Vai trò của văn học dân gian đối với văn học viết thời Đại Việt - Pdf 58

Vai trò của văn học dân gian đối với văn học viết thời Đại Việt
Trong nhiều cuốn sách trước đây viết về văn học dân gian, thường có quan niệm: “Văn học
dân gian là sáng tác tập thể, truyền miệng của nhân dân lao động”(1). Các tác giả thường
ca ngợi nhân dân lao động là những con người hoàn hảo. Quan niệm như trên về tác giả của
văn học dân gian là chưa đầy đủ và chưa thật chính xác.
Văn học dân gian do dân chúng sáng tác thưởng thức, lưu truyền. Nội dung của khái niệm
dân, dân chúng thay đổi theo thời gian. Trong xã hội quân chủ, dân không chỉ gồm bốn loại
(sĩ, nông, công, thương) như giai cấp thống trị quan niệm mà còn bao gồm những người
khác như binh lính, những người làm nghề ca hát, các kĩ nữ, v.v… Trong xã hội thuộc địa nửa
quân chủ, dân bao gồm nông dân, thợ thủ công, người buôn bán nhỏ, dân nghèo thành thị,
công chức, trí thức, thợ thuyền, binh lính v.v…
Dân chúng là một tập hợp đông đảo, trong đó có kẻ hay người dở, có người thông tuệ và có
cả những người chậm hiểu, có cả những người tài khéo bên cạnh một số ít vụng về(2).
Văn học dân gian là một hình thái ý thức xã hội. Nhiều tác giả cho rằng, văn học dân gian ra
đời từ thời kì công xã nguyên thuỷ, trải qua các thời kì phát triển lâu dài trong các chế độ xã
hội có giai cấp, tiếp tục tồn tại trong thời đại ngày nay(3). Ngoài ra, cũng có ý kiến cho
rằng, chỉ sau khi có nhà nước, mới có hai dòng văn học: văn học dân gian và văn học viết.
Trước đó chỉ có văn học cộng đồng. Theo quan niệm này, người Ê Đê, Mơ Nông… không có
văn học dân gian vì chưa phát triển đến trình độ tổ chức xã hội có nhà nước. Giáo sư
Nguyễn Tấn Đắc viết: “Trong một xã hội cộng đồng như vậy, văn hoá mang tính cộng đồng
và cũng chưa nhiễm tính chính trị - đẳng cấp. Chưa có sự phân biệt giữa cái chính thống,
quan phương với cái dân gian, thôn dã. Tất cả chỉ là một. Không có hiện tượng hai bộ phận
văn hoá. Tính cộng đồng là đặc điểm bao trùm toàn bộ đời sống của xã hội đó. Khi nói dân
gian là mặc nhiên thừa nhận có cái đối lập với nó. Nhưng ở trong những xã hội này, văn hoá
nói riêng cũng như xã hội nói chung chưa có sự tách đôi thành hai bộ phận “đối lập”
nhau”(4).
Ý kiến trên là đáng chú ý. Tuy nhiên, nếu chia văn học thành ba loại hình (văn học cộng
đồng, văn học dân gian, văn học viết) thì chúng ta thấy, xét về phương thức sáng tác,
phương thức lưu truyền và tiếp nhận, xét về mặt thi pháp, văn học cộng đồng vẫn rất gần
gũi với văn học dân gian. Nếu xét kĩ, văn học cộng đồng có điểm khác so với văn học dân
gian (chẳng hạn không có sự tác động qua lại giữa hai dòng văn học khi đã ra đời nhà nước,

Gần son thì đỏ, mực thì đen
Sáng, biết nhờ ơn thuở bóng đè(7).
làm chúng ta nhớ đến câu tục ngữ “Gần mực thì đen, gần đèn thì sáng”.
Khi Nguyễn Bỉnh Khiêm viết:
Ăn ít ấy hơn, hờn ấy thiệt
Khôn thì người rái, dại người thương
Nhắn bảo bao nhiêu người ở thế
Chẳng khôn đừng dở, chớ ương ương(8).
là tác giả nhớ đến các câu tục ngữ “Ăn hơn, hờn thiệt, đánh tiệt đuổi đi”, “Khôn cho người ta
rái, dại cho người ta thương, dở dở ương ương cho người ta ghét”.
Câu thơ “Dài ống, tròn bầu, ấy khá chiều”(9) thoát ý từ câu tục ngữ “ở bầu thì tròn, ở ống
thì dài”.
Câu thứ ba và câu thứ năm của bài thơ dưới đây:
ở thế làm chi cười lẫn nhau,
Giàu chê khó, khó chê giàu.
Người hàng thịt nguýt người hàng cá,
Đứa bán bò gièm đứa bán trâu.
Bé vú thở than người cả vú,
Ít râu inh ỏi kẻ nhiều râu.
Mặc trời phú tính yên đòi phận,
ở thế làm chi cười lẫn nhau (10).
được tác giả sáng tạo từ hai câu tục ngữ: “Hàng thịt nguýt hàng cá”, “Cả vú lấp miệng em”.
Khi viết hai câu thơ:
Lận thế treo dê mang bán chó
Lập danh cưỡi hạc lại đeo tiền(11).
Trạng Trình đã nhớ đến câu tục ngữ “Treo đầu dê bán thịt chó”.
Hai câu thơ:
Chân tay gẫm lại ai hơn nữa
Tranh cạnh làm chi, lỗi phép nhà(12).
làm người đọc nhớ đến câu tục ngữ “Anh em như thể tay chân”.

tượng chưa thấy có ở các nhà thơ trung cận đại trước và sau Nguyễn Công Trứ(14).
Khi chọn lời ca dao “Chẳng thơm cũng thể hoa nhài...”, Nguyễn Công Trứ đã coi hoa nhài là
thứ hoa quý, hoa đẹp. Tư tưởng này gặp gỡ quan niệm thẩm mĩ dân gian(15).
Không phải ngẫu nhiên khi Nguyễn Công Trứ chọn bài ca dao “Cái cò lặn lội bờ sông...”.
Trong thơ ca dân gian, có một số lời mà ở đó con cò là hình ảnh của người nông dân: lam lũ,
vất vả, có nhiều đức tính quý bên cạnh những tật xấu. Từ cuộc đời từng trải của mình,
Nguyễn Công Trứ thấu hiểu sự vất vả, gian nguy của người lính, nỗi cực nhọc của người vợ
lính mà ca dao đã phản ánh.
Nguyễn Khuyến (1835 - 1909) sinh trước và mất sau Nguyễn Công Trứ. Yên Đổ đã sử dụng
ca dao như những điển cố. Trong bài “Thầy đồ ve gái goá”, ông viết:
Bắc cầu, câu cũ không hờ hững
Cầm kính, tình xưa những đắng cay(16).
Nếu chúng ta không biết hai lời ca dao:
+ Muốn sang thì bắc cầu kiều
Muốn con hay chữ thì yêu lấy thầy
+ Trách người quân tử vô tình
Có gương mà để bên mình không soi
thì sẽ không hiểu và không thấy được cái hay của câu thơ vừa dẫn.
Truyện Kiều là tập đại thành, là đỉnh cao nhất của dòng văn học viết thời trung đại. Để có
được Truyện Kiều,trước hết phải kể đến thiên tài của Nguyễn Du. Tất nhiên còn có những
nguyên nhân khác, trong đó có việc tác giả của nó đã tiếp thu những tinh hoa của thơ ca
dân gian. Trong tác phẩm này, có tất cả 79 lần Nguyễn Du đã sử dụng các mã ngôn từ của
ca dao. Thí dụ, ca dao có những lời:
+ Vì thuyền, vì bến, vì sông
Vì hoa nên bận cánh ong đi về.
+ Còn non còn nước còn trời
Còn cô bán rượu còn người say sưa.
+ Yêu nhau mấy núi cũng trèo
Mấy sông cũng lội, mấy đèo cũng qua.
Trong Truyện Kiều cũng có những câu thơ có kiểu dùng từ tương ứng:


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status