Quyền nhân thân theo quy định trong Bộ luật dân sự - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn - Pdf 34

Mục lục
Lời nói đầu……………………………………………………………………….1
A. Một số vấn đề lý luận về quyền nhân thân………………………………
2
I.

Cơ sở pháp lý quốc gia về quyền nhân thân ……………………..…3

II.

Khái niệm quyền nhân thân……………………………………….6

III.

Đặc điểm quyền nhân thân………………………………………..7

IV.

Một số căn cứ và việc phân loại các nhóm quyền nhân thân……9

B. Một số vấn đề thực tiễn về quyền nhân thân…………………………..13
1. Thực trạng về một số quyền nhân thân và sự cần thiết hoàn thiện pháp
luật về quyền nhân thân…………………………...……………...….. 13
2. Một số giải pháp hoàn thiện quyền nhân thân………………...………17
C. Kết luận …………………………………………………………………19
Danh mục tài liệu tham khảo …………………………………………………20

1


LỜI NÓI ĐẦU

Trong bản hiến pháp đầu tiên của nước ta (Hiến pháp năm 1946), việc đảm
bảo các quyền tự do dân chủ của công dân đã trở thành một trong ba nguyên
tác cơ bản. Với bản Hiến pháp này, lần đẩu tiên trong lịch sử Việt Nam,
những người dân nô lệ trước đây thực sự trở thành người chủ đất nước, được
đảm bảo các quyền tự do, dân chủ. Trong 26 quyền cơ bản của công dân mà
Hiến pháp 1946 quy định, các quyền dân sự chiếm đa số (12 quyền). Những
quyền nhân thân của cá nhân lần đầu tiên được quy định trong Hiến pháp
bao gồm: Quyền tự do ngôn luận; quyền tự do xuất bản; quyền tự do tín
ngưỡng, quyền tự do cư trú trong nước; quyền tự do đi lại trong nước; quyền
tự do ra nước ngoài; quyền bất khả xâm phạm về thân thể; quyền bất khae
xâm phạm nhà ở; quyền bất khả xâm phạm về thư tín.
Hiến phám năm 1959 là bước phát triển mới trong việc ghi nhân quyền con
người, trong đó có những quyền nhân thân của cá nhân và những bảo đảm
pháp lý cho chúng. Hiến pháp năm 1959 ra đời trong hoàn cảnh đất nước có
những thay đổi lớn trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, xã hội, theo xu hướng
ngày càng mở rộng các quyền con người. Hiến pháp năm 1959 đã xác định
quyền nhân thân mới là quyền tự do biểu tình (Điều 17), đồng thời quy định
rõ ràng hơn quyền tự do cư trú, quyền tự do đi lại không phân biệt trong
nước và ngoài nước như Hiến pháp năm 1946.

3


Hiến pháp năm 1980 ra đời trong điều kiện đất nước thống nhất, cả nước
cùng đi lên chủ nghĩa xã hội, các quyền dân sự của cá nhân được bổ sung và
phát triển; đặc việt riêng đối với quyền nhân thân của cá nhân, đã có những
quyền xuất hiện: Quyền được pháp luật bảo hộ về tính mạng (Điều 70),
quyền được pháp luật bảo hộ về danh dự; quyền được pháp luật bảo hộ về
nhân phẩm; quyền được đảm bảo bí mật về điện thoại; quyền được đảm bảo
bí mật về điện tín; quyền tác giả; quyền sở hữu công nghiệp (Điều 72)

BLDS sửa đổi đã được Quốc hội thông qua ngày 14/6/2005, có hiệu lực thi
hành kể từ ngày 01/01/2006 (BLDS năm 2005). So với các quy định về
quyền nhân thân trong BLDS năm 1995, BLDS năm 2005 có một số sửa đổi,
bổ sung, cụ thể, đó là bổ sung thêm 6 quyền nhân thân mới: Quyền được
khai sinh ( Điều 29), Quyền được khai tử (Điều 30); Quyền hiến bộ phận cơ
thể (Điều 33); Quyền hiến xác, bộ phận cơ thể sau khi chết (Điều 34); Quyền
nhận bộ phận cơ thể người (Điều 35); Quyền xác định lại giới tính (Điều
36). Ngoài việc bổ sung quy định mới về một số quyền nhân thân, hầu hết
các quyền nhân thân được quy định trong BLDS năm 1995 cũng được sửa
đổi, bổ sung cho phù hợp như quyền thay đổi họ tên (Điều 27), quyền xác
định dân tộc (Điều 28), quyền của cá nhân đối với hình ảnh (Điều 31), quyền
được bảo đảm an toàn về tính mạng, sức khoẻ, thân thể (Điều 32), quyền
được bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín (Điều 37), quyền bí mật đời tư
(Điều 38)…
• Các văn bản pháp lý khác
Mặc dù đến khi BLDS 1995 được thông qua, khái niệm về quyền nhân thân
mới được hình thành nhưng trước đó, những quyền nhân thân cụ thể đã được
thừa nhân trong một số văn bản pháp lý khác. Cụ thể là trong Luật Bảo đảm
quyền tự do thân thể và quyền bất khả xâm phạm đối với nhà ở, đồ vật, thư
tín của nhân dân 24/1/1957. Ngay tại điều 1 Luật này đã quy định: “Quyền
tự do thân thể và quyền bất khả xâm phạm đối với nhà ở, đồ vật và thư tín
của nhân dân được tôn trọng và bảo đảm. Không ai được phép xâm phạm
các quyền ấy”.
5


Quyền nhân thân đình cũng được quy định trong Luật hôn nhân và gia đình
năm 2000. Thông qua việc quy định quyền bình đẳng giữa vợ chồng (Điều
19); tôn trọng danh dự, nhân phẩm, uy tín của vợ chồng; cấm vợ chồng có
hành vi ngược đãi, hành hạ, xúc phạm đến danh dự, nhân phẩm, uy tín của

III.

Đặc điểm quyền nhân thân

Theo điều 24 BLDS 2005: Quyền nhân thân được quy định trong Bộ luật
này là quyền dân sự gắn liền với mỗi cá nhân, không thể chuyển giao cho
người khác, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác. Quyền nhân thân có
các đặc điểm sau đây:
-

Thứ nhất: Quyền nhân thân là một quyền dân sự và là quyền dân sự

đặc biệt.
Con người là nhân vật trung tâm của xã hội và là đối tượng hướng tới của
các cuộc cách mạng tiến bộ trong lịch sử xã hội loài người. Dưới góc độ
pháp luật dân sự thì cá nhân là chủ thể chủ yếu, thường xuyên quan trọng và
phổ biến của quan hệ dân sự. Các quyền mà pháp luật quy định cho cá nhân
là vì con người và hướng tới con người, trong đó có các quyền nhân thân. Sở
dĩ nói quyền nhân thân là quyền dân sự đặc biệt và các quyền này chỉ thuộc
về cá nhân, trong khi đó các quyền khác (quyền tài sản) có thể thuộc về chủ
thể khác (pháp nhân, hộ gia đình).
-

Thứ hai: Mọi cá nhân đều có sự bình đẳng về quyền nhân thân.

Mọi người đều có quyền nhân thân kể từ khi họ được sinh ra, không phân
biệt giới tính, tôn giáo, giai cấp… Chúng ta thấy quyền nhân thân có một sự
khác biệt cơ bản với quyền tài sản vì quyền bình đẳng về mặt dân sự không
quy định tất cả mọi người đều có khả năng hưởng những quyền như nhau.
Nguyên tắc bình đẳng về mặt dân sự có nghĩa là mọi cá nhân đều có những

về mặt nguyên tắc, cá nhân không thể chuyển dịch quyền nhân thân cho chủ
thể khác, nói cách khác thì quyền nhân thân không thể là đối tượng trong các
giao dịch dân sự giữa các cá nhân. Ví dụ, người này không thể đổi họ tên
cho người khác và ngược lại hoặc một người không thể uỷ quyền cho người
khác thực hiện quyền tự do đi lại của mình và mình nhận quyền tự do kết
hôn của người khác. Điều này có nghĩa rằng bản thân chủ thể hưởng quyền
nhân thân chứ họ không thể chuyển giao quyền này cho người khác và cũng
không ai có thể đại diện cho họ để thực hiện quyền này. Tuy nhiên, tính chất
không thể chuyển giao của quyền nhân thân chỉ mang tính chất tương đối.
Bởi trong một số trường hợp đặc biệt theo quy định của pháp luật thì quyền
nhân thân có thể chuyển giao cho chủ thể khác. Ví dụ: Quyền công bố, phổ
biến tác phẩm của tác giả, khi tác giả chết đi thì quyền này có thể chuyển
giao cho chủ thể khác (người thừa kế của tác giả). Mặc dù vậy thì có những

8


yếu tố luôn gắn liền với chủ thể mà không thể thay đổi được, ví dụ: Quyền
đứng tên tác giả, quyền bảo vệ sự toàn vệ của tác phẩm.
-

Thứ năm: Quyền nhân thân là một quyền dân sự do luật định.

Quyền nhân thân là một quyền nằm trong nội dung năng lực pháp luật dân sự
của cá nhân. Pháp luật dân sự quy định cho các cá nhân có các quyền nhân
thân là một sự tuyên bố chính thức về các quyền con người cụ thể được pháp
luật thừa nhận. Việc pháp luật quy định cho các cá nhân có các quyền nhân
thân khác nhau là dựa vào các điều kiện kinh tế xã hội. Do vậy, ở mỗi giai
đoạn khác nhau của lịch sử xã hội loài người, phụ thuộc vào bản chất giai
cấp, chế độ chính trị xã hội… mà quyền nhân thân của cá nhân được quy

Việc phân loại này giúp chúng ta định hình rõ căn cứ và thời điểm xác lập
các quyền nhân thân. Mỗi một chủ thể đều được công nhận một cách vô điều
kiện các quyền nhân thân không gắn với tài sản. Tuy nhiên, để được thừa
nhận các quyền nhân thân gắn với tài sản thì chủ thể đó phải chứng minh
đươc sự tồn tại của loại tài sản vô hình do chính mình sáng tạo ra. Nếu
không có tài sản đó thì không phát sinh các quyền nhân thân của chủ thể có
liên quan.
Thứ hai, dựa vào thời hạn bảo hộ mà các quyền nhân thân được phân loại
thành hai nhóm: Nhóm các quyền nhân thân được bảo hộ vô thời hạn và
nhóm các quyền nhân thân được bảo hộ có thời hạn.
Nhóm các quyền nhân thân được bảo hộ vô thời hạn bao gồm: quyền đối với
họ tên; quyền đối với hình ảnh; quyền được bảo vệ danh dự, uy tín; quyền bí
mật đời tư; quyền đứng tên thật hoặc bút danh trên tác phẩm, được nêu tên
thật hoặc bút danh khi tác phẩm được công bố, sử dụng; quyền bảo vệ sự
toàn vẹn của tác phẩm, không cho người khác sửa chữa, cắt xén, xuyên tạc
tác phẩm.
Nhóm các quyền nhân thân được bảo hộ có thời hạn bao gồm: quyền thay
đổi họ tên; quyền xác định dân tộc; quyền được khai sinh, khai tử; quyền
được đảm bảo an toàn về tính mạng, sức khoẻ, thân thể; quyền được bảo vệ
nhân phẩm; quyền hiến bộ phận cơ thể; quyền nhận bộ phận cơ thể người;
quyền xác định lại giới tính; quyền kết hôn, quyền bình đẳng vợ chồng;
quyền được hưởng sự chăm sóc giữa các thành viên trong gia đình; quyền ly
hôn; quyền nhận, không nhận cha, mẹ, con; quyền được nuôi con nuôi và
10


quyền được nhận làm con nuôi; quyền đối với quốc tịch; quyền bất khả xâm
phạm về chỗ ở; quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo; quyền tự do đi lại, tự do cư
trú; quyền lao động, quyền tự do kinh doanh; quyền tự do nghiên cứu, sáng
tạo; quyền đặt tên cho tác phẩm; quyền công bố hoặc cho phép người khác

Đối với các quyền thuộc nhóm thứ nhất thì chính chủ thể quyền là người bị
hành vi xâm phạm tác động tới. Hậu quả mà hành vi này mang lại là những
tổn thất trực tiếp gây ra đối với chủ thể quyền (tính mạng, sức khoẻ, thân thể,
…) hoặc những khó khăn ngăn cản chủ thể quyền thực hiện hành vi liên
quan đến quyền nhân thân của mình (đi lại, lao động, sáng tạo, kết hôn, ly
hôn, …). Quá trình khắc phục thiệt hại chủ yếu được thực hiện đối với chính
chủ thể quyền như chăm sóc, chữa bệnh, phục hồi sức khoẻ, xin lỗi, chấm
dứt hành vi cản trở, … (Riêng đối với trường hợp xâm phạm tính mạng thì
việc khôi phục tính mạng là không thực hiện được, trách nhiệm bồi thường
khi đó được thực hiện cho những người thân thích của chủ thể quyền).
Đối với các quyền thuộc nhóm thứ hai thì hành vi xâm hại lại không tác
động vào chính chủ thể quyền, mà tác động vào các chủ thể khác làm ảnh
hưởng đến sự nhìn nhận, đánh giá của các chủ thể khác về cá nhân chủ thể
mang quyền (tung tin thất thiệt xúc phạm danh dự, giảm uy tín của chủ thể
quyền, công bố trái phép tác phẩm của tác giả trước công chúng, …). Những
thiệt hại mà chủ thể quyền phải gánh chịu có thể được xoá bỏ bằng việc cải
chính, xin lỗi công khai trên các phương tiên thông tin đại chúng để xoá đi
sự nhìn nhận tiêu cực của các chủ thể khác đối với chủ thể quyền do hành vi
xâm hại gây ra.
Đối với các quyền thuộc nhóm thứ ba thì hành vi lại không tác động vào các
chủ thể nói chung, mà lại tác động vào vật phẩm có liên quan đến quyền của
chủ thể quyền (thư tín, chỗ ở, sách báo và các ấn phẩm mang tác phẩm, ….).
Những thiệt hại do hành vi này gây ra có thể được khắc phục phần nào thông
qua tác động đến các vật phẩm đó như việc thu hồi ấn phẩm, trả lại thư tín,
sửa chữa thông tin trong lý lịch, …

12


Thứ tư, dựa vào phương thức bảo vệ mà các quyền nhân thân được phân

13


hợp tự nguyện hiến xác cho khoa học như trường hợp của bác Quỳnh ở Hà
Nội, hay Đại đước Thích Đức Tiến, trụ trì chùa Thọ Cầu (Hà Nội). Bên cạnh
đó, cũng có nhiều người muốn hiến mô, hiến tạng mà không biết hiến ở đâu,
như thế nào. Ví dụ trong trường hợp của Nguyễn Lê Minh Anh, sinh năm
1980, quê ở Nha Trang và hiện đang làm nghề bốc xếp ở cảng Khánh Hội
thành phố Hồ Chí Minh. Trong mail gửi đến báo điện tử Vietnamnet ngày
5/7/2006 Nguyễn Lê Minh Anh viết: “Tôi đã nghe và đọc được rất nhiều
thông tin về mỗi khổ của những người đang phải chạy thận nhân tạo. Không
biết ở Việt Nam chúng ta đã ghép thận được hay chưa? Tôi thiết nghĩ, đã có
hiến máu nhân đạo thì cũng nên có chương trình hiến thận cho những người
đang vật lộn từng ngày từng giờ với căn bệnh đó. Tôi có ước nguyện muốn
được hiến thân của mình cho những người đang phải chống chọi từng ngày,
từng giời với căn bệnh đau khổ đó. Thế nhưng tôi không biết làm cách nào
để làm được việc tôi suy nghĩ”
Thực tế đã cho thấy, để có được ngân hang mô, tạng không phải là điều quá
khó khăn. Số lượng người ủng hộ và hiến mô tạng đang ngày càng gia tăng
xuất phát từ cách nhìn nhận cũng như việc thấy được ý nghĩa lơn lao trong
việc hiến mô, tạng cứu người.
- Quyền xác định lại giới tính (Điều 36).
Xác định lại giới tính là một quyền nhân thân được quy định tại Điều 36 Bộ
luật Dân sự năm 2005. Để cụ thể hóa quyền này, ngày 5-8-2008, Chính phủ
đã ban hành Nghị định số 88/NĐ- CP về xác định lại giới tính, áp dụng đối
với các tổ chức, cá nhân trong nước và nước ngoài tại Việt Nam, theo đó chỉ
áp dụng việc xác định lại giới tính đối với người có khuyết tật bẩm sinh về
giới tính hoặc giới tính chưa được định hình chính xác, trên nguyên tắc bảo
đảm mỗi người được sống theo đúng giới tính của mình. Trên cơ sở đề nghị
của người xác định lại giới tính, cơ sở khám, chữa bệnh sẽ lựa chọn giới tính

xâm phạm thực hiện được việc tự cải chính thì pháp luật phải quy định cụ
thể về trình tự, thủ tục thực hiện việc tự cải chính của người họ nhưng do các
văn bản pháp luật liên quan không có quy định, hướng dẫn cụ thể nên việc tự
cải chính những tin tức xúc phạm đến danh dự, nhân phẩm của cá nhân trên
15


thực tế hầu như không thể thực hiện được hoặc có thực hiện thì cũng không
hiệu quả. Hơn nữa, về tâm lý thì cũng không mấy ai tin việc cải chính của
chính người có quyền nhân thân bị xâm phạm.
Tại khoản 2, khoản 3 Điều 25 BLDS quy định khi quyền nhân thân của cá
nhân bị xâm phạm thì người có quyền đó được yêu cầu cơ quan, tổ chức có
thẩm quyền bảo vệ thông qua việc buộc người vi phạm chấm dứt hành vi vi
phạm, xin lỗi, cải chính công khai, bồi thường thiệt hại. Theo quy định này,
thì người có quyền nhân thân bị xâm phạm được yêu cầu cơ quan, tổ chức có
thẩm quyền bảo vệ nhưng cơ quan, tổ chức nào là cơ quan, tổ chức có thẩm
quyền lại chưa được Bộ luật Dân sự và các văn bản hướng dẫn thi hành Bộ
luật này cũng như các văn bản pháp luật có liên quan chỉ rõ. Vì thế trên thực
tế đã xảy ra không ít các trường hợp đương sự không xác định được cơ quan,
tổ chức nào có thẩm quyền bảo vệ quyền nhân thân của họ. Ví dụ: Theo quy
định tại Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự thì Tòa án chỉ có thẩm quyền giải
quyết yêu cầu xin xác định lại cha mẹ cho con trong trường hợp có tranh
chấp, đối với trường hợp yêu cầu xin xác định lại cha mẹ cho con mà không
có tranh chấp thì Tòa án không có thẩm quyền giải quyết. Tuy vậy, các văn
bản hướng dẫn thi hành Bộ luật dân sự và các văn bản pháp luật liên quan lại
không quy định, hướng dẫn cơ quan có thẩm quyền giải quyết trường hợp
này nên yêu cầu xin xác định lại cha mẹ cho con mà không có tranh chấp của
đương sự không có cơ quan nào giải quyết. Hơn nữa, trong các văn bản pháp
luật hiện hành không có quy định về việc bảo vệ quyền nhân thân của người
có quyền nhân thân bị xâm phạm trong trường hợp họ đã chết. Tuy dù họ đã

thân của công dân và người phát tán là chưa đủ. Để không xảy ra nữa những
vụ tương tự, cần đảm bảo, trước khi trao quyền lực công vào tay ai đó, người
ấy phải được dạy và nắm chắc cách hành xử đúng mực, đúng quy định của
pháp luật với mọi công dân. Hơn thế, cần củng cố hoặc bổ sung những thiết
chế luật pháp và xã hội hữu hiệu chứ không chỉ trên giấy để đảm bảo quyền
nhân thân, nhân phẩm của công dân được bảo vệ trong mọi hoàn cảnh.
2.

Một số giải pháp hoàn thiện quyền nhân thân
17


- Luật Dân sự là ngành luật độc lập điều chỉnh hai nhóm quan hệ xã hội
là quan hệ tài sản và quan hệ nhân thân. Quan hệ nhân thân “là quan hệ giữa
người với người về một giá trị nhân thân của cá nhân hay tổ chức”. Điều đó
có nghĩa là quyền nhân thân là cơ sở hình thành nên quan hệ nhân thân. Tại
điều 24 BLDS 2005 quy định về quyền nhân thân “là quyền dân sự gắn liền
với mỗi cá nhân, không thể chuyển giao cho người khác, trừ trường hợp
pháp luật có quy định khác”. Trong toàn bộ Chương IV quy định về Pháp
nhân, BLDS cũng không có điều khoản nào quy định về quyền nhân thân
của pháp nhân. Như vây, BLDS có điều chỉnh quan hệ nhân thân được phát
sinh trên cơ sở giá trị nhân thân của tổ chức, nhưng chưa thấy có quy định
riêng nào quy định một pháp nhân, tổ chức có những quyền nhân thân cụ thể
gì. Sự thiếu hụt này cần được bổ sung trong BLDS, bởi lẽ, sự tồn tại của một
pháp nhân hay một tổ chức bao giờ cùng gắn liền với uy tín và danh dự của
pháp nhân hay tổ chức đó. Việc chủ thề xâm phạm đến uy tín và danh dự của
pháp nhân hay tổ chức là căn cứ áp dụng trách nhiệm bồi thường thiệt hại
ngoài hợp đồng, điều này đồng nghĩa với việc chúng ta thừa nhận uy tín,
danh dự của pháp nhân được pháp luật bảo vệ. Do đó, cần xây dựng những
điều khoản quy định cụ thể về quyền nhân thân của pháp nhân, tổ chức.

C.

Kết luận

Con người luôn là trung tâm, là tâm điểm hướng tới của mọi cuộc cách mạng
xã hội. Việc ghi nhận các quyền của con người là một trong những yếu tố
đánh giá sự tiến bộ của từng giai đoạn lịch sử, của từng nhà nước khác nhau.
Nhà nước Việt Nam luôn coi trọng các quyền của con người – trong đó có
quyền nhân thân. Sự phân biệt đẳng cấp, địa vị không tồn tại trong xã hội
hiện tại của Nhà nước ta, theo đó các quyền của cá nhân (trong đó có quyền
nhân thân) là bình đẳng và được pháp luật bảo vệ. Với việc ghi nhận về các
quyền nhân thân trong BLDS năm 2005 có thể thấy rằng pháp luật dân sự
Việt Nam có những bước tiến đáng kể trong việc ghi nhận và bảo vệ quyền
nhân thân của cá nhân. Đây là sự khẳng định và ghi nhận đồng thời là cơ sở
pháp lí quan trọng cho cá nhân trong việc thực hiện các quyền của mình. Các
19


quyền nhân thân của cá nhân được ghi nhận trong BLDS năm 2005 thể hiện
sự tôn vinh của pháp luật đối với các giá trị đích thực của con người, điều
này đúng với bản chất của Nhà nước ta: Nhà nước của dân, do dân, vì dân,
đó cũng là sự thể hiện mục đích của pháp luật nói chung, pháp luật dân sự
nói riêng: Vì con người, lấy con người là trung tâm.

Danh mục tài liệu tham khảo
1.

Giáo trình luật dân sự Việt Nam tập 1 – Trường Đại học Luật hà Nội,

nxb Công an nhân dân.

Nghị
8.

http://www.vietnamnet.vn

9.

http://www.dantri.com

20


21




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status