MỤC LỤC
NỘI DUNG Trang
LỜI NÓI ĐẦU.....................................................................................3
1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài......................................................3
2. Tình hình nghiên cứu đề tài...........................................................................4
3. Mục đích - Phạm vi nghiên cứu....................................................................5
4. Phương pháp nghiên cứu...............................................................................6
5. Đóng góp mới của luận văn...........................................................................6
6. Cơ cấu của luận văn.......................................................................................7
CHƯƠNG 1:........................................................................................8
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ DI CHÚC CHUNG...................8
CỦA VỢ CHỒNG...............................................................................8
1.1. Khái niệm, sự khác biệt giữa di chúc chung vợ chồng và di chúc thông
thường ...............................................................................................................8
1.1.1. Khái niệm di chúc chung của vợ chồng..............................................8
1.1.2. Đặc điểm di chúc chung của vợ chồng................................................9
1.1.3. Sự tất yếu hình thành di chúc chung của vợ chồng...........................11
1.1.4. Đặc thù của di chúc chung của vợ chồng..........................................13
1.2. Vài nét về quá trình hình thành và phát triển của pháp luật về di chúc
chung của vợ chồng.........................................................................................15
1.2.1. Quá trình hình thành và phát triển của pháp luật về di chúc chung của
vợ chồng trên thế giới..................................................................................15
1.2.2. Quá trình hình thành và phát triển của chế định di chúc chung của vợ
chồng tại Việt Nam qua các thời kỳ lịch sử................................................19
CHƯƠNG 2:......................................................................................23
QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN HÀNH VỀ............23
DI CHÚC CHUNG CỦA VỢ CHỒNG...........................................23
2.1. Điều kiện có hiệu lực của di chúc chung của vợ chồng...........................23
2.1.1. Điều kiện về chủ thể lập di chúc ......................................................23
2.1.2. Điều kiện về nội dung và mục đích...................................................26
2.1.3. Điều kiện về ý chí tự nguyện thống nhất...........................................30
nhân có quyền định đoạt tài sản theo ý của mình,. Điều này đã được ghi nhận và
khẳng định trong rất nhiều văn bản quy phạm pháp luật. Tính tự định đoạt, thỏa
thuận là một nét tiêu biểu trong quan hệ pháp luật dân sự. Trong quan hệ thừa
kế, người lập di chúc toàn quyền định đoạt tài sản của mình sau khi chết. Xã hội
phát triển, trình độ dân trí nâng cao, người ta muốn định đoạt tài sản của mình
ngay cả khi chết đi bởi những gì họ đã làm, đã gắng và đang có trong tay. Luật
Việt Nam quy định tài sản vợ chồng là thuộc sở hữu chung hợp nhất và vợ
chồng có quyền ngang nhau trong việc định đoạt tài sản. Thực tế cho thấy không
phải là hiếm những trường hợp vợ chồng lập di chúc chung. Và vì pháp luật quy
định không rõ ràng về vấn đề này, nên dẫn đến những cách hiểu không giống
nhau của những người lập di chúc và ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp
khác của những người thừa kế.
Thực tiễn giải quyết án về di chúc chung của vợ chồng ở các Tòa án tại
các tỉnh, thành phố hiện nay rất ít, thậm chí là không có. Theo thống kê tại Tòa
án nhân dân thành phố Hà Nội cho thấy, trong khoảng 59 vụ án xét xử phúc
thẩm về quan hệ pháp luật thừa kế năm 2008 thì chỉ có hơn 10 vụ liên quan đến
di chúc, trong đó hầu như không có vụ án nào về vấn đề di chúc chung của vợ
chồng
1
. Trong các tranh chấp về thừa kế thì chủ yếu là những tranh chấp về di
sản thừa kế, tranh chấp giữa tài sản chung của những người thừa kế khi một
trong hai vợ chồng chết trước…Phần lớn những tranh chấp nào liên quan đến di
chúc thì cũng bị tuyên hủy hoặc không hợp pháp và chia thừa kế theo pháp luật.
Chỉ có một vài vụ án liên quan đến di chúc của một trong hai bên vợ chồng còn
1
Theo Sổ kết quả xét xử phúc thẩm các vụ án dân sự của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội năn 2008
Pháp luật Việt Nam hiện hành về hiệu lực pháp luật di chúc chung của vợ chồng
3
Đồng Thị Thu Sa Khoá luận tốt nghiệp
sống định đoạt phần di sản của người đã chết trong khối tài sản chung là đề cập
của pháp luật cũng được quy định một cách rõ ràng. Người dân rất khó tiếp cận
một vấn đề nào đó mà mình quan tâm. Ngay cả khi người dân biết được pháp
luật quy định vấn đề đó như thế nào cũng chưa chắc đã hiểu được đúng bản chất,
ý nghĩa của điều luật.
Hiệu lực pháp luật di chúc chung của vợ chồng là một vấn đề không hề dễ
hiểu. Dù pháp luật chỉ quy định ở một điều luật duy nhất là Điều 668 Bộ luật
Dân sự 2005 (BLDS 2005), nhưng nội hàm của điều luật ấy lại liên quan đến
nhiều điều luật khác trong cùng Bộ luật và cả những điều luật thuộc văn bản
pháp luật khác trong hệ thống pháp luật Việt Nam.
Di chúc chung của vợ chồng là một loại di chúc đặc biệt. Tính chất đặc
biệt của nó thể hiện trong các quy định về chủ thể, nội dung, ý nghĩa, hình
thức…Nhưng những nội dung ấy lại không được pháp luật quy định rõ. Do đó,
tìm hiểu và làm rõ các quy định của pháp luật hiện hành về di chúc chung của
vợ chồng nói chung và hiệu lực pháp luật di chúc chung của vợ chồng nói riêng
sẽ là mục đích đầu tiên của luận văn.
Tiếp theo, trên cơ sở phân tích, làm rõ các quy định của pháp luật hiện
hành, tác giả bài viết sẽ đưa ra những khúc mắc, những mâu thuẫn, sự chồng
chéo dẫn tới sự bất hợp lý của các quy định này. Những khúc mắc, những mâu
thuẫn, sự chồng chéo, bất hợp lý xoay quanh những nội dung chủ yếu của di
chúc chung vợ chồng và giá trị pháp lý của di chúc. Ví dụ như những quy định
về thời điểm có hiệu lực di chúc chung của vợ chồng, di chúc riêng của vợ
chồng, những quy định về di chúc thông thường …
Pháp luật Việt Nam hiện hành về hiệu lực pháp luật di chúc chung của vợ chồng
5
Đồng Thị Thu Sa Khoá luận tốt nghiệp
Và cuối cùng, luận văn sẽ đưa ra những kiến nghị, những đề đạt để những
quy định của pháp luật về di chúc hạn chế được tối đa sự bất hợp lý, khắc phục
những điểm bất tương đồng; để từng quy định trong vấn đề được hiểu thống
nhất và áp dụng cho đúng. Mặt khác, đóng góp một phần cho sự hoàn thiện pháp
luật về di chúc trong hệ thống pháp luật Việt Nam nói chung.
để từ đó làm sáng tỏ những điểm đặc thù về di chúc chung của vợ chồng, từ đó
đưa ra những kiến nghị hoàn thiện pháp luật Việt Nam.
6. Cơ cấu của luận văn
- Mục lục
- Lời mở đầu
- Chương I: Một số vấn đề lý luận về di chúc chung của vợ chồng
- Chương II: Quy định pháp luật Việt Nam hiện hành về di chúc chung của
vợ chồng
- Chương III: Kiến nghị các giải pháp hoàn thiện quy định của pháp luật
Việt Nam hiện hành về hiệu lực di chúc chung của vợ chồng
- Kết luận
- Tài liệu tham khảo
Pháp luật Việt Nam hiện hành về hiệu lực pháp luật di chúc chung của vợ chồng
7
Đồng Thị Thu Sa Khoá luận tốt nghiệp
CHƯƠNG 1:
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ DI CHÚC CHUNG
CỦA VỢ CHỒNG
1.1. Khái niệm, sự khác biệt giữa di chúc chung vợ chồng và di chúc thông
thường
1.1.1. Khái niệm di chúc chung của vợ chồng
Nghiên cứu bất kỳ một vấn đề khoa học nói chung và vấn đề pháp lý nào
nói riêng trước tiên chúng ta cần phải đi nghiên cứu khái niệm của nó. Bởi nội
hàm của khái niệm ít hay nhiều cũng phản ánh nhiều yếu tố như bản chất, đặc
điểm của đối tượng nghiên cứu.
Điều 646 Bộ luật Dân sự 2005 (BLDS 2005) đã quy định “Di chúc là sự
thể hiện ý chí của cá nhân nhằm chuyển tài sản của mình cho người khác sau khi
chết”. Khác với hợp đồng là sự gặp gỡ của hai hay nhiều ý chí tại một thời điểm,
di chúc được hình thành bởi sự bày tỏ ý chí của người lập di chúc mà thôi. Đó
chính là giao dịch pháp lý một bên; theo đó, người có tài sản quyết định chuyển
chúc được sửa đổi, bổ sung, thay thế, hủy bỏ theo ý chí của người lập di chúc.
Tuy nhiên, xuất phát từ tính chất đặc thù của di chúc chung, di chúc chung của
vợ chồng mang những đặc điểm khác biệt cần được lưu ý sau đây.
Thứ nhất, về ý chí đơn phương của di chúc: Ngay cả khi vợ chồng cùng
lập di chúc thì tính chất một bên của giao dịch vẫn không mất đi. Điều đó có
nghĩa là khi vợ chồng đã thỏa thuận, thống nhất định đoạt tài sản chung của
mình thì pháp luật hoàn toàn tôn trọng. Tài sản ấy có thể định đoạt một phần
Pháp luật Việt Nam hiện hành về hiệu lực pháp luật di chúc chung của vợ chồng
9
Đồng Thị Thu Sa Khoá luận tốt nghiệp
hoặc toàn bộ. Người thụ hưởng có thể là cá nhân hoặc tổ chức bất kỳ mà không
phụ thuộc vào quan hệ huyết thống, nuôi dưỡng. Vợ chồng lập di chúc chung có
thể gắn nghĩa vụ hoặc không gắn nghĩa vụ đối với người thụ hưởng và cũng
không cần quan tâm người thụ hưởng ấy có đồng ý, có muốn nhận di sản hay
không. Đây là sự chuyển giao không có đền bù và hoàn toàn phụ thuộc ý chí của
vợ chồng lập di chúc chung. Tính chất một bên ở đây không phải là khi vợ
chồng lập di chúc chung thì chỉ có một bên hoặc vợ hoặc chồng thể hiện ý chí.
Mà một bên ở đây là sự xác lập giữa một bên lập di chúc để định đoạt tài sản của
mình, cụ thể ở đây là cả vợ và chồng với một bên là người thụ hưởng. Tính chất
một bên là xuất phát từ ý chí của người lập di chúc.
Tóm lại, không có sự ràng buộc hoặc căn cứ nào bắt buộc vợ chồng phải
tuân theo khi vợ chồng đồng thuận định đoạt tài sản chung của mình.
Thứ hai, khi vợ chồng lập di chúc chung, việc sửa đổi, bổ sung, thay thế
và hủy bỏ di chúc chỉ có thể được thực hiện khi có sự đồng ý của cả hai người
nếu cả hai còn sống. Trong trường hợp một người chết trước, người còn sống chỉ
có thể sửa đổi, bổ sung di chúc liên quan đến phần tài sản của mình trong khối
tài sản chung và nhất là không thể thay thế, hoặc hủy bỏ di chúc chung đã lập.
Có thể hiểu vấn đề này như sau: vợ chồng thỏa thuận thống nhất ý chí lập di
chúc chung thì khi sửa đổi, bổ sung thay thế hủy bỏ di chúc ấy cũng phải có sự
thỏa thuận thống nhất ý chí của cả hai người. Sự thống nhất ý chí này phải được
giúp đỡ nhau, cùng xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc, bền
vững” (Điều 18 Luật Hôn nhân và Gia đình 2000). Xuất phát từ bản chất của
hôn nhân là vợ chồng cùng chung tay xây dựng mái ấm, cùng nghĩa vụ yêu
thương chăm sóc nhau, chăm nom gia đình, giáo dục nuôi dưỡng các con. Trong
gia đình ấy, vợ chồng cùng phải nhìn về một phía, vì sự phát triển chung.
Thứ hai, về tài sản: Bên cạnh đời sống tình cảm vợ chồng còn phải quan
tâm tới vấn đề vật chất, tài sản của vợ chồng. Cuộc sống chung của vợ chồng
cùng với tính chất của quan hệ hôn nhân đã xác lập đòi hỏi vợ chồng phải có
khối tài sản chung. Và khối tài sản ấy sẽ là cơ sở kinh tế của gia đình, đáp ứng
các nhu cầu thiết yếu của gia đình để từ đó thực hiện tốt các chức năng xã hội.
Pháp luật Việt Nam hiện hành về hiệu lực pháp luật di chúc chung của vợ chồng
11
Đồng Thị Thu Sa Khoá luận tốt nghiệp
Tài sản chung của vợ chồng là vấn đề có ý nghĩa quan trọng như vậy. Điều 27
Luật Hôn nhân và Gia đình 2000 quy định: “Tài sản chung của vợ chồng gồm tài
sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất kinh doanh và
những thu nhập hợp pháp khác của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản mà
vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và những tài sản khác
mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung”. Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở
hữu chung hợp nhất, việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung ấy thường
được sự nhất trí của vợ chồng.
Vậy nên vợ chồng có quyền lập di chúc chung để định đoạt tài sản chung
là vấn đề cần thiết. Tuy nhiên sự định đoạt này chỉ được đảm bảo nếu vợ chồng
đều tự nguyện, thống nhất và tuân theo các quy định của pháp luật về di chúc
hợp pháp. Di chúc chung của vợ chồng là loại di chúc đặc biệt được xác lập do
hai người có tài sản chung hợp nhất, cùng định đoạt chung. Bởi vậy, BLDS
2005 đã quy định về loại di chúc đặc biệt và phức tạp này. Nếu vợ chồng không
đồng thuận trong việc lập di chúc chung này thì họ có thể lập di chúc riêng cho
mình; mỗi người đều có thể lập di chúc riêng để định đoạt một nửa khối tài sản
chung hợp nhất của vợ chồng và những tài sản thuộc sở hữu riêng của người đó.
người thừa kế sẽ được đảm bảo một cách ưu việt hơn so với việc không có di
chúc hoặc di chúc riêng. Thứ ba, việc quy định như vậy, phần nào đó ngăn chặn
sự mất ổn định của gia đình; bởi một khi động chạm đến vấn đề lợi ích, tài sản
tiền bạc…thì rất dễ xảy ra mâu thuẫn giữa những người trong gia đình với nhau,
đặc biệt khi một người chết trước, người còn sống quản lý di sản chưa chia,
những người thừa kế theo di chúc chưa thể nhận di sản từ di chúc chung của vợ
chồng mà người vợ hoặc người chồng còn sống. Di sản đang được quản lý đó
cần luôn đảm bảo sự minh bạch rõ ràng.
1.1.4. Đặc thù của di chúc chung của vợ chồng
Trên cơ sở khái niệm, đặc điểm di chúc chung của vợ chồng đã nêu ra ở
trên, ta thấy cùng là di chúc, di chúc chung của vợ chồng có những đặc điểm
giống di chúc thông thường. Nhưng vì là một loại di chúc đặc biệt, di chúc
chung của vợ chồng so với di chúc thông thường có một số điểm đặc thù sau:
Pháp luật Việt Nam hiện hành về hiệu lực pháp luật di chúc chung của vợ chồng
13
Đồng Thị Thu Sa Khoá luận tốt nghiệp
Vấn đề Di chúc thông thường Di chúc chung của vợ chồng
Tên gọi Di chúc Di chúc chung của vợ chồng
Người
lập di
chúc
Pháp luật chỉ cho phép một cá
nhân có quyền lập di chúc riêng
để định đoạt tài sản của mình, trừ
trường hợp di chúc chung của vợ
chồng.
Pháp luật cho phép vợ chồng
được lập di chúc chung để định
đoạt tài sản trên cơ sở hôn nhân
tồn tại.
thuận với nhau. Nhưng chỉ có ý
nghĩa tương đối với riêng vợ
hoặc chồng trong trường hoặc
một trong hai người chết trước.
Người
hưởng
thừa kế
Không bao giờ là người lập ra di
chúc.
Phần di chúc chung liên quan đến
người chết trước có hiệu lực pháp
luật thì người còn sống luôn là
một trong những người thừa kế
của người chết trước.
Pháp luật Việt Nam hiện hành về hiệu lực pháp luật di chúc chung của vợ chồng
14
Đồng Thị Thu Sa Khoá luận tốt nghiệp
Hiệu lực
pháp luật
Điều 667 BLDS 2005: “Di chúc
có hiệu lực pháp luật kể từ thời
điểm mở thừa kế”.
Điều 668 BLDS 2005: “Di chúc
chung của vợ chồng có hiệu lực
từ thời điểm người sau cùng chết
hoặc tại thời điểm vợ chồng cùng
chết”.
Quản lý
di sản
Có thể được chỉ định trong di
Đồng Thị Thu Sa Khoá luận tốt nghiệp
không ghi nhận quyền này trong hệ thống pháp luật của họ. Tiêu biểu đó là Luật
La Mã và pháp luật Cộng hòa Pháp. Sở dĩ chọn hai hệ thống pháp luật này vì vị
trí, ý nghĩa và vai trò của nó có tác động lớn tới sự hình thành phát triển hệ
thống pháp luật của các quốc gia trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng.
Đặc biệt từng là thuộc địa của Pháp, Việt Nam chịu ách thống trị nặng nề cả về
kinh tế, văn hóa. Pháp luật của Việt Nam thời kỳ đó cũng bị chi phối, ảnh hưởng
rất nhiều của Bộ luật Dân sự Pháp.
Thứ nhất, Luật La Mã là một Bộ luật cổ xưa nhất trong văn minh nhân
loại. Nó có vai trò và vị trí vô cùng lớn đối với sự phát triển pháp luật của tất cả
các nước trên thế giới từ cổ chí kim. Nhiều chế định của Luật La Mã có giá trị
như một nguồn tri thức chung của nhân loại về cấu trúc lập pháp và trình độ lập
pháp. Những quy định của Luật La Mã đã đặt nền móng vững chắc có ảnh
hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp tới hầu hết tất cả luật thành văn của các nước trên
thế giới trong quá trình xây dựng luật dân sự hiện đại. Đặc biệt có thể thấy các
quy định hết sức mở thể hiện sự tôn trọng của pháp luật đối với quyền bình đẳng
của con người trong các gia đình vợ chồng, con cái, trong các quan hệ hợp đồng
như mua bán, sở hữu, thừa kế…
Khái niệm luật La Mã, theo Ang-ghen: “Luật La Mã là hình thức pháp
luật hoàn thiện nhất dựa trên cơ sở tư hữu. Sự thể hiện pháp lý những điều kiện
sống và những xung đột xã hội trong đó thống trị tư hữu mà những nhà làm luật
sau đó không thể mang thêm điều gì hoàn thiện hơn…”. Luật La Mã là một
nguồn tài liệu tham khảo quý giá cho các nhà nghiên cứu pháp luật và các nhà
lập pháp trong thời hiện đại.
Trong lĩnh vực thừa kế, Luật La Mã quy định hai hình thức cơ bản là thừa
kế theo di chúc (testato) và thừa kế theo luật (intestato), ngoài ra còn có thừa kế
theo lệnh của các quan. Tuy nhiên, trong thừa kế theo di chúc lại không hề đề
cập đến vấn đề di chúc chung của vợ chồng. Cho đến nay các nhà làm luật vẫn
không lý giải được tại sao pháp luật La Mã lại không quy định vấn đề di chúc
chung của vợ chồng trong hệ thống pháp luật của mình.
hòa Pháp đều được hình thành trên cơ sở kết hợp luật tập quán địa phương và
Luật La Mã nhưng lại có sự khác biệt giữa hai hệ thống pháp luật này trong vấn
Pháp luật Việt Nam hiện hành về hiệu lực pháp luật di chúc chung của vợ chồng
17
Đồng Thị Thu Sa Khoá luận tốt nghiệp
đề di chúc chung của vợ chồng. Ở Đức, các đế chế Đức tồn tại thời kỳ giữa năm
962 và năm 1806 tự cho mình là kế thừa của đế chế La Mã. Luật La Mã được
nghiên cứu tại các trường đại học của Đức và các nước lục địa châu Âu và được
coi là nguồn luật bổ sung, được áp dụng trực tiếp nếu luật pháp thành văn và tập
quán pháp luật của họ chưa có quy định đối với quan hệ xã hội cần thiết phải
điều chỉnh pháp luật.
Bộ luật Dân sự Đức năm 1896 được gọi là “professorenrecht”, tức là luật
của các giáo sư bởi sự thành công trong kỹ năng lập pháp cũng như trong các
quan hệ xã hội mà nó điều chỉnh. Pháp luật của Đức quy định vợ chồng có thể
lập di chúc chung.
Thứ hai, từng là một trong những phần lãnh thổ thuộc Pháp, nhưng
Quebec (hiện nay thuộc Canada) lại quy định theo hướng công nhận di chúc
chung của vợ chồng.
Với những quốc gia này nếu khi kết hôn vợ chồng lập hôn ước để định
đoạt tài sản của mình hoặc hôn nhân của họ là chế độ phân sản thì quyền lập di
chúc chung cũng không bị hạn chế trừ điều kiện về tài sản vợ chồng định đoạt
trong di chúc phải là tài sản chung. Tuy nhiên, trường hợp này gặp rất ít trên
thực tế; và đa phần di chúc chung của vợ chồng được lập trên cơ sở chế độ cộng
đồng tài sản của vợ và chồng.
Ngoài ra, với những nước thuộc hệ thống common law, đặc điểm giải
quyết tranh chấp của họ là phụ thuộc phần lớn vào những case (án lệ). Và hầu
như không có vụ tranh chấp, rắc rối nào là không giải quyết được. Nếu không có
case thì hướng giải quyết phụ thuộc vào ý chí chủ quan của người thẩm phán
giải quyết vụ án đó. Tranh chấp di chúc chung của vợ chồng ở những nước này
nếu có không phải là không có hướng giải quyết.
Đức, các vấn đề về thừa kế theo di chúc được quy định tại các Điều 354, Điều
388. Ở đây, người con gái có quyền thừa kế ngang bằng người con trai và Bộ
luật đã phân định nguồn gốc tài sản của vợ chồng là tài sản riêng của mỗi người
Pháp luật Việt Nam hiện hành về hiệu lực pháp luật di chúc chung của vợ chồng
19
Đồng Thị Thu Sa Khoá luận tốt nghiệp
và tài sản chung của vợ chồng. Đây là một điểm được đánh giá là rất tiến bộ, tuy
nhiên bộ luật lại không có quy định về di chúc chung của vợ chồng.
Bộ Hoàng Triều Luật Lệ, tức Luật Gia Long dưới thời nhà Nguyễn so với
Bộ Luật Hồng Đức thì hà khắc hơn rất nhiều; cụ thể những vấn đề về bình đẳng
nam nữ không được công nhận; luật không đề cập về quyền thừa kế của con gái
với những tài sản thông thường và mặc dù luật có quy định về thừa kế theo di
chúc nhưng vấn đề di chúc chung không được đề cập.
Tuy nhiên theo Giáo sư Vũ Văn Mẫu, việc lập di chúc chung của vợ
chồng lại được thừa nhận từ lâu trong phong tục tập quán, thể hiện quan niệm
truyền thống đạo lý người Việt coi trọng nghĩa tào khê, luôn củng cố tình yêu
thương, sự gắn kết trong gia đình và thực tiễn tục lệ của Việt Nam trong các xã
hội trước đây cho thấy di chúc chung của vợ chồng là hình thức di chúc thông
dụng và việc vợ chồng cùng lập di chúc chung là hiện tượng phổ biến thời bấy giờ
1
.
* Thời kỳ Pháp thuộc
Thời kỳ này chúng ta có ba Bộ luật tiêu biểu là Bộ Dân luật Giản yếu
1883, Bộ Dân luật Bắc kỳ 1931, Bộ Dân luật Trung kỳ 1936; và tất cả chúng
đều dựa trên cơ sở những nguyên tắc đại cương của Bộ Dân Luật Pháp 1804
nhưng lại có sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với đời sống, sinh hoạt người Việt.
Luật quy định trong gia đình, người vợ không có quyền định đoạt tài sản
chung của vợ chồng. Điều 346 Dân luật Bắc kỳ và Điều 341 Dân luật Trung kỳ
đều quy định: Nếu người chồng chết trước, thì người vợ chỉ được hưởng tài sản
riêng của mình, còn tài sản chung thì không được hưởng. Người vợ goá chỉ trở
đối toàn diện về chế định thừa kế, trong đó có đề cập đến vấn đề di chúc chung
của vợ chồng. Sau khi Pháp lệnh thừa kế ban hành, chương II của Pháp lệnh đã
quy định trình tự thừa kế theo di chúc và dù không trực tiếp quy định về di chúc
chung của vợ chồng nhưng cũng gián tiếp thừa nhận hiệu lực của di chúc chung,
và những quy định này đã được pháp điển hoá tại phần thứ tư Bộ luật dân sự 1995.
Mặt khác, luật Hôn nhân và gia đình 1986, Luật Hôn nhân và gia đình
2000 hiện hành đều khẳng định “Vợ chồng có quyền và nghĩa vụ ngang nhau
Pháp luật Việt Nam hiện hành về hiệu lực pháp luật di chúc chung của vợ chồng
21
Đồng Thị Thu Sa Khoá luận tốt nghiệp
trong việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung” và dù pháp luật tôn
trọng sở hữu riêng của mỗi bên vợ và chồng nhưng Điều 27 Luật Hôn nhân và
gia đình 2000 đã quy định: “Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung
hợp nhất”.
Điều 635 Bộ luật dân sự 1995 cũng đã quy định về quyền bình đẳng trong
quan hệ thừa kế “Mọi cá nhân đều bình đẳng về quyền để lại tài sản của mình
cho người khác và quyền hưởng di sản theo di chúc hoặc theo pháp luật”. Điều
đó có nghĩa là phụ nữ hay là nam giới đều bình đẳng với nhau trong việc để lại
di sản thừa kế, hưởng di sản thừa kế, có toàn quyền định đoạt tài sản của mình;
Chính vì thế, việc lập di chúc chung của vợ chồng để định đoạt tài sản đã được
quy định khá rõ trong những điều luật riêng biệt (Điều 667, Điều 671 Bộ luật
Dân sự 1995).
Và các quy định này đã có nhiều sửa đổi trong BLDS 2005, cụ thể tại các
Điều 663, Điều 664 và Điều 668. Nếu Điều 671 Bộ luật Dân sự 1995 quy định
về hiệu lực pháp luật của di chúc chung của vợ chồng: “Trong trường hợp vợ,
chồng lập di chúc chung mà có một người chết trước, thì chỉ phần di chúc liên
quan đến phần di sản của người chết trong tài sản chung có hiệu lực pháp luật;
nếu vơ, chồng có thỏa thuận trong di chúc về thời điểm có hiệu lực của di chúc là
thời điểm người sau cùng chết, thì di sản của vợ, chồng theo di chúc chung chỉ
được phaan chia từ thời điểm đó” thì trong BLDS 2005 lại chỉ quy định hiệu lực
người này khi họ có tài sản nhất định thì vẫn có quyền lập di chúc để định đoạt
tài sản của mình. Tuy nhiên, ở độ tuổi này, cá nhân mới chỉ đạt được sự nhận
Pháp luật Việt Nam hiện hành về hiệu lực pháp luật di chúc chung của vợ chồng
23
Đồng Thị Thu Sa Khoá luận tốt nghiệp
thức nhất định, chưa thể coi là hoàn thiện, chưa thể kiểm soát được sự định đoạt
của mình nên pháp luật quy định chỉ khi có sự cho phép của cha, mẹ hoặc người
giám hộ người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi mới có quyền lập
di chúc. Vấn đề không có gì đáng nói và tưởng chừng những quy định của pháp
luật về vấn đề trên hoàn toàn hợp lý nếu không có sự khác biệt giữa những quy
định ấy với Luật Hôn nhân và Gia đình. Ta biết Điều 663 BLDS 2005 cho phép:
“Vợ chồng có thể lập di chúc chung để định đoạt tài sản chung”. Trong khi điều
kiện đầu tiên để nam nữ có thể kết hôn là yêu cầu về độ tuổi “Nam từ hai mươi
tuổi trở lên, nữ từ mười tám tuổi trở lên” (Khoản 1 Điều 9, Luật Hôn nhân và
Gia đình 2000). Ở đây ta thấy sự mâu thuẫn. Điều 18 BLDS 2005 quy định
“Người từ đủ mười tám tuổi trở lên là người thành niên. Người chưa đủ mười
tám tuổi là người chưa thành niên”. Nếu người nữ qua tuổi mười bảy (tức là chỉ
cần một ngày sau sinh nhật của người ấy), bước sang tuổi mười tám mà kết hôn
thì theo Luật Hôn nhân và Gia đình 2000 điều đó hoàn toàn hợp pháp. Nhưng
nếu sau khi kết hôn, người này cùng chồng thỏa thuận thống nhất lập di chúc
chung thì di chúc ấy có được pháp luật công nhận hay không. Vì trong trường
hợp này, người vợ không có đầy đủ năng lực hành vi dân sự đề tự mình quyết
định việc lập di chúc. Người vợ muốn lập di chúc thì phải có sự đồng ý của cha,
mẹ hoặc người giám hộ. Quy định như vậy có là hợp lý vì người con gái sau khi
“xuất giá” (“làm con nhà người”) muốn định đoạt tài sản, ở đây lại là tài sản
chung với người chồng của mình, lại phải xin ý kiến của cha, mẹ hoặc người
giám hộ đồng ý hay không đồng ý. Nếu cha, mẹ hoặc người giám hộ không
đồng ý thì có phải là đã không đảm bảo quyền lập di chúc này của người vợ.
Nhưng nếu không quy định quyền lập di chúc của người vợ trong trường hợp
này thì cũng không là hợp lý, không đảm bảo yếu tố công bằng so với những
đoạt những tài sản mà vợ chồng có trong đời sống chung. Vậy nên có thể coi
đây là trường hợp ngoại lệ của khoản 2 Điều 647 BLDS 2005.
Tiếp nữa, đây là một giao dịch pháp lý đơn phương được thực hiện bởi
hai chủ thể là vợ và chồng cùng thỏa thuận thống nhất lập di chúc chung. Điều
kiện cần thiết phải có đối với di chúc chung nữa là phải còn tồn tại tình trạng
Pháp luật Việt Nam hiện hành về hiệu lực pháp luật di chúc chung của vợ chồng
25