Quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về quyền lập di chúc chung của vợ chồng - Pdf 34

Trần Thị Thanh Vân

N06 – TL1 – nhóm 1

Lời mở đầu ………………………………………...1
I. Sơ lược lịch sử vấn đề……………………………………………………1
II. Quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về quyền lập di chúc
chung của vợ chồng……………………………….……………….……….2
III. Những bất cập trong quy định của pháp luật về di chúc chung của
vợ chồng…………………………………...………………………………..3
III.1. Về quyền được sửa đổi, bổ sung, thay thế, hủy bỏ di chúc chung
của vợ chồng.………………………………………………….…….…..4
III.2. Về hiệu lực pháp luật của di chúc chung của vợ chồng …..………6
III.2.1. Xét về thời điểm có hiệu lực của di chúc…………………………..7
III.2.2. Về di sản thừa kế chưa chia……………………………….………9
III.2.3 Quy định tại điều 668 BLDS được điều chỉnh nhằm bình ổn quan
hệ xã hội, nhưng lại không lường hết mọi vấn đề, để lại nhiều vướng
mắc.....…………………………………………………………...……10
III.2.3.1. Việc xác định di chúc chung có hiệu lực vào thời điểm bên sau
cùng chết sẽ làm ảnh hưởng đến thời hiệu khởi kiện thừa kế đối với di sản
của người chết trước. ……………………………………….....………… .10
III.2.3.2. Gây khó khăn cho việc xác định phạm vi những người thừa kế và

cách
của
người
được
thừa
hưởng
di
sản……………………………………….11


Trần Thị Thanh Vân

N06 – TL1 – nhóm 1

Lời mở đầu
Theo quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành, tài sản của vợ chồng
là tài sản thuộc sở hữu chung hợp nhất. Dựa trên cơ sở quy định của pháp
luật về chế độ tài sản của vợ chồng, theo đó nếu tài sản là tài sản chung của
vợ chồng thì "vợ chồng có quyền và nghĩa vụ ngang nhau trong việc chiếm
hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung" (khoản 1 điều 28 BLDS 2005). Một
trong số những quy định của pháp luật cho phép vợ chồng thực hiện quyền
và nghĩa vụ ngang nhau là quyền lập di chúc chung. Tuy nhiên, dưới góc độ
lý luận và thực tiễn, pháp luật Việt Nam hiện hành còn khá nhiều điểm bất
cập cần phải xem xét.
I. Sơ lược lịch sử vấn đề.
Xem xét trong Bộ luật Hồng Đức và Luật Gia Long thì không thấy có
quy định về vấn đề này. Đối chiếu với Luật La Mã cũng như Bộ luật Dân sự
Cộng hòa Pháp thì thấy họ cũng không thừa nhận quyền lập di chúc chung
của vợ - chồng.
Tuy vậy, việc lập di chúc chung của vợ - chồng lại được thừa nhận trong
tục lệ của ta từ lâu. Theo Giáo sư Vũ Văn Mẫu, thực tiễn tục lệ của Việt
Nam trong các xã hội trước đây cho thấy, di chúc chung của vợ, chồng là
hình thức di chúc thông dụng và việc vợ - chồng cùng nhau lập di chúc
chung, là hiện tượng phổ biến thời bấy giờ. Hơn nữa, quan niệm truyền
thống của người Việt Nam vốn rất coi trọng đạo nghĩa vợ - chồng và luôn
muốn củng cố tình thương yêu, đoàn kết trong gia đình, nên cũng khuyến
khích việc vợ, chồng cùng nhau lập di chúc chung để định đoạt tài sản
chung, và coi đó như là một biểu hiện cao đẹp của sự đoàn kết, yêu thương
giữa vợ - chồng.

thương yêu, đoàn kết trong gia đình.
Bộ luật dân sự 1995 và Bộ luật dân sự 2005 quy định vợ chồng có
quyền lập di chúc chung để định đoạt tài sản chung. Theo đó, Điều 663
BLDS 2005 quy định: "vợ chồng có thể lập di chúc chung để định đoạt tài
sản chung"
Thông thường, di chúc do một cá nhân lập để định đoạt tài sản của
bản thân mình sau khi chết. Đây là hành vi pháp lí đơn phương được thực
hiện theo quyết định của từng cá nhân. Tuy nhiên, bộ luật dân sự 2005 quy
định một trường hợp ngoại lệ: vợ chồng có thể lập di chúc chung để định
đoạt tài sản chung của vợ chồng.
Theo quy định tại điều 14 luật Hôn nhân và giai đình năm 1986: "tài
sản chung của vợ chồng là tài sản do vợ hoặc chồng tạo ra, thu nhập về nghề

4|Page

Bài tập lớn học kì


Trần Thị Thanh Vân
N06 – TL1 – nhóm 1
nghiệp và những thu nhập thực tế khác của vợ, chồng trong thời kì hôn nhân,
hoặc tài sản được tặng cho chung hoặc được thừa kế chung"
Quy định này lại một lần nữa được khẳng định trong luật hôn nhân và
gia đình năm 2000. Trên cơ sở xác định tài sản chung của vợ, chồng là tài
sản thuộc sở hữu chung hợp nhất ( Điều 219 và 221) việc chiếm hữu, sử
dụng, định đoạt tài sản chung phải dựa trên sự nhất trí của vợ, chồng, do đó,
vợ chồng có thể lập di chúc chung để định đaọt tài sản chung. Tuy nhiên,
việc lập di chúc chung cũng phải dựa trên cơ sở tự nguyện , thống nhất ý chí
của cả vợ, chồng. Nếu vợ chồng không thống nhất được ý chí chung thì họ
vẫn có thể lập di chúc riêng. Mỗi người được quyền lập di chúc để định đoạt

trong di chúc chung không bị sửa đổi sẽ có giá trị. Nếu người vợ hoặc người
chồng lập di chúc khác để định đoạt cho một nửa phần tài sản thuộc tài sản
chung của vợ chồng (phần tài sản thuộc sở hữu của mình) thì di chúc riêng
được lập sau này sẽ có giá trị. Nếu người vợ hoặc người chồng còn lại không
lập di chúc khác cho phần tài sản của mình thì di chúc riêng chỉ còn thể hiện
ý chí của một người, sẽ được coi là di chúc của người đó.
Thứ ba, khi người vợ hoặc muốn sửa đổi, bổ sung, thay thế di chúc
chung của vợ chồng mà không được sự đồng ý của người kia, họ vẫn có
quyền lập di chúc riêng định đoạt phần tài sản thuộc sở hữu của mình. Di
chúc chung sẽ mất giá trị pháp lí. Nếu người chồng hoặc người vợ còn lại
không lập di chúc khác định đoạt tài sản của mình thì phần tài sản của họ
được chia thừa kế theo pháp luật
Đây là điểm không thuần nhất, chưa tìm được tiếng nói chung của
pháp luật thừa kế Việt Nam hiện hành gây ra khá nhiều rắc rối cho quá trình
phân chia di sản cũng như quá trình xét xử tranh chấp thừa kế của tòa.
Nguyên nhân là do đối với quan hệ xã hội về tài sản thì quy định khá phù
hợp và có tính hiện đại nhưng lại chưa dự liệu hết các tình huống sảy ra
trong muôn hình vạn trạng của cuộc sống. Quy định này cần phải được cụ
thể hóa hơn nữa trong luật trách gây phiền toái cho thực tiễn.
III.2. Về hiệu lực pháp luật của di chúc chung của vợ chồng
Theo điều 668 BLDS: "Di chúc chung của vợ chồng có hiệu lực pháp
luật từ thời điểm người sau cùng chết hoặc tại thời điểm vợ, chồng cùng
chết"
Ví dụ: Năm 2004, ông Nguyễn Văn A và bà Lê Thị C lập di chúc
chung của vợ chồng định đoạt số tài sản gồm nhà và đất. Trong di chúc thể
hiện đất chia thành 3 phần gắn với tài sản tọa lạc trên đất cho 3 người con
trai là Nguyễn Văn T, Nguyễn Văn D, Nguyễn Văn H (trong đó anh D và
8|Page

Bài tập lớn học kì

III.2.1. Xét về thời điểm có hiệu lực của di chúc
9|Page

Bài tập lớn học kì


Trần Thị Thanh Vân
N06 – TL1 – nhóm 1
Di chúc chỉ thi hành được từ thời điểm mở thừa kế, đó là thời điểm
người để lại di sản chết hoặc được xác định là đã chết theo một bản án tuyên
bố người đó chết có hiệu lực pháp luật. Theo quy định tại điều 668 BLDS,
dường như các nhà làm luật chỉ chú tâm vào thời điểm có hiệu lực của di
chúc chung đó mà không quan tâm đến tính hiện thực và nguyên tắc pháp
luật thừa kế, đồng thời không có sự cá biệt hóa từng chủ thể là vợ hoặc
chồng đã cùng lập di chúc chung.
Theo quy định tại điều 668 BLDS thì di chúc do vợ chồng lập chung
chỉ có hiệu lực thi hành tại thời điểm người sau cùng chết hoặc tại thời điểm
vợ hoạc chồng cùng chết. Trên thực tế một sự kiện phổ biến, thường xuyên
xảy ra là đối với một cặp vợ chồng cụ thể nào đó lập di chúc chung nhưng
sau đó hoặc người vợ chết trước hoặc người chồng chết trước thì việc chia di
sản của người chết trước đó là do những người có quyền thừa kế yêu cầu,
khi họ đã không thỏa thuận được và về mặt tâm lí những người thừa kế theo
di chúc cũng không thể chờ đợi lâu hơn, do việc hưởng di sản thôi thúc họ.
Hơn nữa người vợ hoặc người chồng của người chết trước tuổi có thể còn
trẻ, theo quy luật của sự sống người này có thể còn sống tới 5 năm, 10 năm,
20 năm... Với thời gian lâu như vậy, những người thừa kế theo di chúc liệu
có thể kiên trì chờ đợi được chăng? Hơn nữa, di sản thừa kế chưa được chia
do người sau cùng là vợ hoặc chồng chưa chết và do di chúc chung của vợ
chồng chưa có hiệu lực thi hành, tài sản do người còn sống quản lí, có thể
dẫn đến hậu quả gây lãng phí và có thể giảm giá trị bởi nhiều lí do không

vậy, người vợ hoặc người chồng còn sống sẽ quản lí, sử dụng tài sản chung.
Người vợ hoặc người chồng còn sống vừa với tư cách là người sở hữu phần
tài sản của mình, vừa với tư cách sở hữu tài sản của những người thừa kế
theo di chúc phần tài sản mà người thừa kế theo di chúc được hưởng nhưng
chưa được chia. Một câu hỏi đặt ra là hiệu lực của di chúc phát sinh tại thời
điểm mở thừa kế của người để lại di sản nhưng do người đó đã lập di chúc
chung với vợ hoặc chồng của người đó mà hiệu lực chia tài sản thừa kế của
người chết trước chưa thể thực hiện được. Quy định này không phù hợp với
đời sống thực tế và hiệu quả điều chỉnh không cao. Di sản thừa kế không thể
11 | P a g e

Bài tập lớn học kì


Trần Thị Thanh Vân
N06 – TL1 – nhóm 1
hiểu nó sẽ tồn tại ở dạng tĩnh mà di sản phải được đặt trong mối quan hệvới
xã hội sản xuất, kinh doanh, làm dịch vụ để khai thác làm phát sinh lợi
nhuận. Trong chừng mực nhất định, di sản thừa kế chưa được chai còn được
hiểu như khoản vốn cần phải được sử dụng vào sản xuất kinh doanh. Theo
quy định của pháp luật, di sản chỉ được chia khi người chồng hoặc người vợ
là người sau cùng chết hoặc cả hai vợ chồng cùng chết. Trong thừoi gian
người vợ hoặc người chồng còn sống đã sử dụng di sản chưa chia vào sản
xuất kinh doanh thu được lợi nhuận thì lợi nhuận đó là di sản thừa kế hay
thuộc quyền sở hữu của người vợ hoặc người chồng còn sống đó? Đây là
vấn đề cần được quan tâm vì tính chất của di sản thừa kế không đơn thuần là
loại tài sản nhất định nào đó mà di sản bao gồm cả vật, tiền, giấy tờ có giá và
các quyền tài sản theo quy định tại điều 163 BLDS.
III.2.3. Quy định tại điều 668 BLDS được điều chỉnh nhằm bình ổn quan
hệ xã hội, nhưng lại không lường hết mọi vấn đề, để lại nhiều vướng

quan tâm đến khối tài sản mà họ sẽ được hưởng theo di chúc của người chết
trước. Không hẳn là không có sự nghi ngờ đối với lòng trung thực của người
quản lí di sản. Nhưng nếu người chồng hoặc người vợ còn sống muốn chia
di sản cũng không thể thực hiện được vì phải tuân thủ quy định tại điều 668
BLDS.
III.2.3.2. Gây khó khăn cho việc xác định phạm vi những người thừa kế và
tư cách của người được thừa hưởng di sản.
Nếu những người thừa kế (của vợ, chồng đã chết hoặc những người
được chỉ định trong di chúc chung) chết sau thời điểm mở thừa kế, nhưng
chết trước khi di chúc chung có hiệu lực, thì họ có còn được hưởng thừa kế
nữa không, có chia thừa kế thế vị hay thừa kế chuyển tiếp không; hoặc
những người trong diện thừa kế hợp pháp (của người vợ hoặc chồng còn
sống), nhưng tư cách thừa kế của họ được xác định trước khi di chúc chung
có hiệu lực (như vợ, chồng tái hôn hoặc con riêng với người vợ, chồng
sau…), thì họ có được thừa kế bắt buộc đối với phần di sản đã được định
đoạt trong di chúc chung hay không. Ngoài ra, việc xác định tư cách người
thừa kế cũng gặp khó khăn ngay cả đối với người được chỉ định hưởng thừa
kế theo di chúc chung, nếu họ chết sau người vợ hoặc chồng quá cố, nhưng
lại chết trước khi di chúc chung có hiệu lực… Đây là những vấn đề phức
tạp, nhưng quy định hiện hành không thể giải quyết được. Bởi vậy, nếu quy
13 | P a g e

Bài tập lớn học kì


Trần Thị Thanh Vân
N06 – TL1 – nhóm 1
định thời điểm có hiệu lực của di chúc như hiện nay thì cần phải tính đến
quyền lợi của những người được di chúc chung chỉ định hưởng thừa kế
III.2.3.3. Ảnh hưởng đến sự bảo toàn giá trị của khối di sản là tài sản chung

Quyền thừa kế đối với di sản của người chết trước phát sinh từ thời
điểm mở thừa kế, nhưng cho đến khi di chúc chung chưa phát sinh hiệu lực,
những người thừa kế của người chết trước sẽ không thể yêu cầu phân chia di
sản của người chết đã được định đoạt trong di chúc chung và phần di sản
liên quan tới phần nội dung di chúc chung bị vô hiệu, nếu có; hoặc trong
trường hợp người vợ hay người chồng vẫn còn sống lâu hơn so với tuổi thọ
của những người thừa kế hợp pháp của người chết trước (như cha, mẹ của
người chết trước, người thừa kế là con riêng chưa thành niên đang đau yếu
cần có tiền để chữa bệnh…), làm những người này mất quyền được hưởng
di sản. Ví dụ: ông A, bà B lập di chúc chung để lại di sản cho các con chung
của ông A, bà B và cha, mẹ của ông A. Sau đó, ông A chết. Vấn đề phức tạp
phát sinh là cha mẹ của ông A cần khoản tiền để chữa bệnh, nên muốn được
chia thừa kế di sản của ông A. Nhưng do bà B vẫn còn sống, di chúc chung
của A và B chưa có hiệu lực, nên cha mẹ của ông A không thể xin chia di
sản của ông A theo di chúc chung nói trên. Vì thế, quyền được hưởng thừa
kế của cha mẹ ông A không được bảo đảm.
Đó là chưa kể các trường hợp di chúc chung có thể bị vô hiệu toàn bộ
hay một phần, nhưng mãi đến hàng chục năm sau mới phát hiện, thì trong
nhiều trường hợp, quyền khởi kiện đòi chia thừa kế của những người thừa kế
hợp pháp của người vợ hay chồng chết trước đã bị bỏ lỡ mà không còn cơ
hội để khắc phục được, nếu người thừa kế đó đã chết. Điều này đã xâm
phạm tới quyền thừa kế hợp pháp – một quyền hiến định cơ bản của công
dân, được Hiến pháp và pháp luật bảo hộ.
III.2.3.5. Lợi ích của các chủ nợ sẽ bị xâm phạm:
Theo quy định tại điều 683 BLDS, các nghĩa vụ về tài sản và các
khoản chi phí liên quan đến thừa kế được ưu tiên thanh toán trước khi chia
di sản theo thứ tự ưu tiên. Đặt trường hợp, khi còn sống, người chồng hoặc
người vợ chết trước có nghĩa vụ về tài sản đối với người káhc do hành vi gây
thiệt hại, do vay tài sản, do nghĩa vụ cấp dưỡng cho các nhân... thì quyền tài
sản của các chủ nợ đó được giải quyết như thế nào khi mà những người thừa

IV. Những giải pháp hoàn thiện quy định của pháp luật về quyền lập di
chúc chung của vợ chồng
IV.1. Về quyền được sửa đổi, bổ sung, thay thế, hủy bỏ di chúc chung của
vợ chồng
Từ một số điểm còn gây bàn cãi đã phân tích ở mục II.1, mong rằng
các cơ quan nhà nước có thẩm quyền sẽ ban hành văn bản hướng dẫn cụ thể
16 | P a g e

Bài tập lớn học kì


Trần Thị Thanh Vân
N06 – TL1 – nhóm 1
việc áp dụng thống nhất quy định của BLDS 2005 về di chúc chung của vợ
chồng để tránh xảy ra tranh chấp giữa những người thừa kế sau khi người để
lại di chúc chết; tòa án cũng có cơ sở áp dụng thống nhất để giải quyết việc
phân chia di sản thừa kế khi có tranh chấp.
Theo quan điểm cá nhân, em cho rằng ý kiến thứ hai trong mục II.1 là
hợp lí hơn cả, mong rằng sẽ được các nàh làm luật xem xét và quyết định.
Hoặc nếu có thể, các nhà làm luật cũng có thể xem xét đến ý kiến cho
rằng BLDS nên sửa đổi khoản 2 Điều 664 theo hướng cho phép một bên vợ
hoặc chồng có quyền sửa đổi, bổ sung, thay thế, hủy bỏ di chúc trong phạm
vi phần tài sản của mình trong khối tài sản chung của vợ chồng (đã được
định đoạt bởi di chúc chung) bất cứ lúc nào kể cả khi không có sự đồng ý
của vợ hoặc chồng. Khi đó, nếu bên kia không chấp thuận thì coi như di
chúc chung đã lập trước đó không còn hiệu lực, mỗi người có quyền định
đoạt phần của mình theo quy định chung về thừa kế. Trong trường hợp một
bên vợ hoặc chồng chết trước thì nên quy định phần di sản có thể được chia
cho những người được thừa kế khi có yêu cầu và được sự chấp thuận của
người chồng hay vợ còn sống (sửa đổi Điều 668- BLDS về hiệu lực của di

cùng chết thì di chcú có hiệu lực thi hành đối với di sản của người vợ hoặc
người chồng đã chết trước là thời điểm vợ hoặc người chồng tạ thế sau này.
Quy định như vậy sẽ thuận tiện cho việc giải quyết những tranh chấp có liên
quan đến việc hưởng di sản của người thừa kế theo di chúc, đồng thời cũng
tránh được những rắc rối không cần thiết.

Kết luận
Qua thực tiễn áp dụng pháp luật về di chúc chnug của vợ chồng với
rất nhiều vướng mắc, không phù hợp với hiện thực, hi vọng rằng các nhà lập
pháp, các cơ quan chức năng sẽ sớm vào cuộc, đảm bảo cho những quy định
của pháp luật sẽ phù hợp hơn để dễ dàng đi vào cuộc sống.

18 | P a g e

Bài tập lớn học kì


Trần Thị Thanh Vân

N06 – TL1 – nhóm 1

Tài liệu tham khảo
1. Bộ luật dân sự 2005
2. Pháp lệnh thừa kế 1990.
3. Trường đại học luật Hà Nội, Giáo trình luật dân sự Việt Nam 1, Nxb.
Tư pháp, Hà Nội, 2010.
4. Bộ tư pháp, Viện khoa học pháp lý, PGS.TS Hoàng Thế Liên, Bình
luận khoa học, Bộ luật Dân sự 2005, tập II, Nxb.CTQG – 2010.
5. TS. Phùng Trung Tập, Luật thừa kế Việt Nam, Nxb. Hà Nội – 2010.
6.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status