Cơ sở hình thành quyền nhân thân theo quy định trong Bộ luật Dân sự - Pdf 34

MỞ ĐẦU
Trong bản Tuyên ngôn độc lập đọc ngày 2-9-1945, khai sinh ra nước Việt
Nam dân chủ cộng hòa, chủ tịch Hồ Chí Minh đã trích dẫn một câu nói về quyền
nhân thân theo Bản tuyên ngôn nhân quyền của nước Mỹ. Đó là “Mọi người sinh ra
đều bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể chối cãi. Trong các
quyền đó có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”. Quyền
nhân thân là một trong những quyền dân sự có ý nghĩa quan trọng được pháp luật
trên thế giới ghi nhận và bảo vệ. Kể cả trong công ước quốc tế là những văn bản
pháp lí cấp cao nhất đề cấp tới vấn đề quyền nhân thân của con người như tại công
ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị năm 1966 hay tại bộ luật nhân quyền
thế giới…Cùng với các văn bản pháp luật khác, Bộ luật dân sự (BLDS) của nước
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã ghi nhận và có những cơ chế để bảo vệ
quyền nhân thân của chủ thể. Cùng với quá trình lịch sử lập pháp của nhà nước ta,
luật dân sự luôn có xu hướng là ngày càng hoàn thiện để đáp ứng đáp ứng kịp nhu
cầu mà xã hội đặt ra. Và quyền nhân thân cũng nằm trong xu hướng đó của luật dân
sự. Bộ luật dân sự 2005 sửa đổi, bổ sung nhiều quy định về quyền nhân thân. Đây
là cơ sở pháp lí quan trọng thứ hai sau Hiến pháp để ghi nhận và bảo vệ quyền nhân
thân. Điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế và kinh tế xã hội của nước ta ngày càng
phát triển, các quyền của con người và quyền nhân thân của con người được coi
trọng hơn bao giờ hết. Quyền nhân thân cả dưới góc độ lí luận và thực tiễn đều là
vấn đề hết sức quan trọng hơn bao giời hết. Do vậy, việc nghiên cứu quyền nhân
thân theo quy định của BLDS với những vấn đề lí luận và thực tiễn góp phần quan
trọng cho mỗi công dân thực hiện nghiêm túc các quyền nhân thân mà pháp luật
cho phép nhằm hoàn thiện và phát huy hết khả năng vốn có của mình, đồng thời là
những kinh nghiệm thực tiễn áp dụng giải quyết các vấn đề liên quan tới quyền
nhân thân ở nước ta hiện nay.

NỘI DUNG
I. Cơ sở hình thành quyền nhân thân theo quy định trong Bộ luật Dân sự:
1. Cơ sở lí luận:
Con người tổng hòa của các mỗi quan hệ. Trong mối quan hệ với tự nhiên,

quyền con người cơ bản thh đều là những khái niệm thể hiện xu hướng, yêu cầu, thể
hiện năng lực, khả năng và ý chí. Và một trong những đặc trưng rất quan trọng của
quyền con người đó được đảm bảo bởi Nhà nước và pháp luật. Nhà nước và pháp
luật là công cụ và phương tiện bảo vệ quyền con người. Thông qua việc ban hành
các quy định pháp luật Nhà nước quy định các quyền của công dân trong đó có
quyền nhân thân. Quyền công dân tạo lên địa vị pháp lí của công dân trong xã hội.
Thể hiện mối quan hệ về mặt pháp lí giữa một cá nhân và một quốc gia. Mối liên hệ
này sẽ ràng buộc hành vi của công dân vào hệ thống pháp luật quốc giai đầu tiên là
Hiến pháp và các văn bản pháp luật khác trong đó đặc biệt là có BLDS.
2. Cơ sở pháp lí:
2.1. Hiến pháp


Hiến pháp là đạo luật cơ bản, đạo luật gốc của một quốc gia, là cơ sở hh nh
thành hệ thống pháp luật và xây dựng các văn bản pháp luật khác. Căn cứ vào quy
định của Hiến pháp các ngành luật cụ thể hóa bằng các quy định để tác động tới
các quan hệ mà nó có nhiệm vụ điều chỉnh.
Đối với LDS nói chung và các quy đinh về quyền nhân thân trong BLDS,
Hiến pháp quy định một các rất khái quát về quyền nhân thân. Hiến pháp năm 1992
quy định những nguyên tắc cơ bản của chế độ xă hội chủ nghĩa Việt Nam ở giai
đoạn đầu thời quá độ tiến lên chủ nghĩa xă hội. Trong Hiến pháp năm 1992, quy
định rất nhiều những vấn đề của đất nước, của hệ thống pháp luật và của cả hệ
thống chính trị… Trong đó có chương II và chương V có nhiều quy định liên quan
tới LDS. Đặc biệt trong chương V quy định về quyền và nghĩa vụ cơ bản của công
dân. Ngoài những quyền về chính trị xă hội là một loại các quyền công dân được
Hiến pháp ghi nhận như: quyền bh nh đẳng về năng lực pháp luật dân sự của cá nhân,
các quyền nhân thân và quyền tài sản….
2.2.Bộ luật dân sự
BLDS được đánh giá là có vị trí thứ hai sau Hiến pháp trong việc hh nh thành
và cụ thể hóa quyền nhân thân của cá nhân. BLDS 2005 là bộ luật lớn nhất của Nhà

chúng ta có thể định nghĩa quyền nhân thân như sau :
- Theo nghĩa khách quan : Quyền nhân thân được hiểu là tổng hợp các quy
phạm pháp luật do Nhà nước ban hành, trong đó nội dung quy định rõ cho các cá
nhân có quyền nhân thân gắn liền với bản thân mình và đây là cơ sở để cá nhân
thực hiện quyền của mình
- Theo nghĩa chủ quan : Quyền nhân thân là quyền dân sự chủ quan gắn liền
với cá nhân do Nhà nước quy định cho mỗi cá nhân và cá nhân không thể chuyển
giao quyền này cho người khác.
2. Đặc điểm cơ bản của quyền nhân thân:
2.1 Quyền nhân thân là một quyền dân sự và là quyền dân sự đặc biệt
Trước hết, chúng ta cân hiểu thế nào là quyền dân sự. Quyền dân sự được hiểu là
những quyền công dân được thể hiện trong mối quan hệ giữa các cá nhân và được
bảo đảm bằng pháp luật dân sự. Quyền dân sự được hiểu theo nghĩa rộng là quyền
của chủ thể được pháp luật quy định như là nội dung của năng lực pháp luật của
chủ thể dó. Như vậy, các chủ thể có năng lực pháp luật dân sự khác nhau thì có
quyền dân sự khác nhau, Quyền dân sự hiểu theo nghĩa hẹp là quyền của chủ tểh
trong quan hệ dân sự nhất định mà chủ thể đó đang tham gia; quyền tự mình thực
hiện những hành vi nhất đinh, quyền yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền bảo
vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình khi bị xâm phạm. Quyền nhân thân là một
khái niệm bao hàm trong nội dung quyền con người, quyền công dân. Khi các
quyền con người được pháp luật quy định thành các quyền cụ thể cho chủ thể tham
gia vào các quan hệ dân sự được tự mình thực hiện, được yêu cầu và được hưởng.
Con người là nhân vật trung tâm của xã hội và là đối tượng hướng tới của các cuộc
cách mạng tiến bộ trong lịch sử xã hội loài người. Dưới góc độ pháp luật dân sự thì
cá nhân là chủ thể chủ yếu, thường xuyên quan trọng và phổ biến của quan hệ dân


sự. Các quyền mà pháp luật quy định cho cá nhân là vì con người và hướng tới con
người, trong đó có các quyền nhân thân. Sở dĩ nói quyền nhân thân là quyền dân sự
đặc biệt và các quyền này chỉ thuộc về cá nhân, trong khi đó các quyền khác

Quyền nhân thân không bao giờ là những giá trị tương đương và không thể trao
đổi ngang giá, chỉ có quyền nhân thân gắn với tài sản hay không gắn với tài sản mà


thôi. Vì không phải là tài sản nên quyền nhân thân không bao giờ trị giá được thành
tiền. Về mặt pháp lí, chúng ta cần phân định rõ tính chất phi tài sản của quyền nhân
thân. Ví dụ: Một người sáng tạo ra một sang chế hay giải pháp hữu ích. Sáng chế
hay giải pháp đó do con người sang tạo nên mang giá trị kinh tế, chứ bản thân
“Quyền tự do sáng tạo” (Điều 47 BLDS) không phải là tài sản, không mang giá trị
kinh tế.
2.4. Quyền nhân thân là một quyền dân sự do luật định.
Quyền nhân thân là một quyền nằm trong nội dung năng lực pháp luật dân sự
của cá nhân. Pháp luật dân sự quy định cho các cá nhân có các quyền nhân thân là
một sự tuyên bố chính thức về các quyền con người cụ thể được pháp luật thừa
nhận. Việc pháp luật quy định cho các cá nhân có các quyền nhân thân khác nhau
là dựa vào các điều kiện kinh tế xã hội. Do vậy, ở mỗi giai đoạn khác nhau của lịch
sử xã hội loài người, phụ thuộc vào bản chất giai cấp, chế độ chính trị xã hội… mà
quyền nhân thân của cá nhân được quy định một cách khác nhau. Quyền nhân thân
là do Nhà nước “trang bị” cho cá nhân, Nhà nước không cho phép bất cứ cá nhân
nào làm thay đổi hay chấm dứt quyền đó.
III. Các quy định của pháp luật về quyền nhân thân trong Bộ luật dân sự 2005
Bộ luật dân sự 2005 quy định về quyền nhân thân từ Điều 24 tới Điều 51.
Ngoài hai điều luật quy định khái quát về quyền nhân thân (Điều 24) và bảo vệ
quyền nhân thân (Điều 25), các điều luật còn lại quy định về nội dung các quyền
nhân thân cụ thể. Dựa vào đối tượng của quyền mà các quyền nhân thân, tác giả
chia các quyền nhân thân được quy định trong Bộ luật dân sự 2005 thành 5 nhóm
sau đây:
1. Nhóm quyền nhân thân gắn liền với chủ thể trong quan hệ hôn nhân gia
đình.
Nhóm các quyền tạo lập gia đình (quyền kết hôn, quyền ly hôn, quyền nhận

với họ tên và quyền thay đổi họ tên. Đây là là quyền dân sự cơ bản gắn liền với
nhân thân của mỗi cá nhân. Việc xác lập họ tên là rất quan trọng và gắn liền với
chủ thể đó tới suốt đời. Mặc dù mỗi cá nhân có thể có nhiều tên gọi khác nhau
như :bí danh, tên thường gọi,biệt danh, tên khai sinh…. Họ tên không chỉ đơn
thuần là yếu tố về mặt nhân thân, mà nó còn là yếu tố pháp lý quan trọng để cá
nhân xác lập thực hiện quyền cũng như nghĩa vụ, trách nhiệm pháp lý nhân danh
chính mình. Do vậy họ tên của một người cần phải được cơ quan nhà nước có thẩm
quyền công nhận bằng việc cấp giấy đăng ký khai sinh cho một người. Và cá nhân
khi tham gia vào quan hệ pháp luật chỉ được công nhận mang một tên riêng để
phân biệt với các chủ thể khác. Đó chính là tên được ghi trong giấy khai sinh.
Quyền đối với họ tên là quyền nhân thân của cá nhân, cá nhân có quyền này kể từ
khi sinh ra. Tuy nhiên việc thực hiện quyền này lại không do chính họ thực hiện mà
lại hoàn toàn phụ thuộc vào người có quyền và trách nhiệm đi khai sinh. Rõ ràng
quyền và lợi ích của cá nhân đã bị phân tán. Trong trường hợp người có quyền và
nghĩa vụ đi khai sinh cho trẻ mà không thực hiện vậy ai sẽ chịu trách nhiệm, không
những thế nếu trẻ chưa được đăng ký khai sinh đã lớn và đã có đầy đủ năng lực
hành vi dân sự thì có thể tự mình đi đăng ký khai sinh được không? Đây là một câu


hỏi mà đã gặp khá nhiều ở nhà nước ta hiện nay và vẫn là một vấn đề còn bỏ ngỏ.
Do vậy pháp luật dân sự cẩn bổ sung và hoàn thiện quyền nhân thân này để bao
trùm hết cả trường hợp trên.
Quyền xác định lại dân tộc là quyền nhân thân của cá nhân được pháp luật
bảo vệ. Theo quy định của BLDS,tại Điều 28 quy định thì quyền xác định dân tộc
của cá nhân lại khá là ngược so với quyền đối với họ tên. Nước ta hiện nay có 54
dân tộc cùng sinh sống. Việc xác định dân tộc cho cá nhân hoàn toàn phụ thuộc vào
dân tộc của cha hoặc của mẹ chứ cá nhân mỗi người lại không có quyền tự xác định
dân tộc của mình. Và việc xác định dân tộc của cá nhân cũng được ghi vào trong
giấy khai sinh của cá nhân. Mặc dù vậy nhưng theo quy định tại khoản 3 Điều16
nghị định 15 của Chính phủ về hướng dẫn đăng ký hộ tịch thì trong trường hợp

giới tính của một người chỉ được thực hiện trong trường hợp giưos tính của người
đó bị khuyết tật bẩm sinh hoặc chưa định hình chính xác mà cần có sự can thiệp
của Y học, nhằm xác định rõ về giới tính. Quyền thay đổi giới tính không thể thực
hiện một cách tùy tiện. Quy định này là hoàn toàn phù hợp với tình hình xã hội và
truyền thống đạo đức của xã hội ta hiện nay. Nhưng trong các quy định hiện hành
thì chưa có quy định cụ thể như thế nào đối với trường hợp những người được
chuyển đổi giới tính này ra sao. Đặc biệt là trong trường hợp này liên quan tới
quyền lợi của họ trong lĩnh vực hôn nhân gia đình.
3. Nhóm các quyền liên quan tới thân thể của cá nhân
Trong nhóm quyền liên quan tới thân thể của cá nhân bao gồm: quyền được
đảm bảo an toàn về tính mạng, sức khỏe, thân thể (Điều 32), quyền hiến bộ phận cơ
thể (Điều 33), Quyền hiến xác,nhận bộ phận cơ thể sau khi chết (Điều34), Quyền
nhận bộ phận cơ thể người (Điều 35). Theo đó thì có những quyền thì cá nhân có
thể tự mình thực hiện khi cá nhân đó còn sống, có những quyền lại có mối quan hệ
với nhau như tại Điều 33 và Điều 35 và có những quyền thì chỉ thực hiện được khi
cá nhân đó không còn sống.
 Quyền được bảo đảm an toàn về sức khỏe là quyền của cá nhân được chăm sóc

sức khỏe thường xuyên và quyền được khám, chữa bệnh khi đã mắc bệnh. Có thể
nói đây là quyền có ý nghĩa đặc biệt thiết thực đối với cuộc sống của con người.
Nhất là trong giai đoạn hiện nay, khi ngày càng xuất hiện nhiều căn bệnh hiểm
nghèo, cướp đi sinh mạng của nhiều người trên thế giới. Việc bảo đảm quyền này
không chỉ cần đến hành động chủ động của của chính bản thân cá nhân đó mà nó
còn đòi hỏi sự phối hợp hành động của Nhà nước và toàn xã hội
Bộ luật dân sự 1995 lần đầu tiên quy định những quyền nhân thân của cá
nhân trong đó có quyền được bảo đảm an toàn về sức khỏe tại điều 32, BLDS 2005
cũng kế thừa những quy định này. Bên cạnh việc thừa nhận nó là một quyền nhân
thân, BLDS 2005 còn quy định trách nhiệm dân sự đối với người thực hiện hành vi
xâm phạm đến sức khỏe của người khác, đó là việc bồi thường thiệt hại. Pháp luật
lấy yếu tố chi phí làm căn cứ để xác định thiệt hại. Chi phí đó bao gồm chi phí cho

đề này. Và BLDS 2005 ra đời, với quy định mới này đã bổ sung kịp thời cho sự hạn
chế và thiếu sót của BLDS 1995. Với tư cách là quyền nhân thân, quyền hiến bộ
phận cơ thể mang những đặc điểm chung của quyền nhân thân đó chính là tính cá
nhân tuyệt đối, tính không xác định được bằng tiền và không vì mục đích thương
mại.Tuy nhiên việc quy định quyền nhân thân mới này trong BLDS 2005 cũng
mang những đặc điểm riêng biệt của chúng. Khi cá nhân thực hiện quyền này lại
không mang lại mục đích cho họ mà lại mang lại lợi ích cho người khác, lợi ích cho
toàn xã hội mà mục đích căn bản của quyền này là chữa bệnh nhân đạo cứu người
hoặc phục vụ giảng dạy trong các trường hoặc là dùng cho nghiên cứu khoa học.
Nhưng nó vần được ghi nhận là một quyền nhân thân của cá nhân. Ghi nhận quyền
này chính là một bảo đảm cho sự tự lựa chọn hành động của mình trong lĩnh vực
đặc thù và hết sức nhạy cảm này. Vì đây là một vấn đề còn rất mới mẻ ở nước ta,
trong thực tế thì phát sinh chưa phổ biến rộng rãi nên BLDS chỉ quy định những


vấn đề mang tính nguyên tắc, với tính chất là một quyền dân sự về nhân thân, còn
các vấn đề cụ thể về trình tự, thủ tục hiến bộ phận của cơ thể, sử dụng xác của
người chết sẽ được quy định tại các văn bản riêng. Pháp luật đa số các nước không
cho phép mua bán bộ phận cơ thể như một tài sản. Nếu cân nhắc giữa việc bảo vệ
trật tự công cộng và lợi ích của xã hội với việc bảo đảm sự tự do ý trí của cá nhân
thì rõ ràng là bảo đảm trật tự xã hội phải đặt nên hàng đầu.
4. Quyền nhân thân liên quan đến giá trị của con người trong xã hội:
Quyền được bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín; Quyền đối với bí mật đời tư
 Quyền được bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín: Điều 37 Bộ luật dân sự
quy định : “Danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân được tôn trọng và được pháp
luật bảo vệ”
Danh dự của cá nhân thể hiện sự coi trọng của dư luận xã hội đối với cá nhân
đó, dựa trên những giá trị tinh thần đạo đức tốt đẹp. Nhân phẩm của con người là
những phẩm chất và giá trị con người của cá nhân đó. Uy tín cá nhân thể hiện sự tín
nhiệm và mến phục của cộng đồng hoặc một bộ phận dân sự đối với cá nhân. Cả 3

nhân chứa đựng những thông tin được chuyền tải giữa người gửi và người nhận thì
chỉ có người gửi và người nhận biết.Pháp luật bảo vệ quyền bí mật này của cá
nhân. Những người khác không có quyền can thiệp vào nội dung thông tin này. Tuy
nhiên, việc bí mật trong thư tín và các hình thức thông tin khác cũng chịu sự giới
hạn của pháp luật trong một số trường hợp cần thiết. Ví dụ như trong trường hợp
quy định tai điều 140 Bộ luật tố tụng dân sự : “ Khi cần phải thi thập tài liệu, đồ
vật liên quan tới vụ án thì có thể khám thư tín, điện tín, bưu kiện, bưu phẩm….”
Hoàn thiện pháp luật về đời tư và quyền bí mật đời tư là một trong những
yêu cầu cấp bách hiện nay, bởi lẽ trong thời gian gần đây, có nhiều vụ việc liên
quan tới bí mật đời tư đã gây xôn xao dư luận, thậm chí có cả vụ việc đã Tòa án
giải quyết như công bố danh tính những người giàu nhất Việt Nam, công khai thuế
thu nhập cá nhân, công khai chuyện ly hôn của một cá nhân trên phương tiện thông
tin đại chúng. Hành vi xâm phạm quyền bí mật đời tư đa dạng, đó có thể là tiết lộ
thông tin bí mật, có thể là chiếm đoạt hoặc hủy hoại thông tin. Tùy thuộc vào mức
độ của hành vi xâm phạm bí mật đời tư, người xâm phạm có thể bị xử lý hành
chính, bị truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc phải bồi.
5. Các quyền liên quan tới hoạt động lao động sáng tạo của cá nhân :

 Quyền lao động : Điều 49 Bộ luật dân sự 2005 đã khẳng định: “Cá nhân
có quyền lao động. Mọi người đều có quyền làm việc, tự do lựa chọn việc làm,
nghề nghiệp, không bị phân biệt đối xử về dân tộc, giới tính, thành phần xã hội, tín
ngưỡng, tôn giáo”
Lao động là hoạt động sống thiết yếu là phương thức tồn tại của con người.
Vì vậy, quyền lao động là một quyền tự nhiên, nó gắn bó và có quan hệ mật thiết
với “quyền sống” của con người .Dưới góc độ dân sự, quyền lao động là được coi
là một quyền nhân thân. Trước hết nó được hiểu là quyền cá nhân được lựa chọn
việc làm; nghề nghiệp phù hợp với khả năng, điều kiện của mình. Pháp luật bảo vệ
quyện này của cá nhân. Tuy nhiên, quyền này không phải là quyền cá nhân được tự
do lựa chon vô hạn mà nó được giới hạn trong phạm vi nhất định. Ví dụ như Điều


quyền tự do sáng tạo giúp cá nhân được phát triển khả năng và sở trường của bản
thân mình, đồng thời là động lực để phát triển xã hội. Cũng như các quyền nhân
thân khác, quyền tư do sáng tạo cũng không có nghãi là cá nhân có thể làm bất kỳ
điều gì mình muốn. Quyền này chỉ được pháp luật bảo hộ khi cá nhân tôn trọng
Hiến pháp, luật…(khung pháp lý mà Nhà nước xây dựng nên). Những tác phẩm
chống lại Nhà nước, tuyên truyền phản động, tệ nạ xã hội…không được nhà nước
bảo hộ.
6. Bảo vệ quyền nhân thân


Quy định theo pháp luật hiện hành về quyền nhân thân, thực hiện các quyền
này không tách rời cơ chế bảo vệ quyền nhân thân. Do đó, nói lý luận có như thế
nào thì bảo vệ quyền nhân thân là một vấn đề quan trọng trong việc hiện thực hóa
các quyền nhân thân của cá nhân. Về nguyên tắc, khi thực hiện quyền nhân thân
của mình không được xâm phạm tới quyền và lợi ích của người khác.Nhưng trên
thực tế của đời sống xã hội do sự nhận thức của mỗi người là khác nhau nên việc
xâm phạm quyền nhân thân là điều không thể tránh khỏi. Việc này không những
gây ảnh hưởng cho những người thực hiện quyền nhân thân mà còn ảnh hưởng tới
trật tự pháp lý của xã hội. Bảo vệ quyền nhân thân chính là việc cá nhân có quyền
nhân thân bị xâm hại, cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo quy định của pháp luật
thực hiện các biện pháp, phương thức do pháp luật quy định để ngăn chặn kịp thời
các hành vi xâm hại trái pháp luật đến quyền nhân thân của cá nhân, buộc phải
chấm dứt hành vi và phải chịu trách nhiệm về hành vi của mình theo quy định của
pháp luật. Có 2 phương thức bảo vệ quyền nhân thân đó là cá nhân tự bảo vệ và
bảo vệ quyền nhân thân bởi các cơ quan nhà nước.Bảo vệ quyền nhân thân có thể
thực hiện bằng nhiều biện pháp của nhiều nghành luật với vai trò khác nhau: Biện
pháp hành chính, biện pháp kỷ luật, biện pháp hình sự, biện pháp dân sự. Việc bảo
vệ quyền nhân thân theo biện pháp dân sự được thực hiện theo Điều 25
BLDS.Quyền nhân thân tuy đã được pháp luật bảo vệ khá hoàn thiện nhưng những
năm gần đây số lượng những vụ việc liên quan tới quyền nhân thân tăng lên đáng

được hành vi trái pháp luật của họ. Nếu người có hành vi xâm phạm quyền nhân
thân không nhận thức được hành vi trái pháp luật của họ thì người có quyền nhân
thân bị xâm phạm phải áp dụng biện pháp bảo vệ khác mới bảo vệ được quyền
nhân thân của mình.
Yêu cầu cơ quan, tổ chức có thẩm quyền buộc người vi phạm chấm dứt hành vi
vi phạm cũng là biện pháp bảo vệ quyền nhân thân của cá nhân có thể áp dụng
trong mọi trường hợp quyền nhân thân của cá nhân bị xâm phạm. Đây là biện pháp
bảo vệ quyền nhân thân có hiệu quả vì sau khi nhận được yêu cầu thì cơ quan, tổ
chức có thẩm quyền sẽ áp dụng các biện pháp đủ mạnh do pháp luật quy định buộc
người có hành vi trái pháp luật xâm phạm đến quyền nhân thân chấm dứt hành vi
đó. Trên thực tế, biện pháp này thường được người có quyền nhân thân bị xâm
phạm áp dụng trong trường hợp đã yêu cầu chấm dứt hành vi trái pháp luật nhưng
không được đáp ứng. Trong các cơ quan Nhà nước áp dụng biện pháp dân sự bảo
vệ quyền nhân thân của cá nhân thì Tòa án là cơ quan có nhiệm vụ, quyền hạn bảo
vệ quyền nhân thân của cá nhân chủ yếu và trong việc áp dụng biện pháp dân sự
bảo vệ quyền nhân thân của cá nhân thì Tòa án áp dụng có hiệu quả nhất. Tuy
nhiên, bảo vệ quyền nhân thông qua việc yêu cầu Tòa án bảo vệ được tiến hành
theo trình tự, thủ tục chặt chẽ và đòi hỏi người có quyền nhân thân bị xâm phạm
yêu cầu Tòa án bảo vệ phải chứng minh được quyền nhân thân của mình, hành vi
xâm phạm quyền nhân thân của họ là trái pháp luật.
Yêu cầu người vi phạm bồi thường thiệt hại hoặc yêu cầu cơ quan, tổ chức có
thẩm quyền buộc người vi phạm bồi thường thiệt hại là biện pháp bảo vệ quyền
nhân thân được thực hiện khi người có hành vi trái pháp luật xâm phạm đến quyền
nhân thân của cá nhân gây ra thiệt hại về vật chất hoặc tinh thần cho họ. Nếu có
hành vi trái pháp luật xâm phạm đến quyền nhân thân của cá nhân gây ra thiệt hại
về vật chất hoặc tinh thần thì cá nhân có quyền nhân thân bị xâm có quyền yêu cầu


người có hành vi trái pháp luật bồi thường thiệt hại. Nếu người có hành vi trái pháp
luật xâm phạm đến quyền nhân thân của cá nhân không chịu bồi thường thì người

cá nhân có hình ảnh. Do vậy, khẳng định là công ty Biti’s vi phạm Điều 31 quyền
của cá nhân đối với hình ảnh là chưa có cơ sở pháp lý rõ ràng. Và quy định quyền
của cá nhân đối với hình ảnh không có trường hợp quy định trong trường hợp nào
thì được sử dụng hình ảnh cá nhân. Vậy nên, việc công ty Biti’s sử dụng hình ảnh


của bé vào mục đích thương mại nhằm quảng bá hình ảnh cho thương hiệu của
mình là điều khó tránh khỏi. Nhưng theo cách hiểu thông thường thì tòa án xác
định là công y Biti’s đã có hành vi xâm hại quyền của hình ảnh của bé Minh khôi
(theo quy định tại điều 31 BLDS) là hợp tình. Tòa án ra quyết định yêu cầu công ty
Biti’s phải công khai xin lỗi gia đình bé Minh khôi, chấm dứt vô điều kiện việc sử
dụng trái phép hình ảnh của bé và bồi thường thiệt hại cho bé và gia đình là việc
bảo vệ quyền nhân thân theo biện pháp dân sự là hoàn toàn hợp lý theo Điều 25
BLDS. Nhưng mà việc Tòa àn giảm mức bồi thường từ 154 triệu đồng xuống còn
gần 3 triệu đồng là không hợp lý. Theo quy định của pháp luật thì bên vi phạm
được xin phép giảm tiền bồi thường trong các các trường hợp vi phạm không chú ý
và mức bồi thường quá lớn so với khả năng tài chính của bị đơn mà làm cho bên bị
đơn không trả được. Trong trường hợp này thì công ty Biti’s hoàn toàn có thừa khả
năng tài chính để bồi thường cho gia đình bé Minh khôi và công ty đã sử dụng hình
ảnh của bé để quảng bá cho thương hiệu của mình, đây hoàn toàn do chủ ý. Do vậy
Tòa án quyết định giảm mức bồi thường thiệt hại từ 154 triệu đồng xuống 3 triệu
đồng là một sai lầm chưa thỏa đáng.
Qua ví dụ trên thì chúng ta có thể nhận thấy việc xử lý việc xâm phạm quyền
nhân thân theo biện pháp dân sự thì hệ thống pháp luật dân sự của chúng ta đã chưa
thực sự cụ thể hóa hết, nhiều quy định còn ở mức chung chung và khái quát nên
việc áp dụng việc thực hiện còn nhiều bất cập và khó thực hiện. Vậy nên việc đảm
bảo quyền nhân thân của cá nhân còn nhiều vướng mắc. Vì vậy yêu cầu đặt ra là
phải có phương hướng hoàn thiện quy định của pháp luật về quyền nhân thân.
2. Phương hướng hoàn thiện pháp luật về quyền nhân thân:
Hoàn thiện hệ thống pháp luật dân sự nói chung , hoàn thiện các quy định của

đối với việc giải quyết yêu cầu bảo vệ họ tên, hình ảnh, bí mật đời tư, danh dự,
nhân phẩm, uy tín, xác định giới tính. Theo quy định tại các điều 26, 31, 36, 37, 38
thì quyền đối với họ tên, hình ảnh, bí mật đời tư, danh dự, nhân phẩm, uy tín và
quyền xác định giới tính của cá nhân là những quyền dân sự cơ bản. Việc bảo vệ
quyền dân sự thông qua việc yêu cầu Tòa án bảo vệ là một trong các phương thức
bảo vệ hữu hiệu nhất. Do vậy, khi các quyền dân sự này này bị xâm phạm thì cá
nhân có quyền đó cũng phải được yêu cầu Tòa án bảo vệ. Để kịp thời bảo vệ quyền
nhân thân của cá nhân trước Tòa án phải sửa đổi các quy định về trình tự, thủ tục
giải quyết các vụ việc dân sự được quy định tại Phần thứ năm Bộ luật Tố tụng dân
sự, xây dựng các quy định về thủ tục rút gọn để giải quyết những việc này. Đồng
thời cũng sửa đổi quy định tại Điều 119 BLTTDS theo hướng cho phép Tòa án
được chủ động quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời quy định tại các
khoản 5, 10 và 12 Điều 102 Bộ luật này khi giải quyết yêu cầu bảo vệ quyền nhân
thân để kịp thời ngăn chặn, khắc phục hậu quả thiệt hại của hành vi trái pháp luật
xâm phạm đến quyền quyền nhân thân của cá nhân. Mặt khác, theo quy định tại
Điều 130 BLTTDS thì người có đơn khởi kiện, đơn yêu cầu Tòa án giải quyết việc
dân sự phải nộp tiền tạm ứng án phí, lệ phí, việc thu nộp án phí, lệ phí phải theo
trình tự, thủ tục nhất định do vậy trong trường hợp không đáp ứng được yêu cầu
bảo vệ quyền nhân thân của cá nhân trong trường hợp bị xâm phạm. Để tạo điều
kiện cho người có quyền nhân thân bị xâm phạm thực hiện ngay được quyền yêu
cầu Tòa án bảo vệ thì cần phải quy định việc miễn nộp tiền tạm ứng án phí cho họ.
Ngoài ra, phải xây dựng, ban hành các văn bản hướng dẫn thi hành Bộ luật dân


sự, Luật hôn nhân và gia đình, Bộ luật Tố tụng dân sự v.v… về trình tự, thủ tục
thực hiện việc bảo vệ quyền nhân thân của cá nhân. Trong đó, cần chú trọng quy
định, hướng dẫn về trình tự, thủ tục tự cải chính; yêu cầu cơ quan, tổ chức khác
(ngoài việc yêu cầu Tòa án) bảo vệ vì hiện nay vấn đề này hầu như bị bỏ ngỏ không
có văn bản pháp luật nào quy định, hướng dẫn. Thực tế cho thấy, việc bảo vệ quyền
nhân thân có nhiều điểm khác với việc bảo vệ các quyền dân sự khác. Trong nhiều


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status