THỰC TRẠNG TIÊU THỤ SẢN PHẨM CỦA CÔNG TY DỊCH
VỤ TRASERCO
I. TỔNG QUAN VỀ CÔNG TY
1. Quá trình hình thành và phát triển của Công ty.
Công ty thương mại và dịch vụ (TSC-Trade and Service Company) là
một đơn vị kinh doanh được thành lập bởi phòng Thương mại và công nghiệp
Việt Nam (VCCI-Vietnam Chamber of Commercal and Industry). VCCI là một tổ
chức phi chính phủ phi lợi nhuận và là một tổ chức tự nguyện, những quy định
của phòng không có tính chất ràng buộc đối với các thành viên. Do tính chất
này mà phòng Thương mại không thể đứng ra trực tiếp thực hiện các dịch vụ
và trực tiếp thu tiền của khách hàng. Vì vậy, Công ty Thương mại và dịch vụ
ra đời đáp ứng thích đáng nhu cầu của phòng Thương mại và công nghiệp
Việt Nam nói riêng cũng như là một tất yếu khách quan trong bối cảnh kinh tế
đất nước đang ngày càng phát triển mạnh mẽ hoà nhập vào nền kinh tế thế
giới và khu vực.
Công ty Thương mại vá dịch vụ (TSC) là nơi cung cấp các dịch vụ cần
thiết cho các doanh nghiệp trong và ngoài nước, nó là Công ty đầu tiên ra đời
ở Việt Nam với mục đích thực hiện các dịch vụ từ những thương nhân nước
ngoài vào Việt Nam và ngược lại từ Việt Nam ra nước ngoài. Công ty Thương
mại và dịch vụ có nhiệm vụ thay phòng Thương mại làm dịch vụ thu tiền của
khách hàng và sau đó nộp lại cho phòmg Thương mại một khoản hoa hồng cố
định.
Là "con đẻ" của phòng Thương mại và công nghiệp Việt Nam , Công ty
thương mại và dịch vụ đã khá thuận lợi trong hoạt động sản xuất kinh doanh
do phòng Thương mại và công nghiệp Việt Nam, cũng như phòng Thương mại
ở các nước trên thế giới hoạt động theo chế độ cộng tác viên, nghĩa là:
Phòng Thương mại là đầu mối thu gọn lượng khách hàng cùng với
những yêu cầu về dịch vụ của họ. Sau đó chuyển những yêu cầu này xuống cho
các cộng tác viên của mình thực hiện.
Cộng tác viên dịch vụ thu tiền của khách hàng sau đó giữ lại một
khoản tiền( %) cho phòng Thương mại .
cách pháp nhân, có con dấu riêng, có tài khoản tại Ngân hàng VietCombank và
hoạt động theo Luật doanh nghiệp. Tổng số vốn khi mới thành lập là 4 tỷ đồng.
Trong đó: Vốn cố định: 1.700.000.000 đồng
Vốn lưu động: 2.300.000.000 đồng.
Trong những năm gần đây do sự biến động của nền kinh tế Công ty
cũng có những biến đổi về vốn thể hiện như sau:
Biểu 1: Tình hình biến động về vốn của Công ty trong những
năm qua (1997 - 1999).
Chỉ tiêu Đơn vị tính 1997 1998 1999
Tổng vốn kinh doanh Tỷ đồng 57 69 83,5
Vốn cố định - 22 30 39
Vốn lưu động - 35 39 44,5
Nhìn vào biểu ta thấy tổng vốn kinh doanh của Công ty đã tăng đáng
kể từ 57 tỷ năm 1997 lên 83,5 tỷ năm 1999 do Công ty đã kịp thời nắm bắt thị
trường, khai thác và phục vụ nhu cầu đa dạng của người tiêu dùng trong nước
và nước ngoài. Bên cạnh đó thiết lập được thêm nhiều chi nhánh trong và
ngoài nước đẩy nhanh năng lực kinh doanh và mở rộng thị trường.
Ngoài ra công tác huy động vốn của Công ty được đẩy mạnh nhằm
nâng cao lực cạnh tranh và kịp thời đáp ứng nhu cầu của khách hàng.
Việc huy động vốn của Công ty được thể hiện như sau:
Biểu 2: Tình hình huy động vốn của Công ty trong những năm
qua (1997 - 1999).
Chỉ tiêu Đơn vị tính 1997 1998 1999
Vốn tự bổ xung Tỷ đồng 12 15,3 22,7
Vốn liên doanh - 2,7 4,3 6
Vốn tín dụng - 1,2 2 3
Vốn vay VCCI - 15 7 7
Tổng cộng - 30,9 28,6 38,7
Như vậy ta thấy tình hình huy động vốn của Công ty rất mạnh mẽ. Năm
Công ty Thương mại và dịch vụ chứ không phải là giám đốc chi nhánh.
2.3. Đặc điểm về cơ cấu tổ chức quản lý.
Kể từ khi thành lập cho đến nay, nhất là từ sau Đại Hội II của phòng
Thương mại và công nghiệp Việt Nam, cơ cấu tổ chức của TSC đã có nhiều
thay đổi dáng kể, gọn nhẹ hơn, hiệu quả hơn và phù hợp với hoàn cảnh, điều
kiện kinh doanh mới.
Hiện nay về cơ bản bộ máy tổ chức của Công ty bao gồm:
Ban giám đốc
Các phòng chức năng
Mạng lưới chi nhánh
Các đại diện, đại lý.
Các phòng chức năng của Công ty: phòng vé, phòng kinh doanh, đội xe.
Tổ chức bộ máy của Công ty Thương mại và dịch vụ (TSC) như sau:
Sơ đồ tổ chức bộ máy của Công ty Thương mại và dịch vụ (TSC)
PHÒNG THƯƠNG
MẠI V CÔNGÀ
NGHIỆP VIỆT NAM
GI M Á ĐỐC
C C PHÓ GI MÁ Á
ĐỐC
Các đại
diện ở
nước
Chi
nhánh
miền Nam:
Chi
nhánh
miền
Chi
- Trung tâm tổng hợp: Điều hành nhân sự, công tác văn phòng, kế toán.
- Trung tâm khai quan: xuất nhập khẩu hàng hoá
- Trung tâm tư vấn: Tư vấn xuất nhập khẩu, pháp luật...
- Trung tâm đào tạo và phát triển nhân lực: đào tạo, triển khai, xuất
nhập khẩu lao động.
- Phòng hội chợ triển lãm: Thực hiện tổ chức các hội chợ và đưa ra các
quyết định giúp cho Giám đốc quản lý và hướng dẫn các doanh nghiệp trưng
bày và bán sản phẩm của mình.
Tuyến dọc: Bao gồm các chi nhánh, các văn phòng đại diện dưới sự
lãnh đạo trực tiếp của giám đốc, thực hiện nhiệm vụ giao dịch và kinh doanh.
2.4 Đặc điểm về lao động:
Lực lượng lao động của TSC bao gồm 75 cán bộ công nhân viên phân
bổ cho các bộ phận trên toàn quốc, có một địa điểm văn phòng chính tại Hà
Nội.
Do tính chất đặc thù của nhiệm vụ chức năng hoạt động của Công ty
nên Công ty phải đảm bảo đội ngũ lao động có trên 70% tốt nghiệp Đại học trở
lên và thông thạo ngoại ngữ. Cơ cấu lao động của Công ty được thể hiện như
sau:
- Lao động nam chiếm 65,5%
- Lao động nữ chiếm 34,6%
- Lao động có trình độ Đại học chiếm 65,5%
- Lao động có trình độ trên Đại học chiếm 28%
- Lao động có trình độ khác chiếm 6,6%
Cơ cấu lao động theo nghành nghề được thể hiện như sau:
Biểu 3: Cơ cấu lao động theo nghành nghề của Công ty Thương
mại và dịch vụ (TSC)
Năm
Cơ cấu
1997 1998 1999
Số lượng % Số lượng % Số lượng %
II. PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG CÔNG TÁC TIÊU THỤ HÀNG HOÁ DỊCH VỤ CỦA
CÔNG TY TSC.
Do đặc thù kinh doanh dịch vụ và thương mại , các sản phẩm của Công
ty TSC rất đa dạng và phong phú bao gồm cả hàng hoá tư liệu sản xuất, hàng
hoá tư liệu tiêu dùng, các loại dịch vụ về thương mại , dịch vụ tiêu dùng...Công
tác tiêu thụ sản phẩm của Công ty TSC được thực hiện trên cả 2 thị trường: thị
trường trong nước và thị trường quốc tế.
TSC có thuận lợi là một Công ty kinh doanh thương mại và dịch vụ nên
lượng cung của Công ty luôn có sẵn. Với một hệ thống các cơ sở sản xuất vệ
tinh các mặt hàng xuất khẩu chủ yếu và một đội ngũ các cộng tác viên đông
đảo TSC luôn luôn sẵn sàng đáp ứng mọi nhu cầu của khách hàng. Vấn đề ở
đây là TSC phải có được một thị trường tiêu thụ ổn định và không ngừng khai
thác, mở rộng thị trường và khách hàng tiềm năng.
Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề này. Tranh thủ các mối
quan hệ có được từ phòng Thương mại và công nghiệp Việt Nam cũng như
các mối quan hệ với các tổ chức kinh tế trong và ngoài nước sở. TSC đã luôn
chủ động tìm đến với khách hàng của mình thông qua các đại diện được bố trí
ở trong nước và quốc tế.
Khách hàng chủ yếu của TSC là các tổ chức kinh tế và cá nhân nước
ngoài do vậy việc thương lượng đàm phán để đi đến quyết định cuối cùng là
rất quan trọng. Xuất phát từ quan điểm phong tục, tập quán kinh doanh khác
nhau. Để đạt hiệu quả cao trong khâu này TSC đã không ngừng đổi mới phong
cách phục vụ khách hàng, đào tạo nâng cao nghiệp vụ chuyên môn cho đội ngũ
cán bộ công nhân viên. Không ngừng củng cố các mối quan hệ với bạn hàng cũ
và đưa ra các chính sách hấp dẫn các khách hàng mới như thực hiên việc giảm
giá, chiết khấu. Từ đó dần dần thu hút khách hàng về phía mình.
Một khâu khác nữa cũng được TSC đầu tư thích đáng đó là khâu giao
nhận sản phẩm: Thông thường TSC nhận giao hàng theo giá FOB (free on
board). TSC có lợi thế là có sẵn một đội xe sẵn sàng thực hiện việc giao hàng
trong mọi điều kiện về thơì gian và địa điểm, đảm bảo giao hàng an toàn và
Chỉ tiêu
1997 1998 1999
1. Doanh thu từ hoạt động bán
hàng
13.025.25 14.957.35 21.910.28
- Doanh thu từ hoạt động bán hàng
trong nước
4.525 6.637 6.642
- Doanh thu từ hoạt động bán hàng
quốc tế
8.500.25 8.320.35 15.268.28
2. Doanh thu từ dịch vụ thương
mại .
2.831.55 3.725.25 5.497
- Dịch vụ thương nhân
482.55 887.25 2.505
- Dịch vụ cho thuê
1.203 1.577 1.950
- Dịch vụ giao thông vận tải
1.003 1.101 724
- Dịch vụ in ấn
60 35 115
- Dịch vụ lữ hành
83 125 203
3. Tốc độ phát triển (%)
- Doanh thu từ hoạt động bán hàng
100 115 146.5
- Doanh thu từ dịch vụ thương mại
100 131.56 147.56
Như vậy tốc độ phát triển của TSC là rất khả quan điều này được thể
Công ty TSC phối hợp chặt chẽ với các ban của phòng Thương mại đặc
biệt là ban quan hệ quốc tế, các văn phòng đảm nhiệm của Công ty, các thương
vụ và đại sứ quán Việt Nam tại nước ngoài cũng như các văn phòng đại diện
của các tổ chức kinh doanh nước ngoài tại Việt Nam nhằm khai thác tối đa
nguồn khách hàng.
Hiện nay, hầu hết các dịch vụ của TSC đều tập trung ở phòng giao dịch
thương mại và du lịch, nó là đầu nối để dẫn dắt các đơn vị, chi nhánh của
mình hoạt động trên thị trường một cách hữu hiệu nhất.
Phòng giao dich thương mại và dịch vụ là đầu mối cho các dịch vụ của
TSC, là nơi tổ chức đón tiếp khách và hướng cho các đoàn kinh tế thương mại
và thương nhân nước ngoài vào Việt Nam.
Công ty thương mại và dịch vụ TSC đảm bảo các mọi dịch vụ cần thiết
để đảm bảo cho các thương vụ đạt hiệu quả cao nhất kể từ khi khách đến và
rời khỏi Việt Nam. Các dịch vụ thương nhân chủ yếu của TSC tập trung vào:
- Dịch vụ làm Visa: Đây là dịch vụ đầu tiên và được thực hiện chỉ khi
các dịch vụ khác được sử dụng việc làm và gia hạn Visa (chỉ thu xếp gia hạn
đối với những Visa đã được thông qua dịch vụ thương mại TSC) được tiến
hành theo biểu phí sau:
Biểu 7: Bảng phí dịch vụ Visa của TSC:
Chỉ tiêu Giá Gia hạn Giá
Làm Visa trong 1 tháng sử dụng 1 lần 25USD 30USD
Làm Visa trong 3 tháng sử dụng nhiều lần 60USD 70USD
Làm Visa trong 6 tháng sử dụng nhiều lần 100USD 110USD
- Đưa đón khách ở sân bay: Phí thu từ dịch vụ này được tính theo số
lượng người trong đoàn:
Đoàn từ 1 - 3 người : 10USD/chuyến
Đoàn từ 4 - 7 người : 15USD/chuyến
Đoàn từ 8 - 12 người : 20USD/chuyến
Đoàn từ 13 - 16 người : 30USD/chuyến
- Đặt chỗ tại khách sạn: Việc đặt chỗ tại khách sạn thông thường được
Dịch vụ làm Visa 97,75 331,5 1474,75
Dịch vụ phiên dịch 166,4 57,2 130
Dịch vụ hướng dẫn du lịch 45,5 186,55 2164,75
Dịch vụ bố trí chương trình làm việc 32,5 78 110,5
Dịch vụ đưa đón khách 140,4 234 585
Tổng số 482,55 887,25 2505
Tốc độ phát triển (%) 183,86 282,33
Nhìn vào bảng ta thấy dịch vụ thương nhân đã tăng từ 183,86% năm
1998 lên 282,33% năm 1999. Điều này chứng tỏ rằng loại hình dịch vụ này có
tốc độ phát triển khá mạnh đặc biệt là dịch vụ làm Visa năm 1997 mới chỉ
chiếm 20,2% trong tổng số doanh thu của dịch vụ thương nhân, thì đến năm
1998 đã chiếm tới 37,36% và đến năm 1999 là 58,8%.
1.2. Dịch vụ cho thuê:
TSC là đơn vị tổ chức và thực hiện đầu tiên loại hình dịch vụ này, ngay
từ đầu cho tới nay, các văn phòng đại diện nước ngoài vẫn tiếp tục có nhu cầu.
Thực tế trong thời gian qua, Công ty đã đáp ứng rấ tốt nhu cầu của khách
hàng và số hợp đồng cho thuê của TSC trong những năm qua càng tăng lên.
dịch vụ cho thuê của TSC khá đa dạng, bao gồm mọi dịch vụ phục vụ cho một
tổ chức cá nhân nước ngoài sống và làm việc tại Việt Nam. Các dịch vụ này
gồm có dịch vụ cho thuê văn phòng, cho thuê xe ôtô, cho thuê các thiết bị đồ
dùng văn phòng, cho thuê thư ký và phiên dịch có trình độ...
Thông thường người nước ngoài rất khó tính trong việc lựa chọn và sử
dụng người bản địa vào công việc của mình. Do yêu cầu công việc của họ đặt ra
là khá cao. Mặt khác đây là một vấn đề khá phức tạp vì nó còn liên quan đến cả
phong tục, tập quán của người nước ngoài và luật pháp của nước sở tại. Tuy
nhiên TSC có một bộ phận chuyên trách về vấn đề này và luôn luôn đặt mục
đích thoả mãn và đáp ứng tốt nhất nhu cầu của khách hàng lên hàng đầu. Bộ
phận này có một người đứng ra chịu trách nhiệm thực hiện chung quản lý một
đội ngũ các cán bộ của mình. Ngoài các danh mục cho thuê mang tính vật chất
thuộc sở hữu của chính Công ty, các danh mục cho thuê mang yếu tố con người