất của các cộng đồng dân tộc Việt Nam, nó có giá trị bền vững, trường tồn
cùng thời gian, như một chất keo gắn kết cộng đồng người Việt với nhau để cùng
tồn tại và phát triển. Nó biểu hiện cụ thể ở lòng yêu nước, ý chí tự lực tự cường
dân tộc, tinh thần đoàn kết, tương thân tương ái, ý thức cộng đồng gắn kết cá nhân
- gia đình - làng xã - Tổ Quốc - lòng nhân ái, sự khoan dung, trọng nghĩa, trọng
tình, cần cù, chịu khó sáng tạo trong lao động, học tập, sự tinh tế trong ứng xử,
giản dị trong lối sống
Cốt lõi của văn hóa là bản sắc văn hóa dân tộc. Từ ngàn đời nay, bản sắc văn hóa
dân tộc Việt Nam đã làm nên sức sống mãnh liệt, giúp cộng đồng người Việt vượt
qua biết bao thử thách cam go để không ngừng phát triển và lớn mạnh. Đó cũng
chính là điểm tựa cơ bản để chúng ta hòa nhập vào thế giới. Tính dân tộc là yếu tố
cấu thành bản chất nhất của văn hóa, bản sắc dân tộc của văn hóa là những nét tiêu
biểu nhất của văn hóa, là những giá trị bền vững của dân tộc. Đó là cái độc đáo,
cái riêng có tính bản chất của văn hóa Việt Nam. Điều có thể nhận thấy cái riêng
đó trong phong tục tập quán, trong nếp sống, cách ăn, cách ở, cách mặc, lễ hội, tín
ngưỡng, kho tàng văn hóa dân gian.
Người Việt nam có truyền thống yêu nước, căm thù giặc mà đoàn kết đấu
tranh chống lại kẻ thù xâm lược, bảo vệ chủ quyền và độc lập của đất nước. Đó là
biểu hiện của tinh thần dân tộc, ý chí giữ gìn những gì thuộc về Việt Nam. Nhân
dân Việt Nam đấu tranh chống kẻ thù không chỉ bằng mọi thứ vũ khí, súng đạn mà
bằng cả văn hóa. Trong các thời kỳ cách mạng, văn hóa Việt Nam được coi là một
của mình. Những thành tựu khoa học - công nghệ của thế giới cùng với việc mở
cửa giao lưu quốc tế là cơ hội để Việt Nam tiếp thu thành quả trí tuệ của nhân loại.
Đề từ đó, tạo nên một nền văn hóa mới: Kết hợp hài hòa giữa truyền thống và hiện
đại, dân tộc và quốc tế. Chiếc áo dài truyền thống có những nét cách tân trong kiểu
dáng, hoa văn trang trí. Nhiều bài hát lấy chất liệu từ dân gian nhưng lại được phối
theo những thể loại nhạc hiện đại như pop, hiphop, rock đã tạo nên sự hấp dẫn
cuốn hút người nghe. Con người Việt Nam, nhất là lớp trẻ vẫn giữ được nét giản
dị, thuần khiết nhưng lại thông minh, năng động, nhạy bén trước nhịp sống
phương Tây. Cùng với những phong tục tập quán, lễ hội ngày Tết, người Việt
Nam vẫn nô nức tham gia những sinh hoạt văn hóa của phương Tây như Noel,
Valentine, Hallowen và nhiều lễ hội khác
Hướng tới bản sắc văn hóa dân tộc, chúng ta cần nhìn nhận đánh giá một
cách công bằng, minh bạch. Tránh những suy xét ngộ nhận, cho rằng những gì
trong quá khứ của dân tộc đều là những cái tốt, cái hay, cái đẹp mà không có
những hạn chế, thậm chí tiêu cực. Tìm về bản sắc văn hóa dân tộc trong xu thế
toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế chúng ta nhìn nhận thấy những yếu kém cần khắc
phục đó là một số người còn mơ hồ, bàng quan hoặc mất cảnh giác trước những
luận điệu thù địch, xuyên tạc, không ít trường hợp vì đồng tiền và danh vị mà chà
đạp lên tình nghĩa gia đình, quan hệ thầy trò, đồng chí, đồng nghiệp. Nghiêm trọng
hơn là ở một bộ phận cán bộ đảng viên, lớp trẻ biểu hiện suy thoái về đạo đức lối
sống.
Giao lưu văn hóa với người ngoài chưa chủ động, tích cực, còn nhiều sơ hở.
Nhiều thứ văn hóa phẩm độc hại, phản động thẩm lậu vào nước ta, trong khi đó,
còn nhiều tác phẩm văn hóa có giá trị của nước ta lại ít đưa ra nước ngoài. Chung
ta cũng chưa tạo ra được nhiều kênh thông tin để đồng bào Việt Nam ở nước ngoài
tìm hiểu bản sắc văn hóa dân tộc, liên hệ mật thiết với quê nhà, góp phần công
sức, trí tuệ, kinh tế vào sự nghiệp xây dựng và phát triển của đất nước.
12
a/Tác động của toàn cầu hoá đến truyền thống hiếu học của dân tộc Việt Nam
• Tóm tắt các kết luận của luận văn:Toàn cầu hoá là một xu thế tất yếu,
với một đất nước đang trên con đường hội nhập để phát triển như Việt
Nam. Sự tác động của toàn cầu hoá đến truyền thống hiếu học của dân tộc
cần được nghiên cứu theo hướng chuyên sâu và mở rộng hơn để hướng
đến xây dựng xã hội ta trở thành một xã hội học tập, có một nền kinh tế tri
thức phát triển theo xu hướng chung của thời đại hiện nay
13
b /Tác động của toàn cầu hóa đến truyền thống cần cù, tiết kiệm của dân
tộc Việt Nam
Với bề dày lịch sử hàng ngàn năm, dân tộc Việt Nam đã xây dựng cho mình
một hệ thống các giá trị truyền thông, trong đó có đức tính cần cù và tiết kiệm.
Trong điều kiện hiện nay, toàn cầu hoá, trước hết là toàn cầu hoá kinh tế, đã và
đang tác động mạnh mẽ đến các giá trị đó theo những chiều hướng khác nhau,
cả tích cực lẫn tiêu cực. Khi đất nước còn nghèo, hơn nữa, còn phải vượt qua
muôn vàn thách thức mà quá trình toàn cầu hoá đặt ra, chúng.ta cần tiếp tục
phát huy đặc tính cần cù và tiết kiệm, gắn cần cù với tiết kiệm. Đó vừa là cách
đê chúng ta khẳng đinh và giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc, vừa là phương thức
tăng cường nội lực nhằm tạo đà cho sự phát triển ổn định và bền vững của đất
nước.
Có vẻ sẽ thật là ngớ ngẩn nếu như mỗi một người trong chúng ta lại không tự
trả lời được những câu hỏi, như chúng ta là ai? chúng ta sinh ra từ cội nguồn
nào? chúng ta thuộc về dân tộc nào và chúng ta có gì giống cũng như có gì
khác với những con người ở các dân tộc khác? Thế nhưng, trong điều kiện
toàn cầu hoá hiện nay, những câu hỏi tưởng chừng rất đơn giản như vậy lại khó
có thể trả lời một cách dễ dàng, chính xác.
Trước tiên, chúng ta cần phải thừa nhận rằng, mỗi một dân tộc trên thế giới đều
sinh sống trong những điều kiện tự nhiên và xã hội không hoàn toàn giống
nhau, thậm chí còn trái ngược nhau. Cũng chính vì vậy, ở mỗi dân tộc sẽ hình
thành một nền văn hoá khác nhau với những phong tục, tập quán, tâm lý, thói
quen, truyền thống, chuẩn mực đạo đức, lối sống, tư tưởng (tức là những ý
thức xã hội) khác nhau, phản ánh tồn tại xã hội của chính dân tộc đó.
các thể chế quốc tế và đi cùng với nó là các lực lượng phá hoại như khủng
bố hay tôn giáo cực đoan
Các công ty đa quốc gia, xuyên quốc gia ngày nay thậm chí còn có sức
mạnh hơn cả những quốc gia trung bình, có khả năng ảnh hưởng to lớn đến
nền kinh tế thế giới. Đồng thời, các lực lượng phá hoại xuất hiện và hoạt
động trên quy mô toàn cầu, kết quả của những xung đột giữa các dân tộc,
các sắc tộc, các tôn giáo, mà nguyên nhân sâu xa là sự xung đột về kinh tế,
chính trị được che đậy dưới hình thức của sự xung đột về tôn giáo, cũng
phải được nhìn nhận như một mặt khác của toàn cầu hóa về văn hóa. Đây là
vấn đề sâu sắc nhất, bức thiết nhất trong xu thế lớn toàn cầu hóa mà chúng
ta không thể chỉ xem xét thông qua các lực lượng thị trường.
Nhiều người lo ngại rằng trong thời đại hiện nay, khi toàn cầu hóa về kinh
tế đang được tiến hành ngày càng rõ nét, các nền văn hóa do có năng lực
khác nhau nên các nước giàu, bằng tiềm lực kinh tế, bằng cơn lũ hàng hóa
của mình, có thể sẽ quy định các tiêu chuẩn văn hóa của hàng hóa, áp đặt
cho các dân tộc yếu hơn các tiêu chuẩn văn hóa của nó. Theo chúng tôi,
mối lo ngại này không có cơ sở. Không một nền văn hóa nào có thể lấn át
nền văn hóa nào. Bởi vì con người tiếp nhận các ảnh hưởng của văn hóa
một cách tự nhiên, một cách từ từ và nó có quá trình chọn lọc. Hơn nữa,
bản lĩnh văn hóa của mỗi quốc gia là kết quả của sự hình thành tự nhiên có
chọn lọc qua một quá trình lịch sử đủ dài. Do đó, về bản chất, toàn cầu hóa
về văn hóa chỉ góp phần thúc đẩy sự hợp tác và chọn lọc giữa các nền văn
hóa chứ không thể gây áp lực hay lấn át bản lĩnh văn hóa của bất cứ nền
văn hóa nào
15
c.2. Toàn cầu hóa về văn hóa và bản sắc văn hóa dân tộc
Nếu độc lập văn hóa nhấn mạnh đến khía cạnh chính trị của văn hóa thì bản
sắc văn hóa nhấn mạnh đến khía cạnh truyền thống của nó. Bản sắc văn hóa
là những đặc điểm để phân biệt dân tộc này với dân tộc khác và nó được
hình thành tự nhiên bởi sự tác động của nhiều yếu tố khác nhau như địa lý,
cá nhân nào.
Trong hai mươi năm đổi mới vừa qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng và Nhà
nước, nhân dân ta, đồng bào đã đạt được những thành tựu to lớn, đưa đất nước
vuợt qua tình trạng trì trệ kém phát triển trở thành một trong những quốc gia có
nền kinh tế phát triển nhanh và liên tục, an ninh chính trị ổn định trong nhiều năm
qua. Thành tựu hai mươi năm đổi mới vừa qua chính là nền tảng kinh tế - chính trị
- xã hội để Việt Nam vươn mình trở thành một nước công nghiệp phát triển hùng
mạnh, thật sự "sánh vai với các cường quốc năm châu" như lời tiên tri của Chủ
tịch Hồ Chí Minh vĩ đại. Trong những năm tháng có vai trò quyết định hiện nay,
chúng ta sẽ phải có những quyết định mang tính lịch sử liên quan đến tương lai, sự
phát triển, và bản sắc của quốc gia Việt Nam, dân tộc Việt Nam. Chúng ta sẽ phải
lựa chọn giữa việc dám chủ động thi đua, cạnh tranh với các nước trên khu vực và
quốc tế - hay thỏa mãn với những thành quả bước đầu khi so sánh những kết quả
trong quá khứ của chúng ta. Chúng ta sẽ phải lựa chọn hội nhập chủ động và toàn
cầu hóa - hay bị động theo xu hướng chung của thế giới và phụ thuộc vì sức cạnh
tranh của nền kinh tế không được cải thiện, vị thế quốc gia không được nâng cao.
Chúng ta sẽ phải lựa chọn giữa chủ động tiếp thu những giá trị văn hóa của thế
giới trên cơ sở phát huy bản sắc của truyền thống văn hóa Việt Nam - hay tiếp thu
tràn lan, thiếu chọn lọc, dẫn đến bị mất bản sắc văn hóa, bị hòa tan vào trong thế
giới toàn cầu hóa.
Tất cả những lựa chọn mang tính chiến lược nêu trên là quyết định của toàn thể
dân tộc ta, của hơn 83 triệu công dân Việt Nam và hơn 3 triệu kiều bào trên toàn
thế giới. Đảng và Nhà nước là những đại diện trung thành, là công cụ hiệu quả để
tập hợp, đoàn kết và phát huy ý chí, nguyện vọng, trí tuệ và nguồn lực của toàn thể
đại gia đình dân tộc Việt Nam trong thời kỳ mới, tận dụng vận hội mới. Nói cách
khác, sự phát triển của Việt Nam không phải là công việc của riêng một tổ chức,
cá nhân nào; mà đó là quyền lợi và trách nhiệm của mọi công dân, mọi kiều bào
17
tâm huyết. Ở đây cần đặc biệt nhấn mạnh đến vai trò của tầng lớp thanh niên, của
thế hệ tri thức trẻ; chính các bạn là những chủ nhân tương lai của đất nước, quyết
đắn, hành động thiết thực vì một nước Việt Nam
Chúng ta cần phải biết khai thác tốt những lợi thế mà thiên nhiên ban tặng
cho Việt Nam. Do vậy, ngành du lịch sẽ là một trong những trọng tâm để phát
triển, đặc biệt là du lịch sinh thái, du lịch văn hóa. Với xu hướng phục hưng của
các giá trị văn hóa Á Đông, xu hướng tiêu dùng các sản phẩm tự nhiên; cộng với
truyền thống và tinh hoa hàng ngàn năm của nền y học cổ truyền nước nhà; chúng
ta hoàn toàn có đủ những điều kiện cần thiết để phát triển ngành y học cổ truyền
dân tộc thành một ngành kinh tế mũi nhọn của đất nước, vừa góp phần nâng cao tố
chất của dân tộc, vừa góp phần gìn giữ và phát triển văn hóa, vừa tạo ra những sản
phẩm - dịch vụ độc đáo của Việt Nam trên thị trường thế giới.
Chúng ta cần thật sự thực hiện phương châm "giáo dục là quốc sách hàng
đầu", thực hiện lời dạy "vì lợi ích trăm năm trồng người" của Chủ tịch Hồ Chí
Minh. Xây dựng nên một nền giáo dục có tính toàn diện: từ thể chất, đến tinh thần,
đạo đức, và tri thức; giáo dục toàn dân: xã hội hóa giáo dục; và một nền giáo dục
trọn đời, một xã hội học tập. Chúng ta cần phải nhanh chóng khắc phục những yếu
kém trầm kha nhiều năm qua của nền giáo dục nước nhà. Đảng, Nhà nước, và toàn
thể cộng đồng hãy cùng hưởng ứng thiết thực phong trào xóa bỏ tiêu cực trong
giáo dục, tôn vinh giá trị thực học. Chúng ta phải phát huy truyền thống cần cù,
thông minh, hiếu học của dân tộc; biến đó thành một lợi thế cạnh tranh trong nền
kinh tế tri thức. Trở lại lịch sử, ngay từ thế kỷ thứ 18 nhà bác học Lê Quý Đôn đã
có một nhận xét hết sức đúng đắn "Phi nông bất ổn, phi thương bất hoạt, phi công
bất phú, phi trí bất hưng". Như vậy, cha ông ta đã ý thức rất rõ tri thức sẽ đóng vai
trò quyết định đến sự hưng thịnh và hùng mạnh của quốc gia. Điều đó chúng ta
hoàn toàn có thể làm được. Một đất nước phát triển bền vững khi vật chất ngày
một sung túc, các giá trị đạo đức tinh thần ngày được bồi đắp. Một xã hội chỉ biết
chạy theo những giá trị vật chất sẽ là một xã hội hỗn loạn, bất ổn; là môi trường tốt
cho nhiều tệ nạn xấu xa và nguy hiểm phát sinh và hoành hành. Chúng ta cần đoàn
kết, huy động trách nhiệm và nỗ lực của toàn dân tộc, của cả cộng đồng quốc tế để
đấu tranh chống các tệ nạn xã hội, chống tiêu cực, tham nhũng, chống các hành vi
19
tham gia các hoạt động văn hóa, đặc biệt là phong trào “toàn dân đoàn kết xây
dựng đời sống văn hóa” trong từng thôn, ấp, phường, xã, khối phố. Chú trọng đầu
tư xây dựng và phát huy hiệu quả các thiết chế văn hóa, phát triển và nâng cao
chất lượng xây dựng gia đình, thôn ấp, khu phố văn hóa.
Hai là, chú trọng, bảo tồn và phát triển các giá trị văn hóa, bản sắc và
truyền thống dân tộc. Giữ gìn các tác phẩm nghệ thuật, bảo vật, cổ vật và di vật có
giá trị đặc sắc. Coi trọng sưu tầm, khai thác các giá trị văn hóa vật thể và phi vật
thể.
Ba là, tích cực xây dựng đời sống văn hóa đại chúng và môi trường văn hóa
lành mạnh. Phát triển xã hộiii hóa các hoạt động văn hóa nghệ thuật. Nâng cao
chất lượng và mở rộng toàn diện, phổ biến các sản phẩm văn hóa đáp ứng nhu cầu
hưởng thụ văn hóa ngày càng cao và đa dạng của các tầng lớp nhân dân, làm cho
văn hóa thấm sâu vào từng khu dân cư, từng người, từng gia đình và xã hộiii.
Bốn là, tiếp tục mở rộng hợp tác giao lưu văn hóa quốc tế. Tiếp thu có chọn
lọc các giá trị văn hóa nhân loại, nhân văn, khoa học. Giới thiệu những tinh hoa,
bản sắc văn hóa, những thành tựu to lớn của Việt Nam qua hơn 20 năm đổi mới và
chính sách hội nhập của Đảng và Nhà nước ta “Việt Nam muốn là bạn của tất cả
các nước”.
Năm là, tăng cường công tác kiểm tra, giám sát và có biện pháp quản lý
nhà nước chặt chẽ, có hiệu quả đối với các hoạt động văn hóa. Kiên quyết chống
lại những hiện tượng phản văn hóa, phi văn hóa.
Sáu là, tăng cường công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ làm văn
hóa, nhất là đội ngũ cán bộ văn hóa cơ sở mới đủ khả năng đáp ứng yêu cầu bảo
vệ, giữ gìn và phát triển bản sắc văn hóa dân tộc trong xu thế toàn cầu hóa và hội
nhập kinh tế quốc tế hiện nay./.
21
VII/LỜI KẾT
Những vấn đề toàn cầu đang tiếp tục diễn ra ngày càng mạnh mẽ và sâu
sắc, bên cạnh những thời cơ và vận hội mới, cũng có không ít đến rủi ro và thách
thức đối với nước ta. “Việt Nam và những vấn đề toàn cầu” đã minh chứng một sự
Nam(Mai Thị Quý_ Tạp chí Triết học) 10:08' AM - Thứ năm, 23/12/2010
6.Kinh nghiệm bản thân(thời gian học tập và làm việc ở nhà hàng Momjji 98
Trương Công Định)
23