Vai trò của văn học dân gian đối với sự phát triển của văn hóa dân tộc - Pdf 17

Đề tài:
Vai trò của văn học dân gian đối với sự phát triển của
văn hóa dân tộc

I/ Khái niệm về văn hóa dân gian
Văn học là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người
tích lũy và sáng tạo , tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn trong quá trình
tương tác giữ con người với môi trường tự nhiên và xã hội. Chính vì vậy:
- Văn hóa có tính hệ thống, nó giúp phát hiện và liên kết các sự kiện, hiện tượng,
sự kiện thuộc nền văn hóa và thực hiện chức năng xã hội cung cấp ( cung cấp cho
xã hội mội phương tiện cần thiết để ứng phó với Môi trường thiên nhiên và xã hội
của mình).
Văn hóa có tính giá trị: Nghĩa là trở thành đẹp, trở thành có giá trị để thực hiện
chức năng điều chỉnh xã hội.
- Văn hóa có tính nhân sinh: Vì văn hóa như một hiện tượng xã hội do con người
sáng tạo ra và các giá trị tự nhiên. Văn hóa là cái tự nhiên được biến đổi bởi con
người, thực hiện chức năng giao tiếp, liên kết lại với nhau.
Văn hóa có tính lịch sử: Văn hóa như sản phẩm của một quá trình và được tích lũy
qua nhiều thế hệ với văn minh là sản phẩm cuối cùng.

Văn vật Văn hiến Văn hóa Văn minh
Giá trị vật chất Giá trị tinh thần Vật chất và tinh thần Vật chất và kĩ thuật
Có bề dày lịch sử Chỉ trình độ phát triển
Tính dân tộc Tính quốc tế
Gắn với phương Đông là nông nghiệp Phương Tây đô thị
* Văn hóa Việt nam là loại hình văn hóa gốc nông nghiệp.
Như chúng ta đã biết, phương Đông và phương Tây với hai môi trường sống
khác nhau. Cư dân phương Đông (phía đông nam) là xứ nóng mư nhiều độ ẩm cao,
tạo nên các con sông lớn với những vùng đồng bằng trù phú. Còn phương
Tây( phía tây bắc) là xứ lạnh với khí hậu khô không thích hợp cho thực vật sinh
trưởng, có chăng chỉ là những vùng đồng cỏ mênh mông. Hai loại địa hình vùng

thiếu tổ chức
Trong ứng xử với môi trường xã hội: Đó là thái độ dung hợp trong giao tiếp với
con người, mềm dẻo hiếu hòa trong đối phó.
II/ Khái niệm về văn học dân gian
1.Về thuật ngữ (Tên gọi) Văn học dân gian:
Văn học dân gian xuất hiện ngay từ khi chưa có văn học viết. Nó chính là toàn bộ
nền văn học sơ khai của mỗi dân tộc.
- Văn học văn chương truyền miệng: Được sáng tác và lưu truyền bằng miệng.
- Văn học văn chương bình dân: Do tập thể người lao động sáng tác và gắn
liền với đời sống cùng mọi nhu cầu cuả xã hội của họ.
* Văn học dân gian là gì?
- Những sáng tác có nội dung là toàn bộ tri thức, hiểu biết, kinh nghiệm, trí tuệ của
nhân dân và được biểu hiện bằng những hình thức nghệ thuật được các nhà nghiên
cứu quốc tế gọi là Folklore với hàm nghĩa là văn hoá dân gian.
- Văn học dân gian là nền văn học đầu tiên xuất hiện trong lịch sử văn hoá tinh
thần của loài người. Nó đồng hành với cuộc sống con người ngay từ buổi sơ khai.
Khi con người bắt đầu có ý thức, biết cảm nhận cái đẹp là lúc vă học dân gian ra
đời- một nền văn học chỉ lưu truyền trong trí nhớ. Văn học dân gian đặc biệt là
truyện cổ tích và ca dao sống với thời gian bằng sự hấp dẫn mọi thời đại của nó.
Vẻ đẹp đó muôn đời vẫn được khám phá, kiếm tiềm.
III/ Vai trò của văn học dân gian đối với sự phát triển của văn hóa dân tộc
- Văn học dân gian là bộ bách khoa vĩ đại, là nơi kết tinh rực rỡ những tri thức, tài
năng nghệ thuật, tư tưởng tình cảm của nhân dân.
- Văn học là cội nguồn của văn học dân tộc.
- Văn học dân gian là bầu sữa mẹ, nuôi dưỡng nền văn học dân tộc.
Điều này thể hiện ở các giá trị sau:
* Giá trị thẩm mỹ.
Văn học dân gian có giá trị to lớn trong việc bồi dưỡng, phát triển nhận thức của
con người về cái đẹp. Cái đẹp ấy biểu hiện trên nhiều phương diện:
- Đó là cái đẹp tỏa ra từ cuộc sống bình dị của con người. Ví dụ: '' tốt gỗ hơn tốt

Trong “Truyện Kiều” (Nguyễn Du) cũng có những câu thơ có kiểu dùng từ tương
ứng:
+ Vì hoa nên phải đánh đường tìm hoa
+ Còn non, còn nước, còn dài
Còn về còn nhớ đến người hôm nay.

4. Giá trị tạo nền cho nền văn hóa dân tộc.
Khi chưa có chữ viết, văn học dân gian có vai trò quan trọng trở thành bộ phận
chủ đạo và duy nhất của văn học dân tộc. Khi văn học viết xuất hiện thì văn học
dân gian vẫn không mất đi vì từ lúc chưa có chữ viết và ả khi đã có chữ viết, người
dân ít có điều kiện tiếp xúc với những thành tựu của văn học viết, họ vẫn có nhu
cầu sáng tác và thưởng thức bằng truyền miệng. Vì vậy bộ phận văn học dân gian
ra đời sớm hơn so với văn học viết nhưng vẫn tồn tại và phát triển đến ngày nay.
Văn học dân gian có tác động mạnh mẽ đến văn học viết. Đặc biệt là với tác phẩm
văn học chữ Nôm, các nhà văn học được nhiều từ cổ tích, các nhà thơ học được
nhiều ở ca dao Văn học dân gian góp phần quyết định trong việc xây dựng ngôn
ngữ văn học viết, sáng tạo nên những thể thơ dân tộc như lục bát, song thất lục bát,
hát nói Đề tài, cốt truyện của văn học dân gian đã trở thành chất liệu để các tác
giả văn học viết sáng tạo (chẳng hạn Thánh Tông di cảo, Truyền kì mạn lục ). Văn
học viết khai thác giá trị nôi dung và phương diện nghệ thuật của văn học dân gian.
Các nhà thơ học được ở ca dao cách thể hiện tình cảm, các nhà văn học ở truyện cổ
tích cách xây dựng cốt truyện.
Nhận xét về ảnh hưởng to lớn của văn học dân gian đối với văn học thành văn
Việt Nam, giáo trình Văn học dân gian nhận định: “Văn học dân gian là cội nguồn,
là bầu sữa mẹ nuôi dưỡng nền văn học dân tộc Việt Nam. Nhiều thể loại văn học
viết được xây dựng và phát triển dựa trên sự kế thừa các thể loại văn học dân gian.
Nhiều tác phẩm , nhiều hình tượng do văn học dân gian tạo nên là nguồn cảm
hứng, là thi liệu, văn liệu của văn học viết. Nhiều nhà thơ , nhà văn lớn của dân tộc
(Nguyễn Trãi , Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Du , Hồ Xuân Hương , Phan Bội
Châu , Nguyễn Bính, Hồ Chí Minh, Nguyễn Duy….) đã tiếp thu có kết quả văn

Đề tài
“Tay làm hàm nhai, tay quai
miệng trễ”,
“Miệng ăn núi lở”
(Tục ngữ)
“Anh em như thể tay chân
Rách lành đùm bọc, dở hay đỡ
đần”
(Ca dao)
“Tay ai thì lại làm nuôi miệng
Làm biếng ngồi ăn lở núi non.”
(Bảo kính cảnh giới số 22”
- Nguyễn Trãi)
“Chân tay gẫm lại ai hơn nữa
Tranh cạnh làm chi, lỗi phép nhà”
(Nguyễn Bỉnh Khiêm)Mười Thương
Một thương tóc bỏ đuôi gà
Chân quê
Hôm qua em đi tỉnh về ?
Nguồn
cảm
hứng
Hai thương ăn nói mặn mà có
duyên

tưởng
nhân ái
thân”
(Tục ngữ)
Truyện cổ tích “Thạch Sanh”,
“Tấm Cám”,
– Lâm Thị Mỹ Dạ

Tình
cảm lạc
quan
yêu đời
Tháng giêng , tháng hai , tháng ba
,tháng bốn , tháng khốn , tháng
nạn
Đi vay đi dạm , được một quan
tiền
Ra chợ Kẻ Diên mua con gà mái
Về nuôi ba tháng , hắn đẻ ra mười
trứng
Một trứng ung ; Hai trứng ung ;
Ba trứng ung
Bốn trứng ung ; Năm trứng ung ;
Sáu trứng ung


Tình
yêu
thiên
nhiên,
“Chẳng thơm cũng thể hoa nhài
Dẫu không lịch sự cũng người
Trường An”
(Ca dao)
Rủ nhau chơi khắp Long Thành
Ba mươi sáu phố rành rành chẳng
sai
Hàng Bồ, Hàng Bạc, Hàng Gai
Hàng Buồm, Hàng Thiếc,
Hàng Bài, Hàng Khay
Mã Vĩ, Hàng Điếu, Hàng Giày
Hàng Lờ, Hàng Cót, Hàng Mây,
“Chẳng thơm cũng thể hoa nhài
Dẫu không lịch sự cũng người Trường
An
Hồi thủ khả lân ca vũ địa
Đất Trường An là chốn đế kinh
Nước non một dải hữu tình
Giời Nam Việt trước gây đồ đế kỉ,
Người thôn ổ, dấu phong lưu thành thị.
Đất kinh kì riêng một áng lâm tuyền
Men sườn non tiếng mục véo von
In mặt nước buồm ngư lã chã
Hoa thảo kỉ kinh xuân đại tạ
đất nướcHàng Đàn

Tình
yêu
con
người
“Thân em cúc mọc bờ rào,
Kẻ qua ngắt nhụy, người vào bẻ
bông”
(Ca dao)
“Khi sao phong gấm rủ là
Giờ sao tan tác như hoa giữa đường ”
(Truyện Kiều - Nguyễn Du)
+ Về phương diện nghệ thuật: VHDG cung cấp cho các nhà văn một kho tàng các
truyền thống nghệ thuật dân tộc, từ ngôn ngữ đến các hình thức thơ ca, các phương
pháp xây dựng nhân vật, hình ảnh, cách nói, các biện pháp tu từ, thể loại, chất liệu
dân gian,
- Ngôn ngữ : ngôn ngữ văn học dân gian mang đậm tính triết lí, giàu chất thơ song
hình thức biểu đạt lại gần gũi, dễ hiểu. Người dân lao động thường dùng những
cách nói trong giao tiếp hàng ngày để diễn đạt tư tưởng, tình cảm cũng như đúc kết
kinh nghiệm sống.
VD : Truyền thống lấy lá trầu để làm ngôn ngữ bày tỏ tình cảm :
“Anh thương em trầu hết lá lươn”.
“Bắc thang lên hái ngọn trầu vàng
Trầu em cao số muộn màng anh thương”.
“Bây giờ em mới hỏi anh
Trầu vàng nhá với cau xanh thế nào ?
“Cau xanh nhá với trầu vàng,
Tình anh sánh với duyên nàng đẹp đôi.”
→ Tiếp nối truyền thống ấy, Hồ Xuân Hương cũng sử dụng ngôn ngữ trầu cau để
bày tỏ khát vọng hạnh phúc của người phụ nữ trong xã hội phong kiến :
“Quả cau nho nhỏ, miếng trầu hôi” (Mời trầu)


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status