I. Lời mở đầu
1.Tính tất yếu
Từ năm 1986, khi đất nước chính thức đổi mới kinh tế, chuyển sang nền kinh tế thị
trường có sự điều hành của nhà nước, mở cửa giao lưu buôn bán với bên ngoài. Đất
nước ta đã có những chuyển biến và thay đổi to lớn. Trong giai đoạn chúng ta mở
cửa phát triển kinh tế, chúng ta đã từng bước hội nhập và hội nhập ngày càng sâu
hơn vào nền kinh tế toàn cầu.
Trong giai đoạn này, nền kinh tế thế giới cũng đang có những biến chuyển sâu sắc.
Nổi bật có sự sụp đổ của Liên Xô chấm dứt thế giới 2 cực, hình thành 3 trung tâm
kinh tế lớn của thế giới là Mỹ, EU và Nhật Bản. Sự phát triển nhanh chóng của
công nghệ, đặc biệt là công nghệ thông tin và truyền thông, internet đã làm cho
kinh tế thế giới phát triển nhanh chóng kì lạ. Sự giao lưu buôn bán không còn trong
phạm vi mỗi quốc gia mà đã lan rộng toàn cầu, giữa các công ty của các quốc gia
khác nhau, giữa các cá nhân trên toàn cầu với nhau, các dòng vốn đầu tư “ chảy” tự
do từ nước này qua nước khác, các dòng người di chuyển liên tục trên thế giới để
làm việc tại quốc gia khác nơi mà họ sinh ra Người ta gọi thế giới đang trở nên
toàn cầu hóa mà khởi nguồn là từ các hoạt động kinh tế.
Vơi việc gia nhập WTO vào năm 2006, Việt Nam đang chứng tỏ là một quốc gia
đang gia nhập hơn nữa và sẽ trở thành một bộ phận “ không thể thiếu” của kinh tế
thế giới. “Con thuyền” Việt Nam đang tham gia vào “dòng chảy” của kinh tế thế
giới trong đó có “ ngọn gió” mang tên toàn cầu hóa đang len lỏi khắp mọi quốc gia
trên toàn cầu. Để “ngọn gió” đó cản trở hay thúc đẩy chúng ta phát triển là tùy vào
việc chúng ta đi ngược hay đi xuôi chiều gió. Do đó chúng ta cần phải hiểu được
tác động của toàn cầu hóa như thế nào để có những chính sách phát triển phù hợp.
Tác động đó của toàn cầu hóa là rộng khắp mọi lĩnh vực, kinh tế, văn hóa, y tế, giáo
dục trong đó có mối quan hệ biện chứng giữa toàn cầu hóa và giáo dục của mỗi
quốc gia, toàn cầu hóa tác động lên giáo dục như thế nào? Và giáo dục tại mỗi quốc
gia lại tác động trở lại toàn cầu hóa như thế nào? Giáo dục tại Việt Nam đã và đang
1
rồi sẽ như thế nào dưới tác động của toàn cầu hóa khi chúng ta đang hội nhập sâu
rộng vào nền kinh tế thế giới?. Vơi yêu cầu đó, chúng ta sẽ đi nghiên cứu về toàn
Chương I: Tổng quan chung
1.1 toàn cầu hóa
1.1.1khái niệm
1.1.2 Tổng quan về tác động của toàn cau hoá
1.1.2.1 Tác động tích cực
1.1.2.2 Tác động tiêu cực
1.1.2.3 Tác động tới quan hệ quốc tế và quá trình hội nhập kinh tế quốc tế trên
thế giới
1.2. Dich vụ giáo dục
1.2.1 Khái niệm chung
1.2.2 Tổng quan về hệ thống giáo dục ở Việt Nam
1.3 Tác động của giáo dục lên toàn cầu hóa
1.3.1 Giáo dục và thương mại quốc tế
1.3.1.1 Giáo dục và xuất khẩu dưới góc nhìn vĩ mô
1.3.1.2 Giáo dục và chuỗi giá trị toàn cầu
1.3.1.3 Giáo dục và offshore
1.3.1.4 Giáo dục và khả năng phản ánh nhu cầu của thương mại
1.3.2 Giáo dục và khả năng thu hút dòng vốn đầu tư
1.3.2.1 vốn con người và FDI
1.3.2.2 kĩ năng về công nghệ và kĩ thuật và FDI vào sản xuất
1.3.2.3 Những trung tâm công nghệ cao và khả năng thu hút FDI
1.3.2.4 FDI tại các khu vực khác nhau
1.3.2.5 Giáo dục và lợi ích từ FDI
1.3.3 giáo dục và xác suất di trú
1.3.3.1 di trú cố định
1.3.3.2 di trú tạm thời
1.3.3.3 Các loại hình giáo dục
1.4 Tác động của toàn câu hóa lên giáo dục
1.4.1 Tác động của thương mại đến giáo dục
1.4.1.1 Tác động của thương mại lên câu về giáo dục dưới góc độ vĩ mô
toàn cầu hoá
3.1.gia tăng ảnh hưởng của giáo dục đối với thương mại quốc tế
3.1.1 phát triển xuất khẩu giáo dục
3.1.2 giáo dục đào tạo ngành nghề đáp ứng chuỗi giá trị toàn cầu, offshore
3.2. giáo dục đào tạo ở việt nam và FDI
3.2.1 thu hút FDI trực tiếp vào dịch vụ giáo dục
3.2.2 giáo dục theo sát nhu cầu của các dự án FDI và phải tạo ra đội ngũ nhân lực
có “tiếng” để thu hút FDI
3. 3 giáo dục và di trú
3.3.1 ngành giáo dục đào tạo thu hút nhân tài và các nhà nghiên cứu đến và làm
việc tại Việt Nam
3.3.2 chống lại tình trạng chảy máu chất xám
3.4. định hướng chính sách của chính phủ nhằm làm cho nguồn nhân lực phù hợp
hơn với thời kỳ toàn cầu hoá
3.4.1 định hướng chính sách phát triển nguồn nhân lực
3.4.2 định hướng chính sách đầu tư
3.4.3 định hướng chính sách thương mại
4
3.4.4 định hướng chính sách di trú
Danh mục chữ viết tắt:
BAT - -British American Tobacco Group
5
BP British Petroleum
EPZ Export Processing Zone
FDI foreign direct investment
GATS General Agreement on Trade in Services
GDP gross domestic product
GVC global value chain
HO Heckscher-Ohlin
7
môn hóa thường được nhắc đến trong khu vực sản xuất hàng hóa, nhưng những
năm gần đây băt đầu phát triển chuyên môn hóa trong các ngành dịch vụ.
- Chuỗi giá trị toàn cầu là hệ thống các công ty xuyên quốc gia. Một chuỗi giá trị
bao gồm đầy đủ các hoạt động để đưa một sản phẩm hay dịch vụ từ giai đoạn ý
tưởng, qua các khâu trung gian của quá trình sản xuất, và phân phối đến người
tiêu dùng cuối cùng và chuyển nhượng lần cuối sau khi dùng.( Gereffi, 1999;
Kaplinsky, 2000).
Đầu tư FDI toàn cầu, đầu tư tư nhân toàn cầu đến các quốc gia đang phát triển đang
tăng nhanh chóng trong 3 thập kỷ trở lại đây. Tuy nhiên, vốn FDI chủ yếu là giữa
các quốc gia đang phát triển, trong khi FDI đến các quốc gia đang phát triển lại chủ
yếu tập trung ở Trung Quốc, Mexico, Brazil, Malaysia, một vài quốc gia châu Phi
Đồ thị: Các nguồn vốn đầu tư vào các nước đang phát triển từ năm 1990 đến 2005
Nguồn: WB
I.1.2 Tác động của toàn câu hoá
I.1.2.1 Tác động tích cực
8
o Thị trường được mở rộng, sự giao lưu hàng hoá thông thoáng hơn, hình thành
sự phân công lao động quốc tế có lợi và tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu.( Tác
động của thương mại quốc tế)
o Giúp các nước tiếp cận được nguồn vốn, công nghệ từ bên ngoài, những
thành tựu của khoa học công nghệ được chuyển dao nhanh chóng và ứng dụng rộng
rải.
o Mạng lưới thông tin và giao thông vận tải bao phủ toàn câu
o Tạo điều kiện thuận lợi cho cuộc đấu tranh vì hoà bình , hợp tác và phát triển.
1.1.2.2 Tác động tiêu cực
o Các nước công nghiệp phát triển chiếm ưu thế trong nền kinh tế thế giới thao
túng toàn cau hoá
o Sự phân cực giàu nghèo ngày càng sâu sắc
o Nền kinh tế toàn cau hoá rất dễ bị chấn thương
Từ khi cách mạng tháng tám 1945 thành công đến 1975, nền giáo dục ở miền Bắc
Việt Nam chịu ảnh hưởng của của nền giáo dục Liên Xô. Nền giáo dục ở miền Nam
chịu ảnh hưởng của nền giáo dục Hoa Kỳ.
Từ 1975 đến 1986: Nền giáo dục ở Việt Nam chịu ảnh hưởng của nền giáo dục
Liên Xô.
Từ 1986 đến nay: Việt Nam đang tiến hành đổi mới giáo dục cùng với chương trình
đổi mới của cả đất nước.
Một nhận xét khái quát, truyền thông giáo dục ở Việt Nam còn nặng về giáo dục
hàn lâm chuyên sâu, trọng khoa bảng, bằng cấp, thiếu kỹ năng thực hành. Hệ thống
giáo dục còn tương đối khép kín, chưa thức sự liên kết được vai trò của mình với
các khu vực khác. Tuy nhiên cả hệ thống giáo dục đang có những thành công bước
đầu trong công cuộc đổi mới.
1.3 Tác đôngcủa giáo dục lên Toàn câu hòa
10
Số lượng và chất lượng nguồn nhân lực quyết đinh như thế nào đến các quốc gia
tham gia vào toàn cầu hoá? Những đất nước có nền kinh tế hiệu quả và cạnh tranh
tốt thường thành công trong môi trường toàn cầu hoá hơn
1.3.1 Giáo dục và tăng trưởng kinh tế
Sản lượng phụ thuộc vào nguồn vốn vật chất và vốn con người. Nguồn vốn con
người lại phụ thuộc vào hệ thống giáo dục và đào tạo. Mankiw et al.(1992) thống kê
sản lượng đầu người ở 98 quốc gia không sản xuất dầu mỏ vào năm 1985 và nhận
thấy nguồn vốn con người làm tăng sản lượng.
Những phát hiện trên chủ yếu là của các mô hình kinh tế học tân cổ điển. Sẽ là hoàn
toàn khác đi nếu chúng ta suy nghĩ tập trung vào tầm quan trọng của đổi mới và
việc học đến quá trình tăng trưởng. Giáo dục và đào tạo là yếu tố quan trong nhất
của chiến lược cạnh tranh. Và chính phủ ở một vài quốc gia châu Á đã can thiệp
thành công vào hệ thống giáo dục của họ để cải thiện khả năng cạnh tranh của nền
kinh tế và hệ thống đào tạo con người.
1.3.2 Giáo dục và thương mại
Phát triển giáo dục và kĩ năng lao động giúp các công ty và các cá nhân tham gia
fund)và một chương trình tương tự ở Malaysia)
1.3.2.2Giáo dục và chuỗi giá trị toàn cầu
Tài liệu về chuỗi giá trị toàn cầu đang tăng lên nhanh, nó nhấn mạnh đến tầm quan
trọng của mối quan hệ giữa các công ty và một chuỗi giá trị. Qua đó, lao động có
những kĩ năng đặc biệt được yêu cầu để công ty tham gia vào những chuỗi giá trị.
Chúng ta sẽ xem xét những chuỗi giá trị quần áo và hàng hóa.
Cơ cấu của thương mại về quần áo đang thay đổi. Quần áo ở Mỹ và Bắc Âu đang bị
chi phối bới một nhóm các nhà bán lẻ, dẫn đầu chuỗi hàng hóa buyer driven. Trong
khi các nhà sản xuất xuyên quốc gia đóng vai trò quan trọng trong việc kết hợp hệ
thống sản phẩm trong những chuỗi hàng hóa producer driven, trong một chuỗi
12
buyer driven những người bán lẻ lớn, những nhà marketer nổi tiếng và những nhà
sản xuất nổi tiếng đóng vai trò quan trọng trong việc kết hợp và định vị lại hệ thống
sản xuất, đặc biệt đối với những quốc gia đang phát triển, mà các công ty ở đó đã
hợp đồng cung cấp hàng hóa theo từng chi tiết cụ thể. Một nhóm các công ty( các
nhà bán lẻ, các nhà marketer nổi danh, các nhà sản xuất )quyết đinh nơi nào để
source quần áo.
Một vài quốc gia thành công với hệ thống buyer-driven, và một vài nước châu Á
đang trở thành các nhà sản xuất như kiểu OEM( original equipment manufacturing)
hay OBM( original brand manufacturing). Những thay đổi này yêu cầu một lượng
lao động lành nghề với những kĩ năng marketing và design thích hợp. Những nền
công nghiệp mới ở Đông Á trở thành các nhà sản xuất OEM, các khách hàng ở Mỹ
có thể đặt hàng với các quốc gia này, và họ lại chuyển khâu sản xuất sang các quốc
gia có lợi thế là nguồn lao động dồi dào và rẻ( Trung Quốc, Indonesia, Việt Nam),
và những sản phẩm hoàn thành sẽ được “ship” trực tiếp từ các quốc gia này đến Mỹ
thông qua hệ thống quota của Mỹ. Các quốc gia như Trung Quốc, với ưu thế lực
lượng lao động dồi dào.Các quốc gia này không cần nhiều lao động lành nghề, phụ
nữ rất hơp với những công việc này, những lao động này chỉ cần đào tạo nhanh là
họ có thể thích hợp với công việc. Nhưng nếu công nhân sẵn sàng “nâng cấp” kĩ
năng của họ và sử dụng những thiếp bị công nghệ hiện đại hơn, điều này có thể dẫn
nước đang phát triển) đang bắt đầu phát triển. Trong khi offshoring bắt đầu với
những hoạt động “ ít giá trị” ( back office transactions và call centres), nó bắt đầu
phát triển sang các bộ phận khác liên quan đến các công việc trí thức( chương trình
phần mềm, kĩ thuật, design, kế toán, tư vấn pháp luật và tư vấn y tế), và do đó
những hoạt động mới này yêu cầu giáo dục trình độ đại học và giáo dục ở trình độ
cao hơn nữa.
Sự phân chia lại các hoạt động không còn đơn giản là theo những qui tắc của lợi
thế so sánh, mà còn tuân theo lợi thế cạnh tranh. Điều này được minh họa rõ nét
14
bằng Ấn Độ- thường được gọi là “ cơ quan hậu bị” của thế giới. Ân Độ đang xuất
khẩu các loại hình dịch vụ như call centres, công việc “văn phòng hậu bị” và công
nghệ thông tin mà chủ yếu là nhờ lực lượng lao động lành nghề có kĩ năng phù hợp
ở đây, cả bao gồm kĩ năng quản trị thật tốt cho những những “ văn phòng hậu bị” ở
Ấn Độ. Các quốc gia nghèo khác cũng bắt đầu đi theo xu hướng này, trong khi các
quốc gia Caribbean tham gia vào khoảng những năm 1990, một vài nước châu
phi( Ghana, Mauritius, Senegal) mới bắt đầu tham gia vào quá trình toàn cầu hóa
sản xuất dịch vụ.
Điều quan trọng ở đây là những hoạt động mới này mang lại bởi toàn cầu hóa yêu
cầu lực lượng lao động lành nghề có kĩ năng phù hợp. Mà lại rất khó để các quốc
gia đang phát triển đáp ứng được. Các quốc gia phù hợp có thể kể đến như
Hungary, Cộng hoà Séc, Hàn Quốc nơi mà tỷ lệ dân số có giáo dục đại học cao.
Hơn nữa, những quốc gia này có nguồn lực trong nước phù hợp cho phát triển
ngành công nghiệp phần mềm.
Có rất nhiều người Ân Độ đang học tập và giảng dạy tại các trường đại học Hoa
Kỳ; họ đang góp phần làm nên cuộc cách mạng về công nghệ thông tin ở Mỹ. Và
cũng mở ra cho Ân Độ triển vọng và lợi thế to lơn để xuất khẩu dịch vụ công nghệ
thông tin sang Mỹ.
1.3.2.4Giáo dục phù hợp với thương mại toàn cầu.
Như đã nói ở trên giáo dục là rất quan trọng trong việc định hướng cho sản lượng và
cơ cấu mặt hàng xuất khẩu. Do đó phát triển giáo dục là cần thiết và quan trọng để
giáo dục ở các quốc gia cung cấp đội ngũ lao động có chất lượng tốt và phù hợp, có
16
thể tham gia vào các khu vực kinh tế có sự đầu tư của vốn FDI. Để có đội ngũ lao
động đươc giáo dục phù hợp và chất lượng tốt yêu cầu có một nền tảng giáo dục
tốt( ít nhất là giáo dục phổ thông) từ đó các công ty đa quốc gia có thể đào tạo thêm
với hệ thống đào tạo của họ cũng như hệ thống đào tào đại học của quốc gia đó.
Sự cạnh tranh dựa trên lợi thế về nguồn lực con người đang tăng lên trong thời kỳ
toàn cầu hóa( Lall, 2001). Chất lượng, số lượng và các loại hình đào tạo trong hệ
thống giáo dục để tham gia vào toàn cầu hóa đang biến đổi không ngừng. Có thể
nhận thấy rằng các con hổ Châu Á luôn tìm cách mở rộng hệ thống giáo dục và tập
trung vào kĩ thuật công nghệ để thúc đẩy xuất khẩu và FDI vào các công nghệ đó.
Tuy nhiên, ở Thailand, giáo dục phổ thông là chưa đủ để dẫn tới sự thay đổi về
thiếu thốn lao động có kĩ năng. Nhiều quốc gia Mỹ Latin đang phải rất vất vả để
cung cấp giáo dục phù hợp và chất lượng do đó đang gặp khó khăn trong xuất khẩu
hàng hóa giá trị cao và thu hút FDI vào trong nứơc. Đó là do chất lượng giáo dục ở
các nước này chưa đáp ứng đủ yêu cầu về chất lượng và số lượng. Những quốc gia
như Brazil, Mexico, hay Chile đang nằm ở đáy nếu đem so hệ thống giáo dục của
họ với mặt bằng chung của giáo dục toàn cầu.
1.3.3.3Những trung tâm công nghệ cao và chiến lược thu hút FDI
FDI ở khu vực sản xuất công nghệ cao hoặc hoạt động dịch vụ dựa trên sự có sẳn
của lao động lành nghề ở địa phương và các trung tâm phát triển công nghệ và trung
tâm nghiên cứu phát triển. Singapore là một ví dụ. Sharp bắt đầu trung tâm design
Sharp vào khoảng giữa những năm 1990, Oki xây dựng trung tâm công nghệ Oki ở
Singapore vào năm 1996 dành cho nghiên cứu hệ thống wireless và đa truyền
thông Trung tâm nghiên cứu và phát triển của Ericsson được xây dựng ở Thụy
Điển, FầnLan, Đưc, Hungary, Singapore và Berkeley Sự mở ra của các trung tâm
này tủy thuộc vào lượng lao động lành nghề có kĩ năng được đào tạo phù hợp ở các
17
quốc gia đó, sau đó những trung tâm này sẽ như là những “thỏi nam châm” nhằm
thu hút thêm nữa FDI.
lớn vào điều kiện ở các quốc gia nhận vốn FDI, ví dụ như quan điểm của chính phủ
quốc gia đó về chính sách thương mại,hay như chính sách nguồn nhân lực. Các quốc
gia sẽ thành công nếu họ sử dụng những chính sách để tối đa hóa tác động của FDI
lên công nghệ và giáo dục và ngược lại, điều này được quyết định bởi một hệ thống
giáo dục và đào tạo phù hợp.
1.3.4 Giáo dục và xác suất di trú
Có nhiều nhân tố gây ảnh hưởng đến xác suất di trú. Ví dụ, sự khác biệt về lương
giữa các quốc gia thường là nguyên nhân chính dẫn đến sự di trú. Giáo dục cũng là
nhân tố tác động tới sự di trú. Chúng ta sẽ phân biệt di trú cố định và di trú tạm thời,
chúng ta sẽ cũng xem xét xem những loại hình giáo dục khác nhau tác động tới di
trú.
1.3.4.1 Di trú cố định
Những người di trú thường được đào tạo tốt hơn nếu so sánh với mặt bằng trung
bình của các quốc gia “sending”, Carrington và Detragiache(1998) thống kê tỷ lệ di
trú ở 61 quốc gia đang phát triển vào năm 1990, họ tìm ra rằng
• Các cá nhân được giáo dục ít hay không có giáo dục thường ít có khả năng
tham gia vào mạng lưới di trú toàn cru
• Những người di trú thường được giáo dục tốt hơn phần còn lại của đất nước
họ.
Docquier và Marfouk(2004) tìm ra rằng:
19
• Trong số dân nhập cư ở Châu Phi có khoảng 31,4% có giáo dục trinh độ đại
học vào năm 2004, trong khi tỉ lệ công nhân có giáo dục đại học ở Châu Phi chỉ là
3.6%. kết quả tương tự cho giáo dục đại học ở các quốc gia Đông A và Mỹ
Latin( hiện tượng chảy máu chất xám)
• Tỷ lệ di trú của người lao động có trình độ đại học đặc biệt cao ở Trung Mỹ,
vùng Caribean, Đông Nam A và Đông và Tây Phi
• Hiện tương chảy máu chất xám( sự di trú đi của người lao động có trình độ
đại học và trên đại học) tăng từ năm 1990 và 2000 và có giảm ở một số các quốc
gia Caribean
o Lowell và Findlay( 2002) báo cáo rằng 10% dân số có giáo dục đại học ở
Mexico đã di trú sang nước khác vào năm 1990, và 30% trong số đó là kĩ sư và nhà
khoa học.
o Nam Phi mất khoảng 4600 lao động có trình độ đại hoc và trên đại học mỗi
năm; 10000 lao động trong lĩnh vực y tế từ năm 1989 đến 1997. Chi tiết từ Liên
hợp Anh tiết lộ rằng Nam Phi đã gửi đến Anh khoảng 2500 y tá vào năm 2001, và
trung bình 2000 giáo viên mỗi năm.
1.4 Tác động của toàn câu hóa tới dịch vụ giáo dục
Để phân tích tác động của toàn câu hóa tới dịch vụ giáo dục tổng thể, chúng ta sẽ phân
biệt tác động đến bên cung và bên câu của giáo dục.
1.4.1 Tác động của thương mại đến giáo dục
Trong khi hệ thống giáo dục giúp nền kinh tế có thể điều chỉnh đến những điều kiện
mới mang lại bởi toàn câu hóa, thì tác động của thương mại đến giáo dục là rất đa
21
dạng( xem biểu đồ *). Ở góc độ vĩ mô, hoạt động xuất nhập khẩu đã làm thay đổi cấu
trúc của nền kinh tế, theo đó buộc các quốc gia phải tập trung vào một số lĩnh vực đào
tạo giáo dục nhất định( Wood và Ridao-Cano, 1999). Ở góc độ vi mô, sự phát triển
nhanh chóng của hệ thống các chuỗi giá trị toàn câu( GVCs) buộc các quốc gia chỉ tập
trung vào một số khâu nhất định của quá trình hình thành sản phẩm. Thí dụ, các nhà
nhập khẩu lớn về quần áo vô hình chung buộc các công ty ở các quốc gia đang phát
triển duy trì những hoạt động sản xuất đơn giản chỉ cần những công nhân trình độ thấp
và rất ít phải đào tạo chuyên sâu. Kaplinsky( 2000) đã nhấn mạnh rằng sự tham gia
của các quốc gia vào toàn câu hóa không phải ở chỗ các quốc gia đó “ có mặt” mà ở
chỗ các quốc gia đó đưa những loại hàng hóa nào để tham gia mà thôi. Các nhà nhập
khẩu ở các quốc gia phát triển có xu hướng gây áp lực buộc các nhà cung ứng ở các
quốc gia đang phát triển cắt giảm chi phí trong khi phải nâng cao chất lượng sản
phẩm. Như vậy các nhà cung cấp hầu như không thể nâng cao chất lượng sản phẩm
của họ nhưng lại buộc phải hạ giá thành sản phẩm. Thương mại cũng tác động đến
lượng cung cho giáo dục, hơn nữa khi giáo dục là một dịch vụ thương mại, hoạt động
thương mại quốc tế có thể làm thay thế hoặc bổ sung cung giáo dục nội địa của quốc
1997). Điều này được chứng minh bởi một thực tế là việc học hỏi từ từ quá trình
chuyển giao công nghệ từ các nước phát triển sang các nước đang phát triển đang diễn
ra nhanh hơn trong thời kỳ thương mại toàn câu.
Stokey( 1996) đã chỉ ra thương mại là một nguyên nhân làm tăng lương và tăng cru về
lao động có kĩ năng, do đó gia tăng sự tích lũy về nguồn vốn con người( thông qua sự
bổ sung về nguồn vốn và lao động có kĩ năng và sự thay thế giữa vốn vật chất( tiền
đầu tư) và lao động có kĩ năng). Hanson và Harrison( 1995) cũng đã chỉ ra điều này
24
khi nghiên cứu ở Mexico. Sự tích lũy nguồn vốn con người gia tăng chất lượng lao
động qua đó tăng năng suất lao động và cuối cùng là tạo ra lợi thế so sánh cho từng
quốc gia trong thương mại quốc tế. Song song với đó là quá trình tác động ngược lại
của sự phát triển kinh tế đến sự tích luỹ nguồn vốn con người.
Sanchez- Paramo và Schady( 2003) đã phân tích sự tăng lên về lương lao động không
bằng nhau trong từng quốc gia và giữa các quốc gia, cụ thể là ở Argentina, Brazil,
Chile, Colombia và Mexico. Họ đã chỉ ra nguyên nhân là sự tăng lên về lượng câu đối
với lao động có kĩ năng được đào tạo, khi nghiên cứu trong từng khu vực như nhau ở
các quốc gia khác nhau. Galhardi( 1999) phân tích rằng sự tăng trưởng nhanh chóng
của thương mại quốc tế, đầu tư quốc tế và quá trình đổi mới công nghệ và chuyển giao
công nghệ trong sản xuất đã dẫn tới những công xưởng mới của thế giới. Đó là quá
trình đang diễn ra ở các quốc gia công nghiệp muộn ở châu Á và Châu Mỹ Latinh. Ở
các quốc gia này, quá trình thay thế sản xuất bằng lao động chân tay bằng lao động
máy móc yêu câu sự thay thế những kĩ năng lao động chân tay thông thường băng
những kĩ năng rộng hơn và cao cấp hơn, cần được đào tạo bài bản hơn. Sau đó, điều
này dẫn tới sự phân bổ những kĩ năng khác nhau và làm tăng lượng câu về lao động
được đào tạo có kĩ năng. Galhardi tìm ra nguyên nhân từ quá trình nghiên cứu hoạt
động sản xuất xuất khẩu của Hàn Quốc. Sự tăng trưởng kì diệu của Hàn Quốc qua
việc tăng nhanh xuất khẩu của họ có thể nói là hệ thống giáo dục mạnh mẽ và sự phát
triển thích ứng nhanh chóng của một số ngành nghề đặc biệt như quản lý, giảng viên
đại học, kĩ sư, và các ngành nghề khác liên quan. Mặc dù vẫn đang có sự gia tăng
trong hoạt động sản xuất hướng xuất khẩu tập trung vào lao động ít kĩ năng do quá