Điều kiện có hiệu lực của di chúc miệng theo quy định của Bộ luật dân sự Việt Nam - Pdf 25

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
LÊ BÁ HƢNG
ĐIỀU KIỆN CÓ HIỆU LỰC CỦA DI CHÚC MIỆNG
THEO QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT DÂN SỰ VIỆT
NAM

Chuyên ngành: Luật dân sự
Mã số: 60 38 30
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Cán bộ hướng dẫn khoa học: PGS. TS Nguyễn Minh Tuấn

HÀ NỘI - 2013

4. Phương pháp tiếp cận đề tài 5
5. Những điểm mới của luận văn 5
6. Kết cấu của luận văn 6
Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ DI CHÚC 7
1.1. VÀI NÉT VỀ THỪA KẾ VÀ QUYỀN THỪA KẾ 7
1.2. KHÁI NIỆM, PHÂN LOẠI, ĐẶC ĐIỂM CỦA DI CHÚC 8
1.2.1. Khái niệm di chúc 8
1.2.2. Phân loại di chúc 10
1.2.3. Đặc điểm của di chúc 11
1.3. QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT DÂN SỰ VIỆT NAM VỀ
HÌNH THỨC DI CHÚC 14
1.3.1. Hình thức di chúc trong Luật Hồng Đức 14
1.3.2. Hình thức di chúc trong Luật Gia Long 15
1.3.3. Hình thức di chúc dưới thời pháp thuộc 15
1.3.4. Hình thức di chúc giai đoạn từ 1945 đến nay 18
1.4. QUY ĐỊNH VỀ HÌNH THỨC DI CHÚC THEO PHÁP LUẬT
MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI 25
1.4.1. Quy định về hình thức của di chúc theo Bộ luật dân sự của nước
cộng hòa Pháp 25 1.4.2. Quy đinh về hình thức di chúc theo Bộ luật dân sự Nhật Bản 26
1.4.3. Quy đinh của Bộ luật dân sự và thương mại Thái Lan về hình
thức của di chúc 28
1.4.4. Quy định về hình thức di chúc theo pháp luật Hoa Kỳ 29
Kết luận chƣơng 1 32
Chương 2: CÁC ĐIỀU KIỆN CÓ HIỆU LỰC CỦA DI CHÚC 34
2.1. NGƯỜI LẬP DI CHÚC 34
2.1.1. Yêu cầu về độ tuổi của người lập di chúc 34
2.1.2. Yêu cầu về nhận thức 37

3.2.3. Phân chia di sản trong trường hợp di chúc miệng lập không
đúng thủ tục 74
3.2.4. Công nhận di chúc miệng trong trường hợp di chúc miệng lập
không đúng thủ tục 75
3.3. MỘT SỐ KIẾN NGHỊ GIẢI PHÁP NHÀM HOÀN THIỆN
THỪA KẾ THEO DI CHÚC MIỆNG 77
3.3.1. Quy định chung vè di chúc miệng 77
3.3.2. Quy định về người đi công chứng, chứng thực di chúc 77
3.3.3. Những bất cập trong việc công chứng, chứng thực di chúc 78
3.3.4. Về hình thức di chúc miệng chung của vợ, chồng 79
3.3.5. Điều kiện người làm chứng di chúc miệng 80
3.3.6. Sự đồng ý của cha, mẹ đối với con từ đủ mười lăm tuổi đến
chưa đủ mười tám tuổi để lại di chúc miệng 81
3.3.7. Quy định pháp luật về việc hủy bỏ di chúc miệng 81
3.3.8. Di chúc phi văn bản khác 82
Kết luận chƣơng 3 82
KẾT LUẬN 84
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 86
BẢNG CHỮ VIẾT TẮT

BLDS : Bộ luật dân sự
PL : Pháp lệnh
UBND : Ủy ban nhân dân
DLBK : Dân luật bắc kỳ
HVTKHL : Hoàn việt trung kỳ hộ luật
TANDTC : Tòa án nhân dân tối cao
VKSNDTC : Viện kiểm sát nhân dân tối cao
2
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Cũng như thừa kế theo pháp luật, thừa kế theo di chúc nói chung và đặc
biệt là điều kiện có hiệu lực của di chúc miệng đã được hầu hết các luật gia, các
nhà lập pháp của các nước trên thế giới nghiên cứu. Có thể dễ dàng nhận thấy
rằng, Bộ luật dân sự của các nước đều quy định về quyền định đoạt bằng di chúc
của chủ sở hữu tài sản nhằm chuyển dịch tài sản của mình cho người khác.
Quyền định đoạt bằng di chúc là quyền dân sự được Nhà nước bảo hộ, được ghi
nhận trong Hiến pháp của Nhà nước ta và của các nước khác trên thế giới.
Ở nước ta, việc nghiên cứu về thừa kế theo di chúc nói chung và nghiên
cứu về các điều kiện có hiệu lực của di chúc miệng nói riêng đã có từ xa xưa.
Chúng ta có thể kể đến nhiều bộ luật như: Bộ luật Hồng Đức, Bộ luật Gia
Long, Dân luật Bắc kỳ, Dân luật Trung Kỳ,
Kể từ khi nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời, các điều kiện có
hiệu lực của di chúc miệng cũng đã được các nhà lập pháp nghiên cứu, nhưng
những quy định đó còn đơn giản và chưa đầy đủ. Trong số các loại văn bản
này, đáng chú ý là Thông tư số 81-TATC ngày 24-7-1981 của Tòa án nhân
dân tối cao hướng dẫn giải quyết tranh chấp thừa kế (đúc kết từ thực tiễn xét
xử của ngành Tòa án nhân dân) và Pháp lệnh Thừa kế ngày 10-9-1990. Chỉ
khi Bộ luật dân sự năm 1995 được ban hành thì vấn đề các điều kiện có hiệu
lực của di chúc miệng mới được quy định rõ ràng hơn. Đặc biệt đã có những
bước chuyển mình để hoàn thiện quy định về điều kiện có hiệu lực di chúc
miệng. Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện Bộ luật này, cũng còn nhiều vấn
đề cần phải trao đổi để hoàn thiện hơn.
Về kết quả nghiên cứu của các luật gia: Tính đến thời điểm hiện nay
cũng đã có nhiều công trình khoa học nghiên cứu về thừa kế, nhưng chỉ có
một số ít công trình nghiên cứu về thừa kế theo di chúc. Đáng chú ý trong các



4
di chúc nói chung, di chúc miệng nói riêng, đánh giá thực trạng những tranh
chấp dân sự liên qua đến di chúc miệng. Từ đó đưa ra những kiến nghi hoàn
thiện quy định pháp luật về điều kiện có hiệu lực di chúc miệng ở nước ta.
Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
- Luận văn nghiên cứu một cách có hệ thống về các điều kiện có hiệu
lực của di chúc miệng theo quy định của pháp luật ở Việt Nam.
- Luận văn tập trung nghiên cứu có hệ thống và toàn diện từng điều
kiện có hiệu lực của di chúc miệng theo quy định của Bộ luật dân sự năm
1995 và Bộ luật dân sự năm 2005, hiệu quả điều chỉnh của những quy định
pháp luật về các điều kiện đó. Luận văn tìm ra những điểm phù hợp với đời
sống xã hội và những điểm cần phải bổ sung các quy định về các điều kiện có
hiệu lực của di chúc miệng theo quy định của Bộ luật dân sự.
- Qua nghiên cứu, tác giả luận văn có những kiến nghị nhằm hoàn thiện
một bước những quy định của pháp luật về các điều kiện có hiệu lực của di
chúc miệng, giúp các nhà lập pháp bổ sung những quy định còn thiếu về các
điều kiện có hiệu lực của di chúc miệng để đáp ứng kịp thời những đòi hỏi
của xã hội trong quan hệ thừa kế nói chung và thừa kế theo di chúc nói riêng.
Phạm vi nghiên cứu đề tài
Nội dung của luận văn không nghiên cứu toàn diện những quy định của
pháp luật về thừa kế nói chung và thừa kế theo di chúc nói riêng, mà chỉ tập
trung nghiên cứu về các điều kiện có hiệu lực của di chúc miệng được quy định
trong Bộ luật dân sự của Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1995 và Bộ
luật dân sự của Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2005. Qua đó, tác
giả so sánh, đối chiếu với những quy định pháp luật trước khi Bộ luật dân sự
được ban hành để làm nổi bật tính hiện đại của những quy định về các điều
kiện có hiệu lực của di chúc trong Bộ luật dân sự năm 1995 và Bộ luật dân sự
năm 2005. Mặt khác, đề tài cũng có sự so sánh (ở diện hẹp) về các điều kiện có



6
- Kết quả nghiên cứu đề tài, tác giả đã có những điểm mới sau đây:
+ Đây là luận văn được nghiên cứu lần đầu tiên ở nước ta ở cấp thạc sĩ
luật học.
+ Luận văn hệ thống hóa được những quy định pháp luật về điều kiện
có hiệu lực của di chúc ở Việt Nam từ năm 1945 đến nay, làm cơ sở để
nghiên cứu toàn diện và hệ thống những quy định của pháp luật về các điều
kiện có hiệu lực của di chúc miệng được quy định trong Bộ luật dân sự năm
1995 và Bộ luật dân sự năm 2005.
+ Luận văn chỉ ra những hạn chế, những vấn đề còn thiếu của những
quy định pháp luật về điều kiện có hiệu lực của di chúc miệng trong Bộ luật
dân sự năm 2005, qua đó có những kiến nghị khoa học nhằm hoàn thiện
những quy định pháp luật về các điều kiện có hiệu lực của di chúc miệng
trong Bộ luật dân sự năm 2005.
+ Luận văn chỉ ra được những bất cập trong việc hiểu không đúng các
quy định pháp luật về các điều kiện có hiệu lực của di chúc miệng trong việc
áp dụng pháp luật, đồng thời có những kiến nghị để các cơ quan nhà nước có
thẩm quyền ban hành những văn bản hướng dẫn cần thiết.
6. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung
của luận văn gồm 3 chương.
Chương 1: Những vấn đề lý luận về di chúc
Chương 2: Các điều kiện có hiệu lực di chúc
Chương 3: Thực trạng giải quyết tranh chấp về thừa kế theo di chúc
miệng tại tòa án và phương hướng hoàn thiện pháp luật về hình thức di
chúc miệng. 7

Dưới chế độ xã hội chủ nghĩa, tư liệu sản xuất thuộc về nhân dân lao
động. Vì vậy, pháp luật thừa kế trước hết đảm bảo cho công dân yên tâm lao
động, sản xuất, hưởng thành quả lao động của mình và có quyền để lại thành
quả lao động đó cho người khác theo di chúc hoặc theo pháp luật khi người
đó chết. Pháp luật về thừa kế trong chế độ xã hội chủ nghĩa đã động viên,
khuyến khích được nhân dân trong việc tạo ra nhiều sản phẩm cho xã hội.
1.2. KHÁI NIỆM, PHÂN LOẠI, ĐẶC ĐIỂM CỦA DI CHÚC
1.2.1. Khái niệm di chúc
Di chúc đã xuất hiện từ rất sớm trong lịch sử nhân loại, với đủ các hình
thức di chúc khác nhau. Trong Kinh Cựu – bộ sách lớn nhất, cổ nhất và
nguyên vẹn nhất còn được lưu truyền đến nay, người xưa chép lại rằng, người
xưa đã chép lại rằng bản di chúc của Noe đã viết bằng tay, rồi được ông đóng
con dấu của mình lên để chứng thực; hay như việc Jacob, bằng lời nói, để lại
cho joseph tài sản gấp đôi so với những người con khác của mình [27]
Có thể câu chuyện từ trong kinh sách tôn giáo không thể là bằng chứng
xác thực cho bất cứ một vấn đề thực tiễn nào, nhưng ít nhất từ những mẩu
chuyện như thế, ta cũng có thể nhận thấy rằng: ngay trong lòng thế giới cổ
đại, di chúc đã xuất hiện,và xuất hiện với rất nhiều hình thức đa dạng khác
nhau, có thể bằng bản viết tay,cũng có thể chỉ bằng lời nói.
Di chúc là cơ sở quan trọng nhất để thể hiện ý chí của cá nhân nhằm
chuyển tài sản của mình cho người khác sau khi chết và cũng là cơ sở để xác
lập quyền sở hữu di sản của người hưởng di sản thừa kế đối với di sản thừa kế
Trong thực tế cuộc sông tồn tại hai khái niệm Di chúc và Chúc thư. Di
chúc được gọi nhiều thuật ngữ khác nhau như Di chúc, Chúc thư, Chúc ngôn.
Trong đó Di chúc là thuật ngữ dùng để chỉ các di chúc nói chung, Chúc thư là
dùng để chỉ về các di chúc viết (di chúc văn bản), Chúc ngôn dùng để di chúc
miệng. Do đó, tất cả các thuật ngữ này đều là sự thể hiện ý chí của cá nhân 9

luật dân sự năm 1995, bao gồm những quyền sau:
- Chỉ định người thừa kế; truất quyền hưởng di sản của người thừa kế;
- Phân định phần di sản cho từng người thừa kế;
- Dành một phần tài sản trong khối di sản để di tặng, thờ cúng;
- Giao nghĩa vụ cho người thừa kế trong phạm vi di sản;
- Chỉ định người giữ di chúc, người quản lý di sản, người phân chia di sản.
Trong thực tế thì không phải bất cứ người lập di chúc nào cũng thực hiện
đúng các quyền được ghi nhận trên, hoặc là sử dụng một phần, hoặc lại sử dụng
quá cả phần quyền được pháp luật quy định. Về thực hiện quyền phân định di
sản thì người lập di chúc cũng có sự phân định di sản khác nhau: Có di chúc chỉ
phân định một phần di sản cho người thừa kế, còn một phần di sản di chúc
không nhắc đến. Trên thực tế cũng có những di chúc định đoạt cả phần tài sản
của người khác (thường là định đoạt toàn bộ tài sản chung vợ chồng). Trong
trường hợp này, di chúc chỉ có hiệu lực một phần tương ứng với di sản của
người lập di chúc.
Di chúc là ý chí chủ quan của người có tài sản được thể hiện dưới một
hình thức khách quan do pháp luật quy định để định đoạt tài sản của mình cho
người khác hưởng sau khi chết.
1.2.2. Phân loại di chúc
Căn cứ vào hình thức của di chúc ta chia di chúc thành hai loại sau: di
chúc bằng văn bản và di chúc miệng.
- Di chúc bằng văn bản: là loại di chúc được thể hiện dưới dạng
chữ viết có chữ ký hoặc điểm chỉ của người lập di chúc. Di chúc bằng văn bản
bao gồm các loại sau:
+ Di chúc bằng văn bản có người làm chứng
+ Di chúc bằng văn bản không có người làm chứng 11
+ Di chúc bằng văn bản có chứng thực của Ủy ban nhân dân xã,

ý chí của các bên tham gia hợp đồng và các bên đều phải tự nguyện thỏa thuận,
bàn bạc, trao đổi, thì di chúc chỉ thể hiện ý chí của bên lập di chúc. Hợp đồng
dân sự chỉ phát sinh hiệu lực khi các bên tham gia hợp đồng thống nhất được
những điều khoản ghi nhận trong hợp đồng và cùng nhau ký kết hợp đồng, còn
trong di chúc thì không có sự thống nhất giữa người lập di chúc và người được
thừa kế theo di chúc. Thực tế đã có nhiều trường hợp người được hưởng thừa
kế theo di chúc không thể biết mình có quyền được hưởng di sản theo di chúc
vì di chúc chưa được công bố và được cất giữ bí mật.
Đối với những di chúc do vợ chồng lập chung, trong đó mặc dù thể hiện ý
chí chung của hai người, nhưng thực chất vẫn thể hiện ý chí đơn phương của
từng người trong việc định đoạt tài sản chung (ý chí đơn phương của bên lập
di chúc là chồng và vợ trùng nhau trong việc định đoạt tài sản chung vợ
chồng). Mặt khác, di chúc chung của vợ chồng vẫn chỉ thể hiện ý chí của
một bên - bên chuyển giao tài sản.
Ý chí đơn phương này là đặc điểm khác biệt của di chúc với các loại
giao dịch dân sự khác. Đây không phải chỉ riêng di chúc theo pháp luật dân sự
Việt Nam mà pháp luật dân sự của hầu hết các nước thì vấn đề này cũng được
quy định rõ như: Bộ luật dân sự của Cộng hòa Pháp, Đức…
Đặc điểm thứ hai: Di chúc thể hiện sự định đoạt tài sản của người lập di
chúc nhằm chuyển dịch tài sản cho người khác, sau khi người lập di chúc chết.
Nếu như các loại hợp đồng dân sự đều thể hiện ý chí thỏa thuận của các
chủ thể nhằm chuyển dịch tài sản từ người này sang người khác thì di chúc lại
nhằm chuyển dịch tài sản của người đã chết sang cho người còn sống. Người
thừa kế theo di chúc phải còn sống vào thời điểm mở thừa kế.
Thực tế cho thấy không phải bất cứ ai trước khi chết cũng lập di chúc,
mà có người trước khi chết họ chỉ để lại những lời dặn dò, ví dụ: Dặn dò các 13
con phải thương yêu nhau, phải cố gắng học tập, tránh xa các thói hư, tật xấu

hiệu lực của di chúc. Mặt khác, xác định đúng thời điểm mở thừa kế có ý nghĩa
quan trọng trong việc xác định di chúc nào là di chúc có hiệu lực trong trường
hợp một người có nhiều di chúc. Di chúc thể hiện ý chí đơn phương của người
lập di chúc và người lập di chúc có quyền thay đổi một phần hoặc toàn bộ nội
dung di chúc hay hủy bỏ di chúc. Sự thay đổi hay hủy bỏ di chúc có thể được
thể hiện dưới hình thức người đó lập di chúc mới ghi nhận về việc thay đổi hay
hủy bỏ di chúc, nhưng cũng có thể bằng di chúc mới (mặc dù không nói rằng
thay đổi hay hủy bỏ di chúc) người lập di chúc định đoạt tài sản mà nội dung
định đoạt khác với di chúc đã viết trước đó. Việc đánh giá hiệu lực của di
chúc như vậy dựa theo quy định tại khoản 5 Điều 670 Bộ luật dân sự năm
1995: "Khi một người để lại nhiều bản di chúc đối với một tài sản, thì chỉ có
bản di chúc sau cùng mới có hiệu lực pháp luật".
Tóm lại, khi người lập di chúc còn sống thì di chúc dù có phù hợp với
các quy định của pháp luật về hình thức và nội dung, thì di chúc cũng chưa
phát sinh hiệu lực. Do di chúc chưa phát sinh hiệu lực (khi người lập di chúc
chưa chết) nên những người thừa kế theo di chúc chưa có bất kỳ một quyền
nào đối với tài sản mà họ sẽ được hưởng. Quyền đối với tài sản vẫn thuộc về
người lập di chúc cho đến khi người lập di chúc chết.
1.3. QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT DÂN SỰ VIỆT NAM VỀ HÌNH
THỨC DI CHÚC
1.3.1. Hình thức di chúc trong Luật Hồng Đức
Quốc triều hình luật là bộ luật được giữ và lưu truyền đến này,
nó là minh chứng cho thành tựu đáng kể trên lĩnh vực pháp luật và điển
chế của triều đại nhà Lê. Trong Quốc triều hình luật vấn đề thừa kế được quy
định từ Điều 374 đến Điều 400
Pháp luật thời Lê thừa nhận hai hình thức thừa kế là thừa kế theo di 15
chúc và thừa kế theo pháp luật. Trong đó thừa kế theo di chúc có quy định

chi tiết hơn trong các bộ Dân luật Bắc Kỳ (DLBK) và Hoàng Việt Trung Kỳ
Hộ Luật (HVTKHL). Pháp luật thời kỳ này cũng thừa nhận hai hình thức chia
thừa kế là chia theo di chúc và chia theo pháp luật. Về hình thức di chúc được
quy định như sau: Bộ Dân luật Bắc kỳ được ban hành bằng một Nghị định của
Thống sứ Bắc kỳ ngày 30-3-1931. Bộ luật bao gồm 1.464 điều, được chia làm
4 quyển. Quyển thứ nhất bao gồm 12 thiên quy định về gia đình, chế độ hôn
sản và thừa kế, trong đó có 17 điều luật quy định về thừa kế theo di chúc. Nội
dung của bộ luật phản ánh được những phong tục, tập quán của người Việt
Nam như: Việc thờ cúng tổ tiên là tín ngưỡng truyền thống và đặc trưng của
người Việt Nam…
Bộ Dân luật Bắc Kỳ quy định người lập di chúc có quyền dành một
phần di sản để thờ cúng. Việc chăm sóc nuôi dưỡng nhau giữa những người
trong cùng một gia đình được coi là bổn phận của đạo đức. Bộ luật quy định
con cháu không được phân chia khối tài sản của gia đình khi cha mẹ còn sống
nếu không được sự đồng ý của họ. Con cháu của người chết buộc phải nhận di
sản của người đó và thay họ thực hiện các nghĩa vụ về tài sản mà họ để lại
Bộ luật còn quy định cha mẹ phải có trách nhiệm nuôi dưỡng con cái, phải
đảm bảo cho cuộc sống lâu dài của con cái nên họ phải để lại tài sản của mình
cho những người ở thế hệ sau khi họ chết. Điều 321 Bộ Dân luật Bắc Kỳ quy
định người vợ không có quyền lập di chúc để định đoạt tài sản riêng của mình
nếu không được người chồng đồng ý. Người cha có thể lập chúc thư để định
đoạt tài sản của mình tùy theo ý mình, nhưng phải giữ quyền lợi cho người vợ
chính. Người lập chúc thư có thể truất quyền thừa kế của một hay nhiều người
trong những người được thừa kế. Việc truất quyền thừa kế phải lập thành văn
bản do viên quản lý văn khế lập hoặc do lý trưởng nơi cư trú của người lập
chúc thư. Chúc thư phải làm thành văn bản hoặc do viên quản lý văn khế làm 17
ra hoặc có công chứng thị thực. Chúc thư không có viên chức thị thực phải do

113 Bộ Dân luật Bắc kỳ; Điều 313 Bộ Dân luật Trung kỳ giống Điều 321 Bộ
Dân luật Bắc kỳ
1.3.4. Hình thức di chúc giai đoạn từ 1945 đến nay
Sau cách mạng tháng tám Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời.
Một Nhà nước non trẻ phải đối mặt với nhiều vấn đề phức tạp về chính trị,
văn hóa, xã hội….nhiệm vụ lúc này là bảo vệ củng cố thành quả cách mạng
kể cả những vấn đề liên quan lĩnh vực dân sự. Để đảm bảo cho quan hệ pháp
luật dân sự phát triển bình thường Nhà nước cần có hệ thống pháp luật. Tuy
nhiên, thời kỳ từ năm 1945 đến năm 1959 nhà nước chưa ban hành được các
đạo luật về dân sự, cho nên các qui định về thừa kế trong Dân luật Bắc kỳ
được áp dụng, nếu quy định đó không trái với lợi ích của nhà nước và lợi ích
chung của xã hội.
Giai đoạn từ năm 1959 đến 1986 là chế độ bao cấp nên các quan hệ dân
sự được hành chính hóa nên hệ thống pháp luật dân sự không có văn bản pháp
quy đơn hành điều chỉnh các quan hệ dân sự và các vấn đề dân sự được quy
định chung trong các văn bản hành chính. Do đó mặc dù các quy định thừa kế
chiếm số lượng nhiều hơn so với các quy định dân sự khác nhưng các quy
định thừa kế vẫn chỉ là những quy định chung nên vấn đề hình thức của di
chúc cũng chưa được đề cập nhiều.
Để làm rõ sự thay đổi và phát triển về hình thức của di chúc trong giai
đoạn này chúng ta sẽ đi vào so sánh bốn văn bản điển hình quy định về thừa
kế sau: Thông tư số 81 hướng dẫn giải quyết các tranh chấp về thừa kế ban
hành ngày 24/07/1981; Pháp lệnh thừa kế ngày 30/08/1990; Bộ luật dân sự
năm 1995 và Bộ luật dân sự năm 2005.

Trích đoạn CHÍ CỦA NGƯỜI LẬP DI CHÚC VỀ NỘI DUNG CỦA DI CHÚC Di chúc bằng văn bản Di chúc miệng MỘT SỐ TRANH CHẤP VỀ THỪA KẾ THEO DI CHÚC MIỆNG
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status