Tài liệu TIỂU LUẬN: Tác động của tự do hoá thương mại tới hoạt động xuất khẩu lao động của công ty dịch vụ xuất khẩu lao động và chuyên gia SULECO doc - Pdf 10


TIỂU LUẬN:

Tác động của tự do hoá thương mại tới
hoạt động xuất khẩu lao động của công
ty dịch vụ xuất khẩu lao động và chuyên
gia SULECO LỜI MỞ ĐẦU

Ngày nay với nền kinh tế phát triển theo hướng toàn cầu hoá, việc người lao
động ra nước ngoài làm việc là một hiện tượng phổ biến như một tất yếu của xã hội.
Giải quyết việc làm thông qua xuất khẩu lao động đã trở thành một lĩnh vực hoạt động
đem lại lợi ích kinh tế - xã hội quan trọng cho nhiều quốc gia. Nhất là trong giai đoạn
hiện nay khi giải quyết vấn đề việc làm và thất nghiệp đang là một bài toán hóc búa

nhằm phát triển hoạt động xuất khẩu lao động của công ty.
 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu.
Đối tượng nghiên cứu là hoạt động xuất khẩu lao động của Công ty dịch vụ xuất
khẩu lao động và chuyên gia Suleco.
Phạm vi nghiên cứu chủ yếu tập trung vào các giải pháp vi mô (của Công ty)
nhằm đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu lao động của Công ty dịch vụ xuất khẩu lao động
và chuyên gia Suleco, thời gian nghiên cứu chủ yếu trong khoảng những năm từ 2006-
2009
 Nội dung của đề tài nghiên cứu gốm 3 chương.
+ Chương 1: Ảnh hưởng của quá trình tự do hoá thương mại tới hoạt động xuất
khẩu lao động.
+ Chương 2: Thực trạng hoạt động xuất khẩu lao động của công ty dịch vụ xuất
khẩu lao động và chuyên gia Suleco.
+ Chương 3: Một số giải pháp nhằm đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu lao động
của công ty dịch vụ xuất khẩu lao động và chuyên gia Suleco
CHƯƠNG 1:
ẢNH HƯỞNG CỦA QUÁ TRÌNH TỰ DO HOÁ THƯƠNG MẠI TỚI HOẠT
ĐỘNG XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG.

1. Hướng phân tích
Xuất khẩu lao động được hiểu là việc đưa lao động và chuyên gia Việt Nam đi

lượng lao động do thị trường bị thu hẹp, người dân tiết kiệm chi tiêu. Do tác động của
quá trình toàn cầu hoá má nến kinh tế thế giới ngay càng phát triển một cách mạnh mẽ
kéo theo đó là nhu cầu vế lao đông của các quốc gia phát triển ngày càng tăng mạnh.
Theo Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF), thị trường lao động thế giới hiện nay đã tăng gấp 4 lần
so với năm 1980 và dự báo sẽ tăng gấp đôi vào 2050. Ở các nước phát triển chẳng hạn
như Mỹ, giới phân tích thị trường việc làm cho rằng lao động có tay nghề, có kỹ thuật
cao vẫn thiếu trầm trọng. Trong xu hướng toàn cầu hoá gia tăng cùng với việc thiếu
lao động trầm trọng ở nhiều quốc gia trên thế giới, làn sóng người lao động ở các nước
đang phát triển thiếu việc làm đã di chuyển đến các nước phát triển với hy vọng tìm
việc làm và kiếm được nhiều tiền hơn.
Hiện nay cơ cấu kinh tế chuyển dịch nhanh sang những ngành dùng nhiều tư bản,
công nghệ và lao động trí thức, và chuyển sang nước ngoài (đầu tư trực tiếp, FDI)
những ngành có hàm lượng lao động giản đơn cao. Tuy nhiên, tại những nước công
nghiệp mới, những ngành dùng nhiều lao động giản đơn có quy mô khá lớn nên không
thể chuyển hết ra nước ngoài. Thêm vào đó, trong những ngành đang phát triển mạnh
tại những nước này, nhiều công đoạn còn dùng lao động giản đơn nên nhu cầu nhập
khẩu lao động tăng. Tại những nước phát triển (Tây Âu, Bắc Mỹ, Nhật), nhu cầu lao
động tăng trong ngành xây dựng, ngành dịch vụ ẩm thực, dịch vụ săn sóc người cao
tuổi, một số nước cần lao động trong nông nghiệp.
2.2 Tác động của kinh tế Việt Nam.
Tác động của nền kinh tế trong nước đối với các doanh nghiệp xuất khẩu lao
động có phần khác so với tác động của nền kinh tế thế giới hay nền kinh tế nước nhập
khẩu lao động. Vì các nền kinh tế tác động trực tiếp đến cầu về lao động nhập khẩu, còn nền kinh tế trong nước lại tác động trực tiếp lên nguồn cung lao động cho xuất
khẩu. Do đó khi nền kinh tế Việt Nam đi vào suy thoái, tỉ lệ thất nghiệp trong nước gia
tăng dẫn đến nhu cầu về việc làm gia tăng. Do đó các doanh nghiệp xuất khẩu lao
động sẽ dễ dàng tìm được lao động phù hợp để đáp ứng nhu cầu thị trường lao động
nước nhập khẩu. Không chỉ có lao động phổ thông, mà còn có cả các lao động kỹ

nông dân,tiếp thu ngoại ngữ chậm, lại được đào tạo trong thời gian quá ngắn, vì vậy
vốn kiến thức mà họ được trang bị cũng như học hỏi được là rất ít và không đồng bộ.
Ưu điểm của số lao động này là có sức khỏe, nhưng họ lại không có nghề nghiệp
chuyên môn và chưa quen với tác phong công nghiệp trong nền sản xuất của nước bạn.
Mặt khác, hệ thống đào tạo của nước ta chưa chú trọng về việc cho người lao động tìm
hiểu cũng như có kiến thức về văn hóa, chính trị, luật pháp cũng như những đặc trưng
của nước sở tại mà họ sẽ lao động, vì vậy tạo cho người lao động sự bỡ ngỡ khi làm
việc trong môi trường hoàn toàn mới và xa lạ này.
4. Tác động của yếu tố chính trị pháp luật.
4.1 Tác động của yếu tố chính trị - pháp luật nước nhập khẩu lao động.
Hệ thống chính trị pháp - luật được coi là người tạo lập ra các “ sân chơi “ cho
các hoạt đọng kinh tế, với công cụ là hệ thống pháp luật phù hợp. Do đó tác động của
hệ thống chính trị, luật pháp của các nước nhập khẩu lao động đến hoạt động của các
doanh nghiệp xuất khẩu lao động là rất lớn. Nó đảm bảo cho các doanh nghiệp có các
quyền bình đẳng cùng hoạt động. Tuy nhiên khi hệ thống chính trị bất ổn, gây ảnh
hưởng đến nền kinh tế quốc gia đó, gây ra tình trạng thất nghiệp, mất việc làm và cắt
giảm lao động ở các doanh nghiệp. Ngoài ra hệ thống chính trị luật pháp đưa ra những
điều luật qui định đối với doanh nghiệp xuất khẩu lao động nước ngoài, chỉ cần một sự
thay đổi nhỏ hay một qui định mới cũng có thể gây ra tác động lớn đối với một doanh
nghiệp xuất khẩu lao động
4.2 Tác động của yếu tố chính trị - pháp luật Việt Nam.
Đảng và Nhà nước ta luôn cho rằng, phát triển hợp tác quốc tế trong việc tổ
chức đưa người lao động và chuyên gia Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài là một
hoạt động kinh tế - xã hội nhằm góp phần phát triển nguồn nhân lực, giải quyết việc làm, tạo thu nhập và nâng cao trình độ tay nghề cho người lao động, tăng nguồn thu
cho đất nước và tăng cường quan hệ hợp tác với các nước trên thế giới. Song song với
quan điểm này, Chính phủ cũng đã ban hành nhiều văn bản quy định cụ thể về hoạt
động XKLĐ như bộ luật lao động, nghị định, thông tư hay các công văn hướng dẫn thi

diện chính sách đi làm việc ở nước ngoài. Công ty được quyền chủ động quyết định
hình thức hợp tác, liên kết với các thành phần kinh tế trong và ngoài nước để thực hiện
chức năng, nhiệm vụ được giao; chủ động chọn lựa đối tác, thị trường tiếp nhận lao
động, danh sách lao động được đưa đi làm việc ở nước ngoài để thực hiện chức năng
XKLĐ.
Trong các năm qua, Công ty Suleco là đơn vị hoạt động có hiệu quả, các chỉ tiêu
chủ yếu như số lượng lao động, doanh thu, lợi nhuận, nộp ngân sách đều tăng qua mỗi
năm, thu nhập cán bộ nhân viên được cải thiện và Công ty đã thực hiện được mục tiêu kinh tế cũng như nhiệm vụ chính trị- xã hội được giao, nhiều năm liền đạt danh hiệu
đơn vị thi đua xuất sắc, nhận Bằng Khen của Thủ tướng Chính phủ và Bằng khen của
UBND TP Hồ Chí Minh.
2. Thực trạng hoạt động xuất khẩu lao động của công ty dịch vụ xuất khẩu lao
động và chuyên gia Suleco giai đoạn 2006 - 2009.
2.1 Thực trạng.
2.1.1 Công tác tìm kiếm phát triển thị trường và đối tác:
Việc tìm kiếm, duy trì, phát triển thị trường và đối tác trong hoạt động xuất
khẩu lao động có ý nghĩa quyết định đến sự thành công của mỗi doanh nghiệp. Đây là
công việc khó khăn do cạnh tranh ngày càng gay gắt và khốc liệt, nó đòi hỏi doanh
nghiệp phải có chính sách phù hợp, mềm dẻo và linh hoạt với thị trường đầy biến động
của loại hàng hoá đặc biệt này.
Thông qua việc thành lập các văn phòng đại diện ở nước ngoài nhằm thực hiện
chức năng quản lý lao động. Mặt khác là tiếp thị mở rộng thị trường và tìm kiếm đối
tác. Như vậy, ngoài việc duy trì và phát triển được các thị trường, hợp đồng sẵn có,
Công ty còn mở thêm một số thị trường mới như: Ailen, Corinthia( Libia), Suzuko,
Tech One ( Nhật Bản), Mỹ, Canada.
Đối với từng thị trường Công ty có bộ phận xem xét đánh giá tình hình thực tế
và đưa ra những bước đi đúng đắn.
2.1.2. Công tác đàm phán và ký kết hợp đồng.
Bảng 1: Công tác xuất khẩu lao động của Suleco từ 2006- 2009
Đơn vị: Người
Năm

Đ
ã

tuy
ển chọn

Đưa đi

Đó
n v


Qu
ản lý

2006

1550

1
036

1
72


2009

1715

116
8

3
96

14
07

Nguồn: Slueco
Năm 2006, ngoài những thị trường và đối tác xuất khẩu lao động truyền thống
thì Công ty đã mở thêm các thị trường mới như: Myanmar, Sip, Ailen, Mỹ, Canada và
kết quả là: đã tuyển chọn được 1550 lao động, đưa đi 1036 lao động, đón về 172 lao
động, và quản lý cho đến hết năm 2006 là 1250 lao động. Song năm 2007 và 2008 do
tác động của cuộc khủng hoảng kinh tế dẫn đến nền kinh tế của một số nước suy giảm
nhu cầu về lao dộng sụt gảm, thị trường lao động quốc tế diễn biến bất thường nên kết
quả đạt được giảm sút so với năm 2006. Đến năm 2009 tình hình kinh tế thế giới bắt
đầu hồi phục trở lại, có bước phát triển nhưng chưa thực sự sôi động, một số thị trường
cũng tăng nhu cầu tuyển dụng do đó số lượng lao động công ty đưa đi đã tăng lên 1168
lao động
2.2.6. Công tác quản lý lao động ở nước ngoài:
Hàng năm với lực lượng lao động của Suleco làm việc ở nước ngoài khoảng từ

đưa đi

20062007200820091

Libi
1
00109
Nh
ật Bản
12
3 11691954

Hàn qu
ốc
136105


ớc khác90619615
57

T
ổng1036
89
6
+ Thu nhập của người lao động khá cao so với khu vực khác.
Với sự nhạy bén nắm bắt thị trường mà suleco đã có được số lượng người đi
đáng kể. Năm 2006 là 232 người đi, năm 2007 do ảnh hưỏng của suy thoái kinh tế nên
số lượng lao động công ty xuất sang thị trường này giam xuống 163, năm 2008 và
2009 số luợng lao động công ty xuất sang có dấu hiệu tăng, năm 2008 là 204 và 2009
là 255 lao động. Điều đó cho thấy thị truờng này đang ngày càng cần nhiều laô động,
việc tiếp tục khai thác thị trường này là tất yếu.
2.2.8.3. Thị trường Nhật Bản:
Thị trường này chủ yếu tiếp nhận lao động Việt Nam đi tu nghiệp và thực tập kỹ
thuật (gọi chung là tu nghiệp sinh). Tu nghiệp sinh Việt Nam sang tu nghiệp tại Nhật
Bản theo nhiều ngành nghề khác nhau, trong đó có lĩnh vực dệt, may, điện tử và xây
dựng chiếm tỷ lệ lớn. Tuy nhiên một khó khăn lớn cho bên xuất khẩu lao động là tại
thị trường này số lượng lao động bỏ trốn là khá cao. Riêng năm 2009 , trong tổng số
lao động xuât đi đã có tới 16 người bỏ trốn. Điều này có ảnh hưởng rất lớn đến hoạt
động xuất khẩu lao động và uy tín của Công ty với phía đôí tác. Trong thời gian tới,
việc ổn định thị trường Nhật Bản đang là một thử thách lớn cho ngành xuất khẩu
lao động Việt Nam nói chung và xuất khẩu lao động của suleco nói riêng
2.2.8.4. Thị trường Malaysia:
Qua bảng số liẹu số lượng lao động xuất khẩu của Công ty từ 2006 – 2009 cho
thấy Malaisia là một thị trường lớn của công ty, số lượng lao động đưa sang thị trường
này qua các năm có xu hướng tăng dần chứng tỏ đây là một thị trường ổn định và có
nhiều tiềm năng. Công ty nên duy trì và phát huy thị truờng này
2.2.8.5. Thị trường Libi:
Đây là một thị trường tiềm năng lớn nhưng năm 2009 công ty cũng chỉ xuất
khẩu được 117 lao động nên công ty cần phải có các kế hoạch thích hợp nhằm tìm
kiếm các hợp đồng mới.
+ Các thị trường khác như: UAE, Síp, Ailen mới được mở nên số lượng đưa

Khó khăn. + Sự cạnh tranh của lao động nước ngoài: Sự cạnh tranh gay gắt của các nước có
lao động xuất khẩu đẩy chi phí khai thác thị trường lên quá cao ảnh hưởng trực tiếp
đến quyền lợi của người lao động.
+ Lao động Trung Quốc là một thách thức rất lớn đối với lao động xuất khẩu
Việt Nam nói chung và của Suleco nói riêng. Với lực lượng lao động trẻ, dồi dào và
thích ứng linh hoạt trong lao động hơn Việt Nam, Trung Quốc đã tạo ra sự cạnh tranh
gay gắt giữa lao động Việt Nam và lao động Trung Quốc trên thị trường khu vực và
quốc tế.
Theo điều tra nghiên cứu của Viện Khoa học Lao động và các Vấn đề Xã hội về
mức độ sẵn sàng thích ứng lao động của một số nước cho thấy chỉ số này của Việt
Nam rất thấp (3,79/10 điểm), thấp xa so với Trung Quốc (5,73/10 điểm). Bên cạnh đó,
tình trạng chuyên môn kỹ thuật và tình trạng thể lực lao động Việt Nam còn nhiều
điểm hạn chế. Vì vậy, xuất khẩu lao động của Việt Nam sẽ phải đối đầu với một đối
thủ mạnh đó là Trung Quốc.
+ Nhu cầu tiếp nhận lao động của nước ngoài giảm: các nước đang có xu hướng
đầu tư, đổi mới và hiện đại hoá công nghệ sản xuất, chuyển dịch đầu tư tư bản sang
nước có giá nhân công rẻ. Nhu cầu tiếp nhận lao động nước ngoài có xu hướng tăng
dần tỉ trọng lao động có hàm lượng chất xám cao.
+ Nguy cơ một số thị trường truyền thống bị thu hẹp như: Nhật Bản, Đài Loan,
Hàn Quốc do hiện tượng bỏ trốn của lao động Việt Nam. Nguyên nhân của tình trạng
này một phần là do mức thu nhập ở bên ngoài cao hơn so với mức mà người lao động
được hưởng khi làm việc tại các doanh nghiệp theo hợp đồng
+ Sự cạnh tranh của các doanh nghiệp xuất khẩu lao động trong nước bởi vì hiện
nay ở nước ta, các doanh nghiệp được phép xuất khẩu lao động là rất nhiều và có
những thế mạnh khác nhau, hoạt động độc lập.
* Trên đây là một số thách thức lớn trong hoạt động xuất khẩu lao động của
Công ty núi riêng và của Việt Nam núi chung. Vì vậy cần phải có những biện pháp

Ba là: Đẩy mạnh xuất khẩu nhân lực chất lưọng cao - xuất khẩu chất xám.
Nguồn nhân lực chất lượng cao đủ tiêu chuẩn xuất khẩu sẽ có khả năng thích nghi tốt,
hòa nhập nhanh với đời sống bản địa. Các hiện tựơng xâm hại lợi ích (nhất là đối với
người lao động) sẽ được giảm thiểu, vì đối tượng có khả năng để tự bảo vệ mình. Hệ quả là giảm được các xung đột lợi ích và giảm thiểu tranh chấp pháp lý liên quan. Lợi
ích mang lại từ việc xuất khẩu chất xám chính là lợi ích mang tính dài hạn. Các đối
tượng được tham gia xuất khẩu sẽ có nhiều điều kiện, thuận lợi hơn để tiếp xúc với
nền tri thức mới. Họ có thể nâng cao trình độ, nghĩa là tự nâng cao giá trị. Như vậy,
hàng hóa chất xám xuất khẩu sẽ ngày càng có giá trị cao hơn KẾT LUẬN

Giải quyết việc làm cho người lao động là một vấn đề xã hội không chỉ mang
tính quốc gia mà còn mang tính toàn cầu. Hoạt động xuất khẩu lao động là một trong
những biện pháp tạo việc làm được Đảng và Nhà nước hết sức quan tâm nhất là đối
với một quốc gia có dân số trẻ, nguồn lao động dồi dào như Việt Nam thì hoạt động
này càng trở nên cần thiết bởi vì nó giải quyết được hai mục tiêu:
+ Thứ nhất, mục tiêu kinh tế: thu ngoại tệ về cho đất nước, tăng thu nhập cho
người lao động và gia đình họ.
+Thứ hai, mục tiêu xã hội: giải quyết việc làm cho một bộ phận lao động thất
nghiệp, gúp phần ổn định chính trị - xã hội.
Xuất phát từ tính cấp thiết của hoạt động xuất khẩu lao động trong tiến trình hội
nhập và phát triển kinh tế, qua một thời gian nghiên cứu thực trạng hoạt động xuất
khẩu lao động của Công ty dịch vụ xuất khẩu lao động và chuyên gia Suleco - là một
đơn vị có bề dày hoạt động trong lĩnh vực xuất khẩu lao động - tôi đã hoàn thành đề tài
này, nêu lên một số kết quả, cũng như hạn chế và kiến nghị cho công tác xuất khẩu lao
động ở Công ty nói riêng cũng như Việt Nam nói chung.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status