Một số vấn đề về tài sản theo quy định tại Điều 163 Bộ luật Dân sự
Xã hội ngày càng phát triển và đi lên mạnh mẽ. Trong xu thế hội
nhập kinh tế thế giới hiện nay thì vấn đề giao lưu dân sự giữa các
quốc gia, các tập đoàn, công ty, các tổ chức, cá nhân công dân
cũng được phát triển mạnh mẽ. Quan hệ tài sản là một trong
những quan hệ quan trọng nằm trong đối tượng điều chỉnh của
luật dân sự cũng cùng đó mà được phát triển và mở rộng hơn.
Quan hệ này là quan hệ giữa người với người thông qua một tài
sản. Vậy để quản lý tốt hơn các mặt trong quan hệ tài sản thì cần
thiết phải đặt ra những quy định đúng đắn và chính xác về chế
định tài sản. Tài sản luôn được đánh giá là biểu hiện cho sự phát
triển văn minh của xã hội loài người, là điều hết sức quan trọng và
cần thiết để duy trì một đời sống kinh tế vững mạnh và phát triển.
Việc nghiên cứu mang tính lý luận về tài sản sẽ mang ý nghĩa to
lớn trong công tác quản lý xã hội của nhà nước, cũng như phát
hiện được những hạn chế còn tồn tại trong pháp luật hiện hành
quy định về tài sản ở nước hiện nay rồi từ đó tìm hướng giải quyết.
Bộ luật Dân sự 2005 (bộ luật hiện hành của nước ta) có các quy
định về vấn đề tài sản. Vì muốn được tìm hiểu rõ hơn các quy định
của pháp luật về tài sản nên em xin lựa chọn đề tài: “Một số vấn
đề về tài sản theo quy định tại Điều 163 Bộ luật Dân sự” cho bài
tập lớn học kỳ.
Do kiến thức còn hạn chế mà bài làm của em sẽ không tránh khỏi
thiếu sót, em mong nhận được sự nhận xét của thầy, cô để bài
được hoàn thiện hơn.
B. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
I. Khái quát chung về tài sản
1. Khái niệm tài sản.
Tài sản luôn được coi là một điều kiện vật chất để duy trì các hoạt
không, hệ thống khách hàng … có được coi là tài sản trong pháp
luật dân sự hay không? Chính điều này đòi hỏi cơ quan lập pháp
phải tiến hành sửa đổi quy định về khái niệm tài sản trong BLDS
theo hướng khái quát hơn và đưa ra những tiêu chí để phân biệt
đâu là tài sản, đâu không phải là tài sản.
Đã có nhiều quan điểm khác nhau bàn về vấn đề như thế nào được
coi là tài sản, có thể đưa ra một số quan điểm như sau:
- Quan điểm thứ nhất cho rằng: tài sản là đối tượng của quyền sở
hữu. Như vậy, theo quan điểm này muốn hiểu tài sản là gì thì trước
tiên chúng ta phải hiểu quyền sở hữu là gì? Tuy nhiên, khái niệm
quyền sở hữu tại Điều 164 BLDS 2005 cũng chỉ được đưa ra theo
hướng liệt kê, theo đó, “Quyền sở hữu bao gồm quyền chiếm hữu,
quyền sử dụng và quyền định đoạt tài sản của chủ sở hữu theo
quy định của pháp luật”. Do đó, nếu áp dụng khái niệm này thì
chúng ta lại bị rơi vào vòng luẩn quẩn định nghĩa tài sản thông qua
một khái niệm quyền sở hữu trong khi đó bản thân khái niệm
quyền sở hữu cũng chưa giải quyết được một cách triệt để, thậm
chí còn là phái sinh từ khái niệm tài sản.
- Quan điểm thứ hai cho rằng: tài sản là của cải vật chất tồn tại
dưới dạng cụ thể, được con người sử dụng và được nhận biết bằng
giác quan tiếp xúc như xe ôtô, môtô, bàn, ghế, máy tính, giường,
tủ, tờ tiền… Như vậy, theo quan điểm này thì chỉ những gì thuộc
về thế giới vật chất, hiện đang tồn tại và chúng ta có thể cầm,
nắm… được thì mới được coi là tài sản. Do đó, quyền tài sản không
được coi là tài sản.
- Quan điểm thứ ba cho rằng: tài sản bao gồm động sản và bất
động sản. Đây thực chất là một cách phân loại tài sản dựa trên
tính chất vật lý không di dời được về mặt cơ học và nó cũng rơi
sản”.
Trong đó, vật được hiểu là bộ phận của thế giới khách quan mà
con người có thể cảm nhận được bằng các giác quan của mình.
Tuy nhiên chỉ những vật nằm trong sự chiếm hữu của con người và
trở thành đối tượng của giao lưu dân sự thì được coi là tài sản. Tiền
theo kinh tế - chính trị học là vật ngang giá chung được sử dụng
làm thước đo giá trị của các loại tài sản khác. Một tài sản được coi
là tiền hiện nay khi nó có giá trị lưu hành trên thị trường. Giấy tờ
có giá là loại tài sản rất phổ biến trong giao lưu dân sự hiện nay,
đặc biệt là giao dịch trong các hệ thống ngân hàng và tổ chức tín
dụng. Nó được hiểu là giấy tờ có trị giá được bằng tiền và có thể
chuyển giao trong giao lưu dân sự.
Ngoài vật, tiền, giấy tờ có giá thì tài sản còn được xác định là
quyền tài sản được quy định tại điều 181 của Bộ luật dân sự 2005:
“Quyền tài sản là quyền trị giá được bằng tiền và có thể chuyển
giao trong giao lưu dân sự, kể cả quyền sở hữu trí tuệ”. Quyền tài
sản được hiểu theo nghĩa rộng là quyền của cá nhân, tổ chức được
pháp luật cho phép thực hiện hành vi xử sự đối với tài sản của
mình và yêu cầu người khác phải thực hiện một nghĩa vụ đem lại
vật chất cho mình. Xét theo ý nghĩa này thì quyền sở hữu cũng là
quyền tài sản (vật quyền). Quyền yêu cầu người khác thực hiện
nghĩa vụ tài sản (trái quyền) cũng là quyền tài sản.
Có thể thấy rằng những loại tài sản được pháp luật thừa nhận tại
Điều 163 BLDS 2005 là kết quả của quá trình phát triển lưu thông
dân sự được nhà nước thừa nhận. Tuy nhiên, pháp luật thường
chậm hơn thực tiễn nên việc liệt kê sẽ rất có thể là không đầy đủ
hoặc không theo kịp sự phát triển của khoa học và đời sống. Bởi
vậy để đi tìm một khái niệm chung nhất cho tài sản là rất khó.
Ba là, tài sản là đối tượng trong lưu thông dân sự, chính bởi như
thế khái niệm về tài sản được mở rộng hay thu hẹp theo từng thời
kì để phù hợp với điều kiện giao lưu dân sự trong xã hội thời đó.
Bốn là, khái niệm tài sản trong cuộc sống khác với khái niệm tài
sản trong pháp lí. Pháp luật là công cụ thực hiện quyền lực, ý chí
của một nhà nước với các quan hệ xã hội. Bởi vậy nếu như nhà
nước không công nhận một loại tài sản thì nó sẽ không được điều
chỉnh bởi các quy phạm pháp luật. Sự quy định đâu là tài sản dựa
vào ý chí của nhà nước đưa vào bộ luật dân sự.
3. Phân loại tài sản
Tài sản là một chế định quan trọng của luật dân sự mà trong đó
việc phân loại tài sản có một ý nghĩa rất lớn, bởi tài sản là một
công cụ của đời sống xã hội. Nó liên quan tới hàng loạt các vấn đề
pháp lý như: thuế, bảo đảm nghĩa vụ dân sự, thừa kế, hiệu lực của
hợp đồng, bán tài sản, công khai, các quyền tài sản, thương mại,
tư pháp quốc tế…
Thứ nhất, dựa vào đặc tính vật lí của tài sản theo Điều 174 BLDS
2005 quy định: “1. Bất động sản là các tài sản bao gồm:
a) Đất đai;
b) Nhà, công trình xây dựng gắn liền với đất đai, kể cả các tài sản
gắn liền với nhà, công trình xây dựng đó; c) Các tài sản khác gắn
liền với đất đai;
d) Các tài sản khác do pháp luật quy định.
2. Động sản là những tài sản không phải là bất động sản.”
Cách phân loại này chủ yếu dựa vào đặc tính vật lí của tài sản là
có thể di dời được hay không thể di dời được. Đây là cách phân
loại truyền thống mà khá nhiều nước trên thế giới lựa chọn vì các
quy phạm điều chỉnh hai loại tài sản này là hai hệ thống riêng rẽ
chiếm hữu hợp pháp có quyền yêu cầu kiện đòi lại tài sản đối với
động sản và bất động sản là khác nhau.); Xác định tòa án có thẩm
quyền giải quyết tranh chấp dân sự…
Thứ hai, dựa vào nguồn gốc và cách thức hình thành tài sản thì có
thể phân tài sản thành tài sản gốc và hoa lợi, lợi tức.
Tài sản gốc được hiểu là tài sản khi sử dụng khai thác công dụng
thì sinh ra lợi ích vật chất nhất định. Hoa lợi là sản vật tự nhiên mà
tài sản mang lại (hoa quả thu hoạch từ cây cối, con nghé do con
trâu đẻ ra). Lợi tức là các khoản lợi thu được từ việc khai thác tài
sản mà không phải do tài sản tự sinh ra (tiền cho thuê nhà, tiền
lãi…).
Như vậy cả hoa lợi và lợi tức đều là những tài sản sinh ra từ việc
khai thác và sử dụng tài sản gốc.
Việc phân loại tài sản theo hướng này có những ý nghĩa nhất định:
Xác định chủ sở hữu của tài sản (hoa lợi sẽ thuộc chủ sở hữu của
tài sản, lợi tức sẽ thuộc về người có quyền sử dụng hợp pháp tài
sản đó); Xác định trong một số trường hợp người chiếm hữu tài
sản gốc chỉ được hưởng hoa lợi sinh ra từ tài sản gốc mà không
được khai thác công dụng của tài sản để thu lợi tức (trường hợp
cầm giữ tài sản trong hợp đồng song vụ thì bên cầm giữ tài sản có
quyền thu hoa lợi từ tài sản cầm giữ và được dùng để bù trừ nghĩa
vụ theo Điều 416 BLDS 2005).
Thứ ba, căn cứ vào giá trị của tài sản, vai trò, ý nghĩa của tài sản
đối với chính trị, kinh tế, an ninh, quốc phòng, quản lí nhà nước thì
ta phân ra tài sản có đăng kí quyền sở hữu, tài sản không đăng kí
quyền sở hữu.
Tài sản có đăng kí quyền sở hữu là tài sản mà pháp luật quy định
bắt buộc phải đăng kí, nếu không đăng kí sẽ không được công
thông không thể trở thành đối tượng trong giao dịch dân sự. Chính
vì vậy nếu các bên vẫn xác lập giao dịch này thì giao dịch đó sẽ là
giao dịch vô hiệu tuyệt đối do có nội dung vi phạm điều cấm của
pháp luật; và khi đó tài sản giao dịch, hoa lợi, lợi tức sẽ bị tịch thu
sung công quỹ nhà nước.
Thứ năm, căn cứ vào thời điểm hình thành tài sản và thời điểm xác
lập quyền sở hữu cho chủ sở hữu, tài sản được phân thành loại tài
sản hiện có và tài sản hình thành trong tương lai.
Tài sản hiện có là tài sản đã có và tồn tại vào thời điểm hiện tại và
đã được xác lập quyền sở hữu cho chủ sở hữu của tài sản đó.
Tài sản hình thành trong tương lai được hiểu là tài sản chưa tồn tại
hoặc chưa hình thành đồng bộ vào thời điểm xem xét (thường là
thời điểm xác lập nghĩa vụ hoặc giao dịch dân được giao kết)
nhưng chắc chắn sẽ được hình thành trong tương lai (tiền lương sẽ
được hưởng, xe máy đang được lắp ráp…). Ngoài ra tài sản hình
thành trong tương lai còn gồm cả tài sản đã được hình thành tại
thời điểm giao kết giao dịch nhưng sau thời điểm đó thì tài sản mới
thuộc sở hữu của các bên (tài sản có được do mua bán, trao đổi..).
Với việc phân loại tài sản này ta có thể thấy ý nghĩa của nó: Xác
định đối tượng được phép giao dịch; Xác định hình thức thủ tục xác
lập (Việc xác lập giao dịch có đối tượng là tài sản sẽ có trong
tương lai buộc các bên phải bàn giao những giấy tờ chứng
minh mình là người có quyền sở hữu đối với tài sản sẽ
hình thành trong tương lai đó.)
Thứ sáu, căn cứ vào Điều 163 BLDS 2005 ta cũng có một cách
phân loại tài sản. Cách phân loại này mang tính chất liệt kê, theo
đó thì tài sản được phân thành: vật, tiền, giấy tờ có giá, các
quyền tài sản. Đây là cách phân loại tài sản hiện hành của pháp
tâm lý, thẩm mỹ, văn hóa sử dụng… Vậy vật khi nào là tài sản? Để
giải quyết vấn đề này cần thiết phải căn cứ vào những tiêu chí cụ
thể của quan hệ pháp luật dân sự cụ thể để xác định. Tại Điều 163
BLDS 2005 thì có phải mọi vật của thế giới vật chất đều được hiểu
là tài sản không? Và tất nhiên không phải như vậy, không phải bất
kỳ vật nào thuộc thế giới vật chất cũng đều được coi là tài sản. Xét
theo quan hệ này thì một vật nhất định được coi là tài sản nhưng
nếu xét theo quan hệ cụ thể khác thì vật đó không thể được coi là
tài sản. Để xác định được rõ một vật có được coi là tài sản hay
không cần phải đặt vật đó trong từng quan hệ cụ thế và không thể
lập luận theo một chiều, có vật là có tài sản.
Trong quan niệm của Luật dân sự thì vật phải thỏa mãn những điều
kiện nhất định sau:
- Vật đó phải tồn tại khách quan hoặc vật đó chắc chắn được hình
thành trong tương lai xác định được;
- Vật đó con người phải chi phối được, phải kiểm soát được, phải
chiếm hữu được;
- Vật đó phải xác định được giá trị thanh toán hay giá trị trao đổi,
vật đó phải khai thác được về tài sản (thương mại, dấn sự, tiêu
dùng,..), đáp ứng được nhu cầu về vật chất và tinh thần của con
người.
- Vật đó là vật được phép lưu thông dân sự và mang giá trị tài sản,
có thể trao đổi được cho nhau dưới dạng vật chất hay quy đổi được
bằng tiền.
Như vậy, có thể đưa ra một định nghĩa khái quát chung về vật
trong quan hệ pháp luật dân sự như sau: Vật là một bộ phận của
thế giới vật chất và con người có thể chiếm hữu được, sử dụng
nhằm mục đích đáp ứng những nhu cầu vật chất và tinh thần của
chia vẫn giữ nguyên được tính chất và tính năng sử dụng ban đầu,
ví dụ: gạo, xăng…. Vật không chia được là vật khi bị phân chia thì
không giữ nguyên được tính chất và tính năng sử dụng ban đầu. Ví
dụ: xe máy, tủ, ghế, bàn… Cách phân loại này có ý nghĩa trong
trường hợp khi cần phân chia vật không chia được thì phải trị giá
thành tiền để chia.
1.3.3 Vật tiêu hao và vật không tiêu hao
Căn cứ vào tính chất vật lý có thể phân loại vật thành vật tiêu hao
và vật không tiêu hao. Theo quy định tại Điều 178 BLDS 2005 thì
vật tiêu hao là vật khi đã qua một lần sử dụng thì mất đi hoặc
không giữ được tính chất, hình dạng và tính năng sử dụng ban
đầu. Ví dụ: xà bông, xi măng, cát…Do đó, vật tiêu hao không thể
là đối tượng của hợp đồng cho thuê hoặc hợp đồng cho mượn. Vật
không tiêu hao là vật qua sử dụng một lần vẫn giữ được tính chất,
hình dạng và tính năng sử dụng ban đầu, ví dụ: quần áo, nhà ở,
các loại phương tiện giao thông, các loại máy móc,...
1.3.4 Vật cùng loại và vật đặc định
Dựa vào dấu hiệu phân biệt của vật mà có thể chia thành vật cùng
loại và vật đặc định. Vật cùng loại là những vật có cùng hình
dáng, tính chất, tính năng sử dụng và xác định được bằng những
đơn vị đo lường như kg, lít (xăng dầu, gạo…). Vật cùng loại có
cùng chất lượng có thể thay thế được cho nhau.
Nếu vật cùng loại bị tiêu hủy thì có thể thay thế nó bằng vật cùng
loại khác. Vật đặc định là những vật có thể phân biệt với các vật
khác bằng các dấu hiệu đặc trưng riêng biệt của vật đó về kí hiệu,
hình dáng, mà sắc chất liệu, đặc tính, vị trí. Trong khi thực hiện
nghĩa vụ chuyển giao vật, đối với vật đặc định thì nó là vật duy
có thể được hiểu là nội tệ hoặc ngoại tệ. Tuy nhiên, ngoại tệ là loại
tài sản hạn chế lưu thong chứ không được lưu hành rộng rãi như
tiền Việt Nam.
Có thể thấy một số đặc điểm của tiền như: tính được chấp
nhận một cách rộng rãi; dễ nhận biết; có nhiều mệnh giá khác
nhau; tính lâu bền; tính khan hiếm.
2.2 Bản chất pháp lý
Tiền là một loại tài sản đặc biệt được quy định tại Điều 163 BLDS:
dùng tiền để xác định giá trị của các loại tài sản thông qua đó có
thể biết được tài sản nào có giá trị hơn. Như vậy, việc tất cả các tài
sản đều có thể quy đổi ra tiền đã tạo nên tính đặc biệt của loại tài
sản này.
Chức năng của tiền: công cụ thanh toán đa năng, công cụ tích lũy
tài sản, thước đo giá trị.
2.3 Phân biệt tiền và vật
Theo quy định của Điều 163 BLDS 2005 thì tiền và vật cùng là tài
sản, nhưng giữa chúng lại có một số điểm khác biệt về đặc điểm
pháp lý như sau:
Thứ nhất, đối với vật thì chúng ta có thể khai thác công dụng hữu
ích từ chính vật đó (dùng nhà để ở, dùng xe để đi…). Còn đối với
tiền thì không thể khai thác công dụng hữu ích trực tiếp từ chính tờ
tiền hay đồng tiền xu đó. Tiền thực hiện ba chức năng chính là:
công cụ thanh toán đa năng, công cụ tích lũy tài sản và công cụ
định giá các loại tài sản khác. Khái niệm “quyền sử dụng” chỉ áp
dụng được một cách trọn vẹn cho vật chứ không áp dụng được cho
tiền.
Thứ hai, các vật thông thường có thể do rất nhiều chủ thể khác
nhau tạo ra, còn tiền thì chỉ do nhà nước độc quyền phát hành.
tài sản như giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, giấy chứng nhận
quyền sở hữu nhà, giấy đăng ký ô tô, sổ tiết kiệm… không được coi
là giấy tờ có giá. Nếu cần phải xem xét thì đó chỉ đơn thuần được
coi là một vật và thuộc sở hữu của người đứng tên trên giấy tờ đó.
3.2 Đặc điểm của giấy tờ có giá
Giấy tờ có giá có một số đặc điểm sau:
- Giấy tờ có giá là một chứng chỉ được lập theo hình thức, trình tự
luật định;
- Nội dung thể hiện trên giấy tờ có giá là thể hiện quyền tài sản,
giá của giấy tờ có giá là giá trị quyền tài sản và quyền này được
pháp luật bảo vệ;
- Giấy tờ có giá có tính thanh khoản và công cụ có thể chuyển
nhượng toàn bộ một lần, việc chuyển nhượng một phần giấy tờ có
giá là vô hiệu.
3.3 Phận biệt giấy tờ có giá và một số loại tài sản khác
3.3.1 Phân biệt giấy tờ có giá và tiền
Khác với tiền chỉ do cơ quan duy nhất là Ngân hàng Nhà nước ban
hành thì giấy tờ có giá có thể do rất nhiều cơ quan ban hành như
Chính phủ, ngân hàng, kho bạc, các công ty cổ phần,…; nếu tiền
luôn có mệnh giá nhất định thể hiện thước đo giá trị của những
loại tài sản khác, luôn lưu hành không có thời hạn, không ghi danh
thì giấy tờ có giá có thể có mệnh giá hoặc không có mệnh giá, có
thế có thời hạn sử dụng hoặc không có thời hạn sử dụng, có thể
ghi danh hoặc không ghi danh và việc thực hiện quyền định đoạt
về số phận thực tế đối với giấy tờ có giá cũng không bị hạn chế
như việc định đoạt tiền.
3.3.2 Phân biệt giấy tờ có giá và vật
Giấy tờ có giá và vật cùng là tài sản trong quan hệ pháp luật dân
nhiều nhưng chỉ những quyền tài sản nào có thế trở thành đối
tượng trong các giao dịch dân sự thì mới được coi là tài sản tại
Điều 163 BLDS 2005. Hiện nay, pháp luật dân sự Việt Nam công
nhận một số quyền tài sản là tài sản như: quyền sử dụng đất,
quyền khai thác tài nguyên thiên nhiên, quyền yêu cầu bồi thường
thiệt hạn đối với tài sản bị xâm phạm, quyền tài sản phát sinh từ
quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp, quyền đối với vật bảo
đảm, quyền tài sản đối với phần góp vốn trong doanh nghiệp,
quyền tài sản phát sinh từ hợp đồng (Điều 332 BLDS 2005).
4.2 Đặc điểm pháp lý của quyền tài sản:
- Quyền tài sản là quyền trị giá được bằng tiền (quyền sở hữu trí
tuệ, sử đất…); có thể dùng là đối tượng trong giao lưu dân sự hoặc
là quyền của chủ thể trong một số quan hệ dân sự tuyệt đối.
- Khác với các loại tài sản khác, quyền tài sản là tài sản vô hình.
Quyền tài sản trong luật thực định Việt Nam được xây dựng như
một khối đối lập với vật trong hệ thống phân loại cơ bản (vật hữu
hình). Nói khác đi, quyền tài sản trong luật thực định Việt Nam
được hiểu là quan hệ pháp luật khác với quan hệ sở hữu mà trên
cơ sở quan hệ khác đó, một lợi ích định giá được bằng tiền hình
thành và thuộc về một chủ thể của quan hệ đó.
4.3 Phân biệt quyền tài sản và giấy tờ có giá.
Nếu như giấy tờ có giá là một vật (tức là một tờ giấy được xác định
giá trị) thì quyền tài sản hoàn toàn là một vật vô hình.
Đối với giấy tờ có giá có thể thực hiện quyền chiếm hữu và quyền
định đoạt thì đối với quyền tài sản chúng ta không thực hiện được
chức năng này. Quyền tài sản chỉ mang lại lợi ích cho chủ thể khi