Thời điểm có hiệu lực của di chúc chung của vợ, chồng doc - Pdf 11



Khoa học pháp lý

Thời điểm có hiệu lực của di chúc
chung của vợ, chồng

Vấn đề hiệu lực pháp luật của di chúc chung vốn đã gây rất nhiều
tranh luận giữa các chuyên gia pháp luật thừa kế, khi góp ý cho
Dự thảo Bộ luật Dân sự năm 2005 (sau đây viết tắt là BLDS
2005)

Vấn đề hiệu lực pháp luật của di chúc chung vốn đã gây rất nhiều
tranh luận giữa các chuyên gia pháp luật thừa kế, khi góp ý cho
Dự thảo Bộ luật Dân sự năm 2005 (sau đây viết tắt là BLDS
2005). Tuy nhiên, sau khi Bộ luật Dân sự năm 2005 được ban
hành, vấn đề này vẫn chưa được giải quyết triệt để, nên vẫn còn
nhiều bất cập, đặc biệt là quy định về thời điểm có hiệu lực của di
chúc chung không trùng với thời điểm mở thừa kế (1). Hệ quả là,
khi một bên vợ hoặc chồng chết trước, người được chỉ định
hưởng thừa kế theo di chúc chung không thể yêu cầu chia di sản
do người chết trước để lại, những người thuộc diện thừa kế bắt
buộc của người vợ hay chồng đã chết trước không được yêu cầu
chia thừa kế bắt buộc của người vợ hoặc chồng đã chết và nếu
ngoài di chúc chung, một bên vợ, chồng chết trước còn để lại
nhiều di chúc khác nhau thì vấn đề xác định hiệu lực của các di
chúc sẽ gặp rất nhiều khó khăn.
Chúng tôi xin được tập trung làm rõ thêm những bất cập trong
quy định của BLDS 2005 về thời điểm có hiệu lực của di chúc
chung của vợC, chồng và đưa ra một số kiến nghị cụ thể.
1. Những bất cập của quy định về thời điểm có hiệu lực của di

chung, hoặc một phần tài sản liên quan đến phần di chúc chung bị
vô hiệu… thì có thể dẫn đến hậu quả là khối di sản của người đó
được chia thừa kế làm nhiều lần.
Điều này dẫn đến hệ quả là người thừa kế của người vợ hay
chồng chết trước sẽ phải kiện xin chia thừa kế nhiều lần, toà án sẽ
phải ít nhất hai lần thụ lý và giải quyết hai vụ tranh chấp khác
nhau trên cùng một khối tài sản của người chết trước. Từ đó
không chỉ gây khó khăn cho người thừa kế của người chết trước,
làm phức tạp thêm tính chất của vụ việc, mà còn gây khó khăn
cho các cơ quan chức năng trong việc giải quyết tranh chấp thừa
kế (trong việc xác định di sản của người chết, xác định người
thừa kế của người chết trước và việc thực hiện nghĩa vụ trả nợ,
nếu người chết có để lại món nợ đối với người thứ ba…), thậm
chí có thể dẫn đến vi phạm nguyên tắc không thụ lý, xét xử nhiều
lần cho cùng một vụ việc (nhất sự bất tái cứu) theo quy định của
pháp luật tố tụng dân sự (4).
Thứ hai: quy định về thời điểm có hiệu lực của di chúc chung
như luật hiện hành sẽ làm ảnh hưởng nghiêm trọng tới quyền và
lợi ích hợp pháp của những người thừa kế của người vợ hay
chồng chết trước.
Quyền thừa kế đối với di sản của người chết trước phát sinh từ
thời điểm mở thừa kế, nhưng cho đến khi di chúc chung chưa
phát sinh hiệu lực, những người thừa kế của người chết trước sẽ
không thể yêu cầu phân chia di sản của người chết đã được định
đoạt trong di chúc chung và phần di sản liên quan tới phần nội
dung di chúc chung bị vô hiệu, nếu có; hoặc trong trường hợp
người vợ hay người chồng vẫn còn sống lâu hơn so với tuổi thọ
của những người thừa kế hợp pháp của người chết trước (như
cha, mẹ của người chết trước, người thừa kế là con riêng chưa
thành niên đang đau yếu cần có tiền để chữa bệnh…), làm những

với người được chỉ định hưởng thừa kế theo di chúc chung, nếu
họ chết sau người vợ hoặc chồng quá cố, nhưng lại chết trước khi
di chúc chung có hiệu lực… Đây là những vấn đề phức tạp,
nhưng quy định hiện hành không thể giải quyết được. Bởi vậy,
nếu quy định thời điểm có hiệu lực của di chúc như hiện nay thì
cần phải tính đến quyền lợi của những người được di chúc chung
chỉ định hưởng thừa kế.
Thứ tư: sự mâu thuẫn giữa quy định về thời điểm có hiệu lực của
di chúc chung của vợ, chồng với các quy định khác có liên quan
trong hệ thống pháp luật.
Theo các quy định liên quan, kể từ thời điểm mở thừa kế, người
thừa kế có các quyền và nghĩa vụ tài sản do người chết để lại (6).
Người thừa kế chỉ có thể từ chối hưởng di sản thừa kế trong thời
hạn sáu tháng, kể từ ngày mở thừa kế. Nếu không từ chối đúng
thủ tục và trong thời hạn luật định thì được coi là đã nhận di sản
(7).
Theo đó, giữa thời điểm phát sinh các quyền và nghĩa vụ của
người thừa kế so với thời điểm có hiệu lực của di chúc chung là
khác nhau, dẫn tới sự bất cập và thiếu nhất quán trong việc thực
hiện các quyền này. Mặt khác, thời điểm có hiệu lực của di chúc
chung rõ ràng cũng không nhất quán với quyền từ chối hưởng di
sản, vì vào thời điểm di chúc chung có hiệu lực, người thừa kế
(nếu còn sống) cũng không thể thực hiện quyền từ chối thừa kế
được (8).
Mặt khác, BLDS 2005 quy định di chúc chung có hiệu từ khi
người sau cùng chết, nhưng theo quy định của Luật Nhà ở 2005
thì người thừa kế có quyền sở hữu đối với di sản thừa kế là nhà ở,
kể từ thời điểm mở thừa kế (9). Như vậy, thời điểm có quyền sở
hữu nhà phát sinh trước thời điểm di chúc chung có hiệu lực. Xét
trên phương diện quyền sở hữu và quyền thừa kế, có thể thấy, khi

Như vậy, thời điểm phát sinh hiệu lực pháp luật của di chúc
chung không đơn giản chỉ là căn cứ để phân chia di sản theo di
chúc chung, mà sẽ ảnh hưởng tới thời hiệu khởi kiện, quyền thừa
kế di sản của người chết trước, xác định phạm vi những người
thừa kế hợp pháp, xác định giá trị di sản của người chết và những
biến động của nó… Qua đó sẽ làm cho việc chia thừa kế theo di
chúc chung trở nên khó khăn, phức tạp thêm. Thực chất nguyên
nhân của những mâu thuẫn này xuất phát từ việc pháp luật quy
định về thời điểm có hiệu lực của di chúc chung là thời điểm bên
sau cùng chết, trong khi quyền thừa kế phát sinh từ thời điểm mở
thừa kế. Bởi vậy, cần phải cân nhắc sửa đổi quy định về thời
điểm có hiệu lực pháp luật của di chúc chung một cách chặt chẽ,
hợp lý hơn.
2. Một số kiến nghị
2.1. Về những định hướng chung
2.1.1.Cần tách vấn đề di chúc chung của vợ, chồng ra khỏi quy
định chung về di chúc cá nhân và thiết kế thành một mục mới
trong BLDS 2005
Tuy di chúc chung của vợ, chồng cũng có những đặc điểm giống
như một di chúc thông thường do cá nhân lập ra, nhưng di chúc
chung còn có những đặc thù, như: (i) do ý chí của hai cá nhân là
vợ - chồng cùng tham gia định đoạt, dựa trên quan hệ hôn nhân
đang còn hiệu lực của hai người đó; (ii) dùng để định đoạt khối
tài sản chung của vợ, chồng; (iii) vợ, chồng có thể thỏa thuận các
nội dung của di chúc chung; (iv) chỉ được sửa đổi khi có sự đồng
của vợ chồng (nếu cả hai đều còn sống), và được sửa đổi riêng
phần di chúc trong giới hạn phần tài sản của mình trong khối tài
sản chung (nếu một bên đã chết)…
Như đã xác định, di chúc chung cũng là một loại di chúc, nên
phải tuân thủ các quy định chung về điều kiện có hiệu lực của di

chồng, nhưng cũng đảm bảo tính thống nhất với các quy định
khác có liên quan. Ví dụ: di chúc chung có thể định đoạt tài sản
chung và cả tài sản riêng của mỗi bên vợ, chồng, trong trường
hợp vợ, chồng có đề cập đến tài sản riêng trong di chúc chung đó;
hoặc hiệu lực (một phần) của di chúc chung có thể được xác định
vào thời điểm một bên vợ hoặc chồng chết. Nhưng nếu vợ, chồng
thỏa thuận về thời điểm có hiệu lực của di chúc chung hoặc thỏa
thuận về thời điểm phân chia di sản thì cần phải tôn trọng thỏa
thuận đó…
Sự kết hợp mềm dẻo giữa quy định về di chúc cá nhân, quyền
thừa kế của cá nhân với việc lập di chúc chung, hiệu lực và thực
thi di chúc chung có một số đặc thù, sẽ làm cho quy định về di
chúc chung không mâu thuẫn với quy định chung về thừa kế,
nhưng vẫn bảo đảm được các nội dung cần thiết và những dấu
hiệu riêng biệt của loại di chúc đặc thù này. Để đạt được yêu cầu
đó, nhà làm luật cần quán triệt quan điểm xem di chúc chung của
vợ, chồng như là trường hợp đặc biệt của di chúc cá nhân, là sự
cộng lại của hai di chúc cá nhân, có tính đến sự đặc thù về hiệu
lực của quan hệ hôn nhân giữa những người lập di chúc chung,
cũng như đối tượng của di chúc ở đây là tài sản chung của vợ,
chồng.
2.1.3. Ngoài việc quy định rõ ràng về các trường hợp cụ thể đặc
thù của di chúc chung, pháp luật cần giải quyết rốt ráo các vấn đề
bất cập phát sinh từ việc thừa nhận các đặc thù đó.
Khi luật thừa nhận những tính chất, dấu hiệu đặc thù của di chúc
chung sẽ dẫn đến một số điểm khác biệt trong việc áp dụng pháp
luật và hậu quả pháp lý của của việc áp dụng các quy định khác
biệt đó. Trong những trường hợp như vậy, nhà làm luật cần tính
đến những hệ quả kéo theo khi chấp nhận các quy định đặc thù
này. Ví dụ: khi một phần nội dung có định đoạt đến tài sản riêng

sau cùng chết, thì di sản được định đoạt trong di chúc chung của
vợ, chồng chỉ được phân chia từ thời điểm đó. Việc thỏa thuận
thời điểm có hiệu lực của di chúc chung không làm ảnh hưởng
đến quyền thừa kế của những người thừa kế hợp pháp khác của
các bên vợ, chồng trong việc yêu cầu tòa án bảo vệ quyền thừa kế
hợp pháp của mình khi một bên vợ hoặc chồng chết trước”.
Nội dung điều luật được đề nghị sửa đổi nói trên vừa hóa giải sự
xung đột giữa quy định về thời điểm có hiệu lực của di chúc
chung với các quy định về thời điểm mở thừa kế, thời điểm phát
sinh quyền thừa kế, mốc tính thời hiệu khởi kiện, mốc để tính
thời hạn từ chối di sản, quyền yêu cầu chia thừa kế, quyền được
hưởng thừa kế bắt buộc…, nhưng cũng vừa thể hiện sự mềm dẻo
của luật pháp. Qua đó, tạo cơ hội để những người thừa kế hợp
pháp của mỗi bên vợ hoặc chồng được quyền khởi kiện để chia
thừa kế bắt buộc, yêu cầu tòa án tuyên bố di chúc chung vô hiệu
hoặc yêu cầu tòa án tước quyền thừa kế của người được chỉ định
thừa kế theo di chúc chung nhưng có hành vi trái pháp luật được
quy định tại Điều 643 BLDS 2005.
2.2.2. Bổ sung quy định về thời điểm có hiệu lực của phần di
chúc do một bên sửa đổi, bổ sung mà không được sự đồng ý của
người kia
Pháp luật hiện hành không thừa nhận một bên vợ hoặc chồng có
quyền tự ý sửa đổi, hủy bỏ di chúc chung mà không được sự
đồng ý của người kia. Việc này đã xâm phạm tới quyền tự do
định đoạt của cá nhân đối với phần tài sản riêng của mình. Mặt
khác, người ta có thể lẩn tránh pháp luật bằng cách định đoạt
phần tài sản của họ bằng cách khác, như tặng cho, hoặc bán…
Để đảm bảo quyền tự do định đoạt của cá nhân, đảm bảo di chúc
được lập phù hợp với ý chí đích thực, tự nguyện của mỗi bên vợ -
chồng, bên cạnh việc quy định vợ, chồng cùng nhau thỏa thuận

phương của một bên vợ hoặc chồng có hiệu lực theo quy định tại
Điều 667 Bộ luật này”.
Quy định như trên nhằm đảm bảo quyền tự do định đoạt cá nhân
trong việc để lại di sản thừa kế, đồng thời đảm bảo sự thống nhất
giữa quy định này với các quy định khác có liên quan, như quy
định về quyền sở hữu chung của vợ, chồng đối với tài sản chung,
quy định về thời hiệu khởi kiện thừa kế, thời điểm phát sinh
quyền và nghĩa vụ của người thừa kế đối với di sản do người chết
để lại Hơn thế nữa, quy định này còn tạo cơ hội để một bên có
thể sửa chữa những quyết định sai lầm của mình khi lập di chúc
chung: được sửa đổi, bổ sung di chúc chung mặc dù không được
bên kia đồng ý.
Đồng thời với việc sửa đổi quy định tại Điều 664 như vừa nêu,
vấn đề thời điểm có hiệu lực của di chúc chung trong trường hợp
có sửa đổi, bổ sung cũng được quy định cụ thể theo hướng: ổn
định giá trị pháp lý của phần di chúc chung không bị sửa đổi, bổ
sung; nếu việc sửa đổi, bổ sung di chúc chung có sự thỏa thuận
của vợ, chồng thì thời điểm có hiệu lực của nó được xác định
theo nguyên tắc chung (Điều 668); đồng thời tách riêng phần di
chúc được sửa đổi, bổ sung bởi quyết định đơn phương của một
bên vợ, chồng để xem xét như một di chúc cá nhân.*
2.2.3. Bổ sung thêm quy định về thời điểm có hiệu lực của các di
chúc có liên quan, nếu vợ hoặc chồng hoặc cả hai vợ, chồng để
lại nhiều di chúc khác nhau
Trong trường hợp một người để lại di chúc chung và nhiều di
chúc cá nhân khác nhau hoặc để lại nhiều di chúc chung khác
nhau (hoặc nhiều di chúc chung với nhiều người vợ hay người
chồng hợp pháp khác nhau của người đó)(12) thì sự ảnh hưởng
hiệu lực giữa các di chúc này với nhau ra sao, và thời điểm phát
sinh hiệu lực của các di chúc là thời điểm nào, là vấn đề phức tạp

2.2.4. Cần quy định rõ ràng về hệ quả của việc xác định thời điểm
có hiệu lực của di chúc chung với việc tính thời hiệu khởi kiện
thừa kế
Nếu thừa nhận vợ, chồng có thể thỏa thuận xác định thời điểm có
hiệu lực của di chúc chung là thời điểm bên sau cùng chết thì cần
phải xác định rõ hậu quả của quy định này đối với việc tính thời
hiệu khởi kiện thừa kế. Về nguyên tắc, thời hiệu khởi kiện thừa
kế là 10 năm, tính từ thời điểm mở thừa kế (14).
Tuy pháp luật cũng thừa nhận 3 trường hợp có thể làm gián đoạn
thời hiệu khởi kiệnT (15) và hai trường hợp bắt đầu lại thời hiệu
khởi kiện (16), nhưng việc quy định thời điểm có hiệu lực của di
chúc chung không hoàn toàn thuộc những trường hợp gián đoạn
hoặc bắt đầu lại thời hiệu vừa nêu. Và nếu không được quy định
minh bạch, vấn đề này sẽ dẫn đến nhiều cách hiểu và áp dụng
pháp luật khác nhau. Để tạo căn cứ pháp lý rõ ràng cho việc áp
dụng quy định pháp luật về cách tính thời hiệu khởi kiện thừa kế,
thiết nghĩ nhà làm luật cần bổ sung quy định về căn cứ làm gián
đoạn hoặc bắt đầu lại thời hiệu khởi kiện thừa kế, nếu quy định
thời điểm có hiệu lực của di chúc chung là thời điểm người sau
cùng chết, nếu vợ, chồng có thỏa thuận. Cụ thể:
Điều 645 (bổ sung):
“1. (nội dung quy định hiện hành được giữ nguyên và thiết kế
thành khoản 1 của Điều luật).
Khoản 2. (bổ sung): Thời hiệu khởi kiện thừa kế được bắt đầu lại
trong các trường hợp sau:
a. Khi vợ, chồng có thỏa thuận thời điểm có hiệu lực của di chúc
chung là thời điểm bên sau cùng chết, thì thời hiệu khởi kiện thừa
kế bắt đầu lại từ ngày di chúc chung có hiệu lực.
Quy định này không cản trở những người thừa kế khởi kiện sớm
hơn để xin chia thừa kế phần di sản không được định đoạt trong

của quy định về thời điểm có hiệu lực của di chúc chung trong Bộ
luật Dân sự hiện hành.
(1) “Thời điểm mở thừa kế là thời điểm người có tài sản chết”
(Khoản 1 Điều 634 BLDS 2005). Thời điểm mở thừa kế có ý
nghĩa quan trọng: là thời điểm làm phát sinh quyền thừa kế, là
mốc tính thời hiệu khởi kiện, là thời điểm để xác định giá trị di
sản, xác định phạm vi những người thừa kế của người chết…
(2) Điều 671 BLDS 1995: “Trong trường hợp vợ, chồng lập di
chúc chung mà có một người chết trước, thì chỉ phần di chúc liên
quan đến phần di sản của người chết trong tài sản chung có hiệu
lực…”. Theo đó, một di chúc chung phải được thực hiện nhiều
lần, hoặc có thể khởi kiện chia thừa kế nhiều lần.
(4) Điểm c, khoản 1, Điều 168 và Điều 193 Bộ luật Tố tụng dân
sự* 2003.
(5) Quyền thừa kế là một quyền hiến định: xem Điều 58 Hiến
pháp 1992 “… Nhà nước bảo hộ quyền sở hữu hợp pháp và
quyền thừa kế của công dân”; BLDS cụ thể hóa thành quyền dân
sự cơ bản của chủ thể: xem các Điều 15 khoản 2
(12) Xem thêm điểm A, mục 4 nghị quyết 02/1990/NQ-HĐTP của
Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao ngày 19/10/1990
hướng dẫn áp dụng một số quy định của Pháp lệnh Thừa kế
(1990): theo đó, một người có nhiều vợ hay nhiều chồng, nhưng
vẫn được xem là quan hệ vợ chồng hợp pháp, nếu quan hệ hôn
nhân đó không bị tòa án tuyên bố hủy bỏ hôn nhân trái pháp luật
bằng một bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật.
(13) Điều 664 và Điều 688 vừa được kiến nghị sửa đổi, bổ sung ở
trên.
(14) Điều 645 BLDS 2005.
(15) Điều Điều 161 BLDS 2005.
(16) Điều 162 BLDS 2005.và Điều 631… BLDS 2005.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status