LỜI MỞ ĐẦU
Trong suốt tiến trình lịch sử dựng nước và giữ nước, dân tộc Việt Nam đã tạo
lập được nền văn hoá phong phú, đa dạng, giàu bản sắc dân tộc. Trong đó văn học nghệ thuật dân gian là dòng chảy lớn bắt nguồn từ bản chất nhân dân, thể hiện sắc thái
và khát vọng của các cộng đồng cư dân khác nhau cùng chung sống trên lãnh thổ quốc
gia. Vì vậy, bản thân nó có sức sống trường tồn, góp phần làm nên sức mạnh của dân
tộc trong quá khứ, hiện tại và tương lai. Tuy nhiên vấn đề sử dụng tác phẩm văn học
nghệ thuật dân gian còn nhiều bất cập, và vấn đề bảo hộ quyền tác giả với loại hình
này cũng còn hạn. bài tiểu luận dưới đây xin đi sâu nghiên cứu phân tích những hạn
chế trong các quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về bảo hộ quyền tác
giả đối với tác phẩm văn học nghệ thuật dân gian. Do sự hạn chế về kiến thức, bài
làm sẽ không tránh khỏi thiếu sót, kính mong sự góp ý của thầy cô và các bạn để bài
làm được hoàn chỉnh hơn. Em xin chân thành cảm ơn!
NỘI DUNG
I.Một số vấn đề lí luận chung về bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm văn học
nghệ thuật dân gian.
1. Khái quát về tác phẩm văn học nghệ thuật dân gian.
Theo định nghĩa của WIPO/UNESCO: Dân gian (theo nghĩa rộng là văn hoá
truyền thống và dân gian thông thường) là một sáng tạo mang tính định hướng cộng
đồng và dựa trên truyền thống của các nhóm người hoặc các cá nhân phản ánh ước
vọng của cộng đồng như một hình thức thể hiện đầy đủ đặc điểm văn hoá và xã hội
của nó; các chuẩn mực của nó được truyền miệng, thông qua sự bắt chước hoặc các
hình thức khác. Các thể loại tác phẩm dân gian bao gồm ngôn ngữ, văn học, âm nhạc,
điệu múa, trò chơi, thần thoại, nghi lễ, tập quán, thủ công, kiến trúc và các nghệ thuật
khác.
Theo quan điểm truyền thống thì : Văn hóa nghệ thuật dân gian là cội nguồn, là
bản sắc, là hệ giá trị biểu tượng của văn hóa dân tộc, nhưng tựu chung lại thì văn hóa
dân gian là những sản phẩm chung của cộng đồng. Văn hóa dân gian có thể dưới dạng
ngôn ngữ (truyện, thơ, câu đố dân gian...); âm nhạc (các bài hát dân gian, âm nhạc
truyền thống...); động tác (múa dân gian, động tác thực hiện nghi lễ...) hoặc các dạng
thể hiện hữu hình khác (các tác phẩm hội họa, điêu khắc, nghệ thuật tạo hình, sản
phẩm thủ công mỹ nghệ...) và các tài sản văn hóa vật thể khác.
thường có “dị bản” khác nhau do được lưu truyền trong cộng đồng như các tác phẩm
truyện, bài hát, thơ….
Thứ ba, tác phẩm văn học nghệ thuật dân gian đóng vai trò quan trọng trong
việc nhận dạng văn hóa. Với việc phản ánh giá trị văn hóa của cộng đồng tác phẩm
văn học dân gian có vai trò quan trọng trong việc xác định giá trị văn hóa giữa cộng
đồng này với cộng đồng khác trong một quốc gia. Song quan trọng hơn các tác phẩm
văn học nghệ thuật nói riêng và các tác phẩm văn học nghệ thuật dân gian nói chung
2
đóng góp vai trò quan trọng trong việc nhận dạng văn hóa của quốc gia này với quốc
gia khác, điều này đã được tổ chức sở hữu trí tuệ WIPO khẳng định.
Thứ tư, hiện nay nhiều tác phẩm văn học nghệ thuật dân gian vẫn còn bị thất
truyền, một số tác phẩm nổi tiếng trong phạm vi quốc gia và được nhiều người biết
đến, nhưng vấn đề sử dụng có hiệu quả và khai thác giá trị của nó để bảo tồn cho mai
sau còn chưa được quan tâm đúng mức.
Với những đặc trưng riêng của tác phẩm văn học nghệ thuật dân gian làm cho
khung pháp luật hiện hành về quyền bảo hộ quyền tác giả với loại hình tác phẩm này
bộc lộ nhiều bất cập và hạn chế .(1)
2. Bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm văn học nghệ thuật dân gian.
Trước hết có thể hiểu quyền tác giả đối với tác phẩm văn học nghệ thuật dân
gian là các quyền về tài sản và nhân thân của chủ thể với tư cách là tác giả hoặc chủ sở
hữu quyền tác giả đối với tác phẩm văn học nghệ thuật dân gian. Bảo hộ quyền tác giả
đối với tác phẩm văn học nghệ thuật dân gian là việc nhà nước sử dụng chính sách
pháp luật về quyền tác giả để chống lại mọi hành vi xâm phạm đến quyền nhân thân,
quyền tài sản của các tác giả đối với tác phẩm văn học nghệ thuật dân gian.
Bảo hộ tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian của các quốc gia trên thế giới
nhằm nhiều mục đích khác nhau phụ thuộc vào điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội của
mỗi quốc gia. Nhìn chung các quốc gia trên thế giới khi bảo hộ tác phẩm văn học,
Thứ tư, bảo hộ tác phẩm văn học nghệ thuật dân gian là cách để giữ gìn tu bổ
và phát triển chúng. Việc bảo hộ tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian sẽ đề ra việc
cấp phép sử dụng, số tiền thu được từ việc cấp phép đó sẽ góp một phần vào việc tu
bổ, phát triển tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian. Bảo hộ tác phẩm văn học dân
gian sẽ tạo ra lợi ích cho cộng đồng lưu giữ chúng, khi có ai muốn khai thác một tác
phẩm văn học dân gian thì đồng nghĩa với việc họ phải bỏ ra một khoản phí để sử
dụng chúng góp phần vào sự duy trì sự tồn tại của tác phẩm văn học, nghệ thuật dân
gian nói riêng và văn hóa truyền thống nói chung.
II. Một số hạn chế trong các quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về bảo
hộ quyền tác giả đối với tác phẩm văn học nghệ thuật dân gian.
1. Chủ sở hữu quyền tác giả đối với tác phẩm văn học nghệ thuật dân gian.
Với một tác phẩm để xác định được phạm vi quyền được bảo hộ cũng như việc
thực hiện chúng, cần xác định đúng ai là chủ hữuquyền tác giả. Tác phẩm văn học dân
gian cũng vậy. Với đặc trưng là sáng tạo của cộng đồng, việc xác định chủ sở hữu với
tác phẩm văn học nghệ thuật dân gian là điều không dễ dàng. Luật sở hữu trí tuệ 2005
cũng chưa xác định được vấn đề này.
Chúng ta khó mà áp đặt được một cá nhân hay tổ chức nào là chủ sở hữu quyền
tác giả của tác phẩm văn học nghệ thuật dân gian, bởi lẽ nó là sáng tạo của cả cộng
đồng. hãy Cùng phân tích các quy định của luật sở hữu trí tuệ ghi nhận về chủ sở hữu
quyền tác giả đối với tác phẩm văn học nghệ thuật dân gian:
Điều 23 trực tiếp điều chỉnh quyền tác giả đối với tác phẩm văn học nghệ thuật
dân gian nhưng lại chưa nói cụ thể ai là chủ sở hữu của quyền này. Trong phần khái
4
niệm tác phẩm văn học nghệ thuật dân gian mà điều luật đưa ra, có đưa ra một số khái
niệm như: “cá nhân”, “nhóm cá nhân”, nhưng đối tượng này không thể là chủ thể của
quyền tác giả đối với tác phẩm văn học nghệ thuật dân gian. Bởi lẽ, theo quy định tại
Điều 13 luật đề cập chủ sở hữu quyền tác giả đối với tác phẩm văn học nghệ thuật và
khoa học nói chung là “cá nhân’, “tổ chức” những người trực tiếp sáng tạo hay là chủ
đồng dân tộc Việt Nam là chủ sở hữu quyền tác giả đối với tác phẩm văn học nghệ
thuật dân gian sẽ phù hợp hơn với thực tiễn của việc thực thi quyền, tuy nhiên cũng
cần có những biện pháp cụ thể để cộng đồng thực thi quyền này. Với lịch sử hàng
nghìn năm văn hiến với một nền văn hóa lâu đời đậm đà bản sắc dân tộc, Việt Nam có
rất nhiều những cộng đồng dân tộc và dân cư có những tác phẩm văn học nghệ thuật
dân gian mang bản sắc của riêng mình. Để thực hiện những quyền tài sản liên quan tới
mỗi tác phẩm văn học nghệ thuật dân gian, mỗi cộng đồng sở hữu phải lập nên môt tổ
chức có tư cách đứng chủ sở hữu. Bởi lẽ, sẽ có quá nhiều những cộng đồng và tổ chức
như thế nên sự phức tạp của các thủ tục hành chính cũng như mục đích thu và chi các
phí liên quan đến quyền tác giả đối với tác phẩm văn học nghệ thuật dân gian sẽ làm
cho việc các cộng đồng sáng tạo ra tác phẩm văn học nghệ thuật dân gian tự thực thi
những quyền tài sản đối với tác phẩm văn học nghệ thuật dân gian trở nên không có ý
nghĩa.
Từ những lập luận này, để thực thi quyền tài sản liên quan tới tác phẩm văn học
nghệ thuật dân gian, cần phải xác định toàn thể cộng đồng cũng là chủ sở hữu của các
tác phẩm văn học nghệ thuật dân gian. Qua toàn thể cộng đồng, Nhà nước mà trực tiếp
là một cơ quan nhà nước được trao thẩm quyền, sẽ thay mặt thực hiện các quyền tài
sản liên quan đến tác phẩm văn học nghệ thuật dân gian. Cơ chế này, ngoài việc giải
quyết được các mâu thuẫn trên đây còn rất phù hợp trong việc thực thi các quyền tài
sản khi tác phẩm văn học nghệ thuật dân gian Việt Nam được nước ngoài sử dụng. tuy
nhiên không phải tất cả mọi thành viên của cộng đồng đều có quyền sử dụng bất cứ
một hay tất cả vốn văn học nghệ thuật dân gian của cộng đồng mình. Pháp luật cần
quy định cụ thể một số đối tượng có quyền quản lí và bảo tồn giá trị văn hóa của cộng
đồng mình. Trước hết là những người có tài năng nổi bật hơn những thành viên khác,
có khả năng trình diễn vốn văn hóa ấy thành thạo nhất với kĩ năng cao nhất, có khả
năng sáng tạo bổ sung làm giàu cho vốn ấy và cũng có thể như người thầy truyền dạy
vốn văn hóa đó cho các thế hệ sau. Thứ hai, bên cạnh các nghệ nhân, người “truyền
lửa” là những người trẻ tuổi, yêu mến vốn văn học nghệ thuật dân gian của cộng đồng,
bảo tồn những tác phẩm văn học nghệ thuật dân gian hiện còn đang thất truyền trong
dân gian.
Với mục đích cao nhất này, khái niệm về “bảo hộ” đối với tác phẩm văn học
nghệ thuật dân gian cần phải được nhìn nhận khác với “bảo hộ” tác phẩm văn học,
nghệ thuât, khoa học thông thường. Bảo hộ không có nghĩa là độc quyền sử dụng và
cho phép sử dụng tác phẩm của tác giả như đối với các tác phẩm thông thường. bảo hộ
Tác phẩm văn học nghệ thuật dân gian là khi mọi người dân Việt Nam – dân gian –
đều được tiếp cận một cách dễ dàng nhất tới nó, sử dụng, duy trì nó, làm mới nó để
tiếp tục phản ánh được giá trị văn hóa của cả cộng đồng qua sự phát triển của nó.
Mục đích bảo hộ tác phẩm văn học nghệ thuật dân gian này, và đặc điểm chủ sở
hữu quyền tác giả đối với tác phẩm văn học nghệ thuật dân gian, đã làm cho việc cấp
phép sử dụng theo cách bảo hộ quyền tác giả thông thường, trở thành không cần thiết
khi một người dân Việt Nam nào đó muốn tiếp cận và sử dụng một tác phẩm văn học
nghệ thuật dân gian. Tuy vậy những hành vi sử dụng tác phẩm văn học nghệ thuật dân
7
gian đi ngược lại giá trị văn học, dân gian cần phải bị cấm. Đồng thời việc không cần
phải cấp phép không loại trừ khả năng người sử dụng phải thực hiện một số nghĩa vụ
tài chính nhất định. Còn đối với những người sử dụng là người nước ngoài, việc bảo
hộ tác phẩm văn học nghệ thuật dân gian như một tác phẩm văn học, nghệ thuật thông
thường là điều cần thiết bởi lẽ họ không phải là công dân Việt Nam. Khi sử dụng tác
phẩm văn học nghệ thuật dân gian vì mục đích lợi nhuận, họ cần xác lập với Nhà
nước Việt Nam, đại diện chủ sở hữu quyền tác giả đối với tác phẩm văn học nghệ
thuật dân gian Việt Nam, một mối quan hệ tương tự như với một số chủ sở hữu quyền
tác giả đối với những tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học thông thường khác.
3. Phạm vi bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm văn học nghệ thuật dân gian
Khoản 2 Điều 23 “tổ chức, cá nhân khi sử dụng tác phẩm văn học, nghệ thuật
dân gian phải dẫn chiếu xuất xứ của loại hình tác phẩm đó và bảo đảm giữ gìn giá trị
đích thực của tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian.”
đồng đã sáng tạo ra tác phẩm. Họ phải có quyền xác nhận là nguồn gốc của tác phẩm
mỗi khi tác phẩm được sử dụng hoặc dẫn chiếu.
Một quyền nhân thân nữa cũng cần được bảo hộ đối với tác phẩm văn học nghệ
thuật dân gian là quyền tương tự như quyền “bảo vệ sự toàn vẹn của tác phẩm, không
cho người khác sửa chữa, cắt xén hoặc xuyên tạc tác phẩm dưới bất kì hình thức nào
gây phương hại đến danh dự và uy tín của tác giả” được quy định cho quyền tác giả
thông thường. Các tác phẩm văn học nghệ thuật dân gian cần phải được bảo hộ sự toàn
vẹn trong giá trị văn học, nghệ thuật dân gian mà nó chứa đựng. Quyền nhân thân này
thuộc về cả cộng đồng nghĩa hẹp và cộng đồng nghĩa rộng, tức là toàn bộ công chúng.
Hơn nữa nhiều tác phẩm văn học nghệ thuật dân gian có sức ảnh hưởng và nổi tiếng ra
cả nước ngoài, Do vậy cũng cần quy định bảo hộ tác phẩm văn học nghệ thuật dân
gian để không làm ảnh hưởng đến cộng đồng sáng tạo ra nó, rộng ra là toàn cộng đồng
dân tộc: “bảo vệ sự toàn vẹn của tác phẩm, không cho người khác sửa chữa, cắt xén
hoặc xuyên tạc tác phẩm dưới bất kì hình thức nào gây phương hại đến danh dự và uy
tín của quốc gia”. Tuy nhiên, cộng đồng nghĩa rộng, thông qua Nhà nước, sẽ là người
thực thi quyền này bằng những luật lệ cho mình đặt ra. (4)
Đối với quyền tài sản,cần phải đặt ra việc thu phí khi sử dụng tác phẩm. bởi lẽ
những tác phẩm với giá trị văn hóa nghệ thuật đặc sắc và mang cả tâm hồn dân tộc thì
hoàn toàn chưa được quan tâm. Sự không công bằng còn thể hiện ở khía cạnh nữa là
việc làm tác phẩm phái sinh, tác phẩm chuyển thể, ... thì sau khi có tác phẩm thì người
chuyển thể hay người làm tắc phẩm phái sinh đều có quyền hưởng lợi ích khi có ngưởi
khác sử dụng những tác phẩm đó. Vậy có phải chúng ta đã bảo vệ một cái lợi ích khác
mà thật sự giá trị sáng tạo không có nhiều, họ chỉ dựa trên trí tuệ của người khác để
tạo ra một lợi ích mà thực ra họ không có sự sáng tạo nhiều ở trên thực thế trong khi
những tác phẩm VHNTDG luôn mang trong nó một sự sáng tạo nghệ thuật to lớn, một
giá trị dân tộc sâu sắc, một nét văn hóa đặc trưng lại không có một sự bảo hộ nào cho
nó. Thu phí sử dụng ngoài lợi ích có thêm nguồn vốn để hoàn thiện hay phát huy thêm
nhiều tác phẩm văn hóa dân gian, có vốn để quảng cáo hình ảnh văn hóa, những nét
9
phẩm văn học nghệ thuật dân gian, luôn được làm mới, bổ sung và phát triển qua từng
thời kì.vì vậy cần xác định thời hạn bảo hộ tác phẩm văn học nghệ thuật dân gian là vô
thời hạn. (5)
5. Bảo vệ quyền tác giả với tác phẩm văn học nghệ thuật dân gian.
10
Luật sở hữu trí tuệ chưa quy định cụ thể về các hình thức để bảo vệ quyền tác giả
đối với tác phẩm văn học nghệ thuật dân gian khi có hành vi vi phạm. Đối với loại
hình VHNTDG đặc biệt nên cần phải có cơ chế bảo hộ đặc biệt riêng không giống như
loại hình cụ thể khác. Vậy nên cần phải đăt ra những quy tắc chung, đảm bảo được
tính nguyên gốc, toàn vẹn, vừa phát huy được sự tự do sáng tạo phát triển trong cộng
đồng. Vấn đề được đề cập trước hết là tính toàn vẹn, giá trị đích thực của sản phẩm
VHNTDG luôn được bảo đảm, nghiêm cấm việc cắt xén xuyên tạc tác phẩm gây
phương hại đến giá trị đích thực của tác phẩm trong mọi trường hợp dưới mọi hình
thức thể hiện. Những hành vi đó đều là hành vi gây phương hại? Theo WIPO có 2 loại
hành vi chủ yếu mà các hình thức thể hiện dân gian cần được bao hộ chống lại
chúng: khai thác bất hợp pháp và các hành vi gây tốn hại khác.
Khai thác bất hợp pháp: là bất kỳ việc sử dụng nào được thực hiện nhằm mục
đích thu lợi, ngoài phạm vi truyền thống hay tập quán và không được sự đồng ý của cơ
quan có thẩm quyền hoặc cộng đồng liên quan tới nó. Nghĩa là, việc sử dụng - kể cả
nhằm mục đích thu lợi - trong phạm vi truyền thống hoặc tập quán thì cũng không phải
là đối tượng được phép.
Các hành vi gây tổn hại khác, có hại cho các lợi ích liên quan tới việc sử dụng
các hình thức thể hiện dân gian, và tùy theo mức độ lỗi và hậu quả thiệt hại mà bị chế
tài hành chính hay hình sự.
Tuy nhiên cũng cần xác định thế nào là hành vi hợp pháp. Sử dụng được phép:
Quy định này cho phép bất kỳ thành viên nào trong cộng đồng được tự do nhân bản
hoặc trình diễn các hình thức thể hiện dân gian của cộng đồng mình trong phạm vi
đồng cấp phép cho người sử dụng theo cách tương tự như các tác giả cấp phép. Ở các
nước khác, nơi di sản VHNTDG của cộng đồng về cơ bản được xem như một phần
của di sản văn hóa dân tộc, hoặc nơi mà các cộng đồng liên quan không thể tự quản lý
một cách có hiệu quả việc sử dụng các hình thức thể hiện dân gian của mình, thì "các
cơ quan có thẩm quyền" có thể được chỉ định để tiến hành cấp phép dưới hình thức
các quyết định theo luật công. Ở Việt Nam di sản VHNTDG được xem là nột tài sản
quốc gia, là một phần của di sản văn hóa dân tộc được thể hiện rất phong phú và đa
dạng trải rộng trên khắp 54 dân tộc thế nhưng gần như chưa có cơ quan nào đươc
thành lập để thực hiện việc này.
Vì vậy cần phải có một cơ quan nhà nước đủ lớn, đủ mạnh đủ khả năng đứng ra
tổ chức thực hiện và chịu trách nhiệm về vấn đề này. Cơ quan này phải có sự phối hợp
chặt chẽ với "cộng đồng có liên quan" được tổ chức thành hệ thống từ Trumg Ương
đến cơ sở (có thể tương ứng với đơn vị hành chính từ cấp bộ đến thôn bản) chịu trách
nhiệm hệ thống hóa di sản VHDG, rà soát, kiểm tra giám sát, cấp phép sử dụng và thu
phí. Vì "một tác giả hoặc cộng đồng không thể tự mình biết được mọi chuyện đang
diễn ra trên cả nước, còn nếu đem ra kiện tụng thì rất tốn kém". Cơ quan giám sát có
thẩm quyền có thể là Bộ Văn hóa.
12
Khi không có cơ quan thẩm quyền được chỉ định và cả hai việc cấp phép và thu
lệ phí đều được thực hiện bởi cộng đồng, thì đương nhiên, việc sử dụng lệ phí thu
được phải được quyết định bởi cộng đồng. Nhà nước cần đảm bảo có sự chia sẻ lợi
nhuận bằng cách đánh thuế hoặc đưa ra các biện pháp thích hợp khác.
Hình thức chế tài:
Tùy theo mức độ vi phạm, phạm vi, hậu quả của những hành vi vi phạm gây ra mà bị
xử lỳ hành chính hoặc có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự. (6)
KẾT LUẬN
Bảo hộ SHTT đối với các giá trị truyền thống không chỉ là việc ghi nhận các
14
2.
Bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm văn học nghệ thuật dân gian theo pháp
luật Việt Nam- một số bất cập về lí luận và giải pháp, ThS. Vũ Thị Phương
3.
Lan, Tạp chí Luật học số 11/2006
Bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm văn học nghệ thuật dân gian : Khoá
luận tốt nghiệp / Vũ Thị Như Hằng ; Người hướng dẫn: TS. Vũ Thị Hải Yến .
- Hà Nội, 2012
4. Luật sở hữu trí tuệ Việt Nam 2005.
5. />6. />option=com_content&view=article&id=971&catid=53&Itemid=104
15