LỜI MỞ ĐẦU
Quyền nhân thân là một trong những quyền dân sự có ý nghĩa vô cùng quan trọng
được pháp luật của các quốc gia trên thế giới ghi nhận và bảo vệ. Kể cả trong công
ước quốc tế là những văn bản pháp lý cấp cao nhất cũng đã đề cập tới vấn đề quyền
nhân thân của con người như tại công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị
năm 1966 hay tại bộ luật nhân quyền thế giới…Cùng với các văn bản pháp luật khác,
Bộ luật dân sự ( BLDS ) của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã ghi nhận
và có những cơ chế để bảo vệ quyền nhân thân của chủ thể. Cùng với quá trình lịch
sử lập pháp của nhà nước ta, luật dân sự( LDS) cũng luôn có xu hướng là ngày càng
hoàn thiện để đáp ứng kịp nhu cầu mà xã hội đặt ra. Và quyền nhân thân cũng nằm
trong xu hướng đó của LDS. BLDS 2005 sửa đổi bổ sung nhiều quy định về quyền
nhân thân. Đây là cơ sở pháp lý quan trọng thứ hai sau Hiến pháp để ghi nhận và bảo
vệ quyền nhân thân. Điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế và kinh tế xã hội của nước ta
ngày càng phát triển, các quyền của con người và quyền nhân thân của con người
được coi trọng hơn bao giờ hết. Quyền nhân thân nhìn cả dưới góc độ lý luận và thực
tiễn đều là vấn đề hết sức quan trọng cho lý luận xây dựng và hoàn thiện về những
quy định về quyền nhân thân.Song cùng với sự hoàn thiện về quyền nhân thân trên
lý luận là vấn đề thực tiễn áp dụng và thực hiện quyền nhân thân ra sao. Do vậy việc
nghiên cứu quyền nhân thân theo quy định của BLDS với những vấn đề lý luận và
thực tiễn góp phần quan trọng cho mỗi công dân thực hiện nghiêm túc các quyền
nhân thân mà pháp luật cho phép nhằm hoàn thiện và phát huy hết khả năng vốn có
của mình, đồng thời là những kinh ngiệm thực tiễn áp dụng giải quyết các vấn đề có
liên quan tới quyền nhân thân ở nước ta hiện nay.
NỘI DUNG
1.Cơ sở lý luận hình thành quyền nhân thân theo quy định trong BLDS
1.1 Cơ sở lý luận
Con người là tổng hòa của các mối quan hệ. Trong mối quan hệ với tự hiên, xã hội
và con người thì tự nhiên là cái có trước và con người là cái có sau. Con người
không thể thay đổi được tự nhiên mà chỉ có thể thích ứng với tự nhiên và cải tạo nó
mà thôi. Quá trình cải tạo tự nhiên cũng là quá trình con người tự hoàn thiện mình và
phát huy hết những khả năng vốn có của mình. Con người tạo ra xã hội nhưng xã hội
pháp lý giữa một cá nhân và một quốc gia. Mối liên hệ này sẽ ràng buộc hành vi của
công dân vào hệ thống pháp luật quốc giai đầu tiên là Hiến pháp và các văn bản pháp
luật khác trong đó đặc biệt là có BLDS.
1.2 Cơ sở pháp lý
1.2.1 Hiến pháp
Hiến pháp là đạo luật cơ bản, đạo luật gốc của một quốc gia, là cơ sở hình thành hệ
thống pháp luật và xây dựng các văn bản pháp luật khác. Căn cứ vào quy định của
Hiến pháp các ngành luật cụ thể hóa bằng các quy định để tác động tới các quan hệ
mà nó có nhiệm vụ điều chỉnh.
Đối với LDS nói chung và các quy đinh về quyền nhân thân trong BLDS, Hiến pháp
quy định một các rất khái quát về quyền nhân thân. Hiến pháp năm 1992 quy định
những nguyên tắc cơ bản của chế độ xã hội chủ nghĩa Việt Nam ở giai đoạn đầu
thời quá độ tiến lên chủ nghĩa xã hội. Trong Hiến pháp năm 1992, quy định rất nhiều
những vấn đề của đất nước, của hệ thống pháp luật và của cả hệ thống chính trị…
Trong đó có chương II và chương V có nhiều quy định liên quan tới LDS. Đặc biệt
trong chương V quy định về quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân. Ngoài những
quyền về chính trị xã hội là một loại các quyền công dân được Hiến pháp ghi nhận
như: quyền bình đẳng về năng lực pháp luật dân sự của cá nhân, các quyền nhân thân
và quyền tài sản….
1.2.2 Bộ luật dân sự
BLDS được đánh giá là có vị trí thứ hai sau Hiến pháp trong việc hình thành và cụ
thể hóa quyền nhân thân của cá nhân. BLDS 2005 là bộ luật lớn nhất của Nhà nước
ta về phạm vi điều chỉnh, số lượng các điều luật, sự rộng rãi trong việc lấy ý kiến của
các cấp, các nghành, thời gian chuẩn bị… BLDS đã thể chế hóa đường lối phát triển
kinh tế của Đảng cộng sản Việt Nam, cụ thể hóa Hiến pháp 1992 nhằm bảo vệ lợi
ích của Nhà nước, của tập thể và đặc biệt là của cá nhân.BLDS cụ thể hóa các quyền
nhân thân của cá nhân mà Hiến pháp ghi nhận, là chuẩn mực ứng xử pháp lý cho các
chủ thể khi tham gia quan hệ dân sự và thực hiện những quyền nhân thân gắn với
mỗi chủ thể.Quyền nhân thân trong BLDS 2005 được quy định từ Điều 24 đền Điều
51. Số lượng các quy định trong BLDS cũng chiếm một phần đáng kể và tới BLDS
- Mọi cá nhân đều có sự bình đẳng về quyền nhân thân.
- Quyền nhân thân có tính chất phi tài sản.
- Quyền nhân thân luôn gắn liền với cá nhân, không thể chuyển giao cho chủ
thể khác.
2.2 Một số đặc trưng cơ bản của quyền nhân thân
2.2.1 Quyền nhân thân gắn liền với chủ thể và nguyên tắc là không thể dịch
chuyển cho chủ thể khác
Quyền nhân thân trở thành một thuộc tính của chủ thể mà không bị phụ thuộc , chi
phối bởi bất kỳ yếu tố khách quan nào như độ tuổi, trình độ, giới tính, tôn giáo….
Pháp luật dân sự thừa nhận quyền nhân thân cho mỗi cá nhân mà không thể chuyển
dịch cho chủ thể khác, mỗi chủ thể đều bình đẳng về quyền nhân thân. Các quyền
dân sự nói chung và quyền nhân thân nói riêng do Nhà nước quy định cho các chủ
thể dựa trên điều kiện kinh tế, xã hội nhất định. Do vậy về nguyên tắc quyền nhân
thân không thể chuyển giao cho người khác cũng đồng nghĩa là quyền nhân thân
không thể là đối tượng trong các giao dịch mua bán, trao đổi, tặng cho… Tuy nhiên,
trong một số trường hợp, một số quyền nhân thân có thể chuyển giao cho người khác
theo quy định của pháp luật. Ví dụ: Quyền công bố, phổ biến tác phẩm của tác giả ,
khi tác giải chết đi thì quyền này có thể chuyển giao cho chủ thể khác hay các quyền
khác về tinh thần của tác giả đối với tác phẩm như quyền được tôn trọng tác phẩm…
2.2.2 Quyền nhân thân có tính chất phi tài sản
Quyền nhân thân không bao giờ là tài sản, chỉ có quyền nhân thân gắn với tài sản
hay không gắn với tài sản mà thôi. Vì không phải là tài sản nên quyền nhân thân và
tiền tệ không phải là những đại lượng tương đương và không thể trao đổi ngang giá.
Do vậy, quyền nhân thân không thể bị định đoạt hay mang ra chuyển nhượng cho
người khác. Một người không thể kê biên quyền nhân thân của con nợ. Vì sự cụ thể
nó thành tài sản, tiền tệ là điều không thể. Thực ra, đây là vấn đề rất khó trong lý
thuyết về quyền nhân thân cũng như áp dụng thực hiện quyền nhân thân. Thông
thường, một quyền nhân thân không thể định đoạt có nghĩa là không thể là đối tượng
giao dịch. Nhưng trên thực tế lại xuất hiện nhiều hợp đồng liên quan tới quyền nhân
thân. VÍ dụ: trong lĩnh vực đời tư liên quan tới hình ảnh, nhiều người được công
có thể chịu sự kiểm soát, bắt bớ tù đày với những lý do không thể hiểu nổi – thì quy
định của Hiến pháp 1946 về quyền nhân thân đã đánh giá được sự tiến bộ của Nhà
nước ta lúc bấy giờ. Đây là sự lỗ lực, cố gắng của Nhà nước ta trong viêc phấn đấu
giành quyền tự do dân chủ cho con người như : “… nhà ở và thư tín của công dân
Việt Nam, không ai được xâm phạm một cách trái pháp luật” hay các quy định của
pháp luật liên quan tới quyền bầu cử và ứng cử( Điều 18)….Trên cơ sở quy định của
Hiến pháp 1946, các văn bản pháp luật có hiệu lực sau Hiến pháp giai đoạn này
cũng đã cụ thể hóa quyền nhân thân, trong đó có luật báo chí ngày 20/5/1957. Quyền
tự do ngôn luận là một nội dung quan trọng được quy định cụ thể trong đó hay khi
báo chí đăng tin sai sự thật, vu khống thì phải xin lỗi và tùy mức độ người bị vi
phạm có thể yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Giai đoạn 1959 – 1980
Giai đoạn này là giai đoạn đánh dấu sự ra đời và phát triển của nền lập pháp với bản
Hiến pháp 1959 ra đời tiếp nối và kế thừa Hiến pháp 1946.Hiến pháp đã giành
chương II với tiêu đề” quyền lợi và nghĩa vụ cơ bản của công dân”, trong đó là các
quy định quyền dân sự vói chung và quyền nhân thân nói riêng( từ Điều 22 đến Điều
42 ). Cùng với sự biến động của hoàn cành lịch sử đất nước, quyền nhân thân của cá
nhân được quy định trong Hiến pháp có ý nghĩa lịch sử xã hội sâu sắc. Các quy định
về quyền nhân thân trong Hiến pháp 1959 một mặt tạo niềm tin cho con người mới
xã hội chủ nghĩa, một mặt động viên, khích lệ tinh thần đấu tranh chống đế quốc Mỹ
xâm lược của nhân dân ta.
- Giai đoạn 1980 – 1992
Trên cơ sở ban hành Hiến pháp 1980, Nhà nước ta đã ban hành rất nhiều các văn bản
pháp luật để cụ thể hóa các quy định liên quan đến việc ghi nhận và thực hiện quyền
nhân thân của cá nhân. Bên cạnh các quy định của pháp luật quốc gia liên quan tới
các quyền nhân thân, Nhà nước ta đã có những nỗ lực quan trọng trong việc ký kết
và tham gia các công ước quốc tế trong lĩnh vực quyền con người.Nói là vậy, nhưng
thực sự là một số quyền dân sự cũng như quyền nhân thân của cá nhân được quy
định trong Hiến pháp 1980 không có tính khả thi và không thể thực hiện được nó
trong thực tiễn lúc bấy giờ như tại Điều 60, Điều 61… Theo đó thì Nhà nước đảm
đình.
Trong quan hệ hôn nhân gia đình, một trong những mối quan hệ rất đặc biệt của đời
sống xã hội, các quyền nhân thân của cá nhân luôn đặt trong mối quan hệ mật thiết
giữa cá nhân đó với tư cách là một thành viên trong gia đình với các chủ thể có liên
quan trong mối quan hệ gia đình; giữa các thành viên đó với tư cách là một thành
viên trong xã hôi với các chủ thể khác với mục đích không chỉ bảo vệ quyền và lợi
ích của họ mà còn của cả các thành viên trong gia đình và toàn xã hội. Các quyền đó
do pháp luật quy định bao gồm: quyền kết hôn ( Điều 39 ); quyền bình đẳng của vợ