Kiện đòi lại tài sản theo quy định của Bộ luật Dân sự - Pdf 34

A. LỜI MỞ ĐẦU.
Pháp luật được coi là coi là công cụ sắc bén và hữu hiệu nhất trong việc bảo vệ
quyền sở hữu, đảm bảo cho chủ sở hữu thực hiện có hiệu quả và hợp lí các quyền
năng chiếm hữu, sử dụng, định đoạt một các bình thường nhất. Bảo vệ quyền sở hữu
chính là biện pháp tác động bằng pháp luật đối với hành vi xử sự của con người, ngăn
ngừa những hành vi xâm hại đến chủ sở hữu khi người này hành xử quyền của mình.
Bằng các quy định của pháp luật, Nhà nước ta xác nhận và quy định phạm vi những
quyền năng của một chủ sở hữu với tài sản của họ. Mặt khác, Nhà nước dùng pháp
luật như một công cụ pháp lí để bảo vệ các quyền năng đã được pháp luật công nhận
và ngăng ngừa những hành vi vi phạm pháp luật. Kiện đòi lại tài sản là một trong
những phương thức để chủ sở hữu có thể bảo vệ quyền sở hữu với tài sản. Để làm rõ
hơn nữa, em xin chọn đề tài “Kiện đòi lại tài sản theo quy định của Bộ luật Dân sự”
trong bài tập học kì này.

B. NỘI DUNG.
I.
MỘT SÔ VẤN ĐỀ LÍ LUẬN VỀ KIỆN ĐÒI TÀI SẢN.
1. Khái quát về kiện đòi lại tài sản.
1


1.1.

Định nghĩa

Kiện đòi lại tài sản là biện pháp kiện dân sự, theo đó, chủ sở hữu, người chiếm
hữu hợp pháp yêu cầu cơ quan Nhà nước có thẩm quyền buộc người chiếm hữu,
người sử dụng tài sản, người được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật phải trả lại
tài sản cho mình.
1.2.



Thứ nhất, việc luật hóa các quy định về sở hữu nói chung, kiện đòi lại tài sản
nói riêng thành một chế định tương đối đầy đủ và hoàn thiện như hiện nay không chỉ
thể hiện trình độ lập pháp ngày càng tiến bộ của Nhà nước ta mà còn thể hiện đường
2


lối chính sách của Đảng ta trong việc bảo hộ quyền sở hữu hợp pháp của các chủ thể
trong xã hội.
Thứ hai, các quy định này là căn cứ pháp lý để Tòa án áp dụng trong quá trình
giải quyết các tranh chấp phát sinh trong thực tế, đảm tính thống nhất, công bằng và
nghiêm minh của pháp luật.
Thứ ba, kiện đòi lại tài sản cũng nằm trong mục đích chung của pháp luật là
giáo dục mọi thành viên trong xã hội. Các quy định về kiện đòi lại tài sản giúp người
dân nâng cao hiểu biết của người dân trong việc bảo vệ quyền sở hữu của mình, tránh
các hành vi vi phạm…
Thứ tư, các quy định về kiện đòi lại tài sản thể hiện sự điều chỉnh kịp thời của
pháp luật đối với những quan hệ phát sinh trong đời sống xã hội, là căn cứ để chủ sở
hữu, người chiếm hữu hợp pháp yêu cầu Tòa án xét xử khi có hành vi vi phạm.
2. Khái lược về kiện đòi lại tài sản theo pháp luật Việt Nam.
2.1. Các quy định của pháp luật về kiện đòi lại tài sản trước năm
1995.
a. Kiện đòi lại tài sản trong pháp luật VN thời kì phong kiến.
Các triều đại phong kiến đã có những quy định nhất định về chế độ sở hữu và
cách thức bảo vệ quyền sở hữu. Bộ luật Hồng Đức ( nhà Lê) và Bộ Hoàng Việt luật lệ
( nhà Nguyễn) là hai bộ luật tiêu biểu cho thời kì phong kiến. Trong Luật Hồng Đức,
để đảm bảo quyền sở hữu đất đai, pháp luật quy định cụ thể các hành vi xâm chiếm
hoặc bán trộm đất đai đều bị trừng phạt và phải hoàn trả lại cho chủ sở hữu ( Điều
382, Điều 386). Bộ luật cũng quy định về thời hiệu đòi lại tài sản trong một số trường
hợp: với ruộng đất cầm mà chủ ruộng đất xin chuộc lại thì phải trong niên hạn ( 30

triển kinh tế theo con đường của CNXH. Để tạo cơ sở pháp lý cho các chủ thể trong
các thành phần kinh tế khác nhau an tâm lao động sản xuất, Nhà nước công nhận và
bảo hộ quyền sở hữu của người lao động riêng lẻ và quyền sở hữu của các nhà tư bản
đối với các tư liệu sản xuất họ đang được phép sản xuất kinh doanh.
Như vậy pháp luật của nhà nước ta ghi nhận và bảo vệ quyển sở hữu tài sản của
các chủ thể. Nếu quyền sở hữu bị xâm phạm, thì cho phép chủ sở hữu khởi kiện yêu
cầu toà án bảo vệ quyền lợi cho mình. Toà án sẽ căn cứ vào đường lối chính sách của
Đảng để giải quyết tranh chấp về sở hữu.
e. Kiện đòi lại tài sản từ những năm 1960 đến ngày miền Nam hoàn
toàn giải phóng.
Nhiệm vụ chính của nhân dân miền Bắc là tập trung sức người, sức của để chi
viện cho đồng bào miền Nam, đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.
Vì vậy, trong thời gian này, các giao lưu dân sự để phục vụ nhu cầu sinh hoạt của
nhân dân như mua bán lương thực, thực phẩm và nhu yếu phẩm cần thiết khác, Nhà
nước phân phối theo chỉ tiêu. Thời kỳ này các quan hệ dân sự chủ yếu mang tính hành
chính, cho nên tranh chấp dân sự hầu như không xảy ra. Tuy nhiên, trong giao lưu dân
sự có các giao dịch như mua bán nhà ở, đất đai, cho vay thóc gạo…Nếu có tranh chấp
về những hợp đồng này thì việc giải quyết bằng biện pháp hoà giải ở hợp tác xã. Đối
với những tranh chấp dân sự không hoà giải được thì giải quyết tại Toà án. Để thống
nhất đường lối giải quyết các tranh chấp về dân sự, TANDTC tổng kết kinh nghiệm
xét xử và ban hành văn bản hướng dẫn TAND các cấp về đường lối xét xử.
f. Năm 1986:
Đại hội VI của Đảng đề ra đường lối phát triển kinh tế của nước ta theo hướng
xoá bỏ cơ chế bao cấp chuyển sang cơ chế thị trường định hướng XHCN. Nền kinh tế
của nước ta phát triển dựa trên các quan hệ sở hữu toàn dân, sở hữu tập thể và sở hữu
tư nhân. Nhà nước coi hình thức sở hữu tư nhân là cần thiết trong suốt thời kỳ quá độ
lên CNXH. Sau năm năm thực hiện nghị quyết Đại hội VI (1986), công cuộc đổi mới
do Đảng đề xướng đã đạt được những thành tựu quan trọng. Để tiếp tục thực hiện
đường lối đổi mới đó, Đại hội VII (1991) của Đảng đề ra định hướng phát triển kinh
tế-xã hội của đất nước trong giai đoạn mới và tiếp tục cải cách bộ máy nhà nước theo

quyền đòi lại tài sản trong trường hợp sau đây:
Thứ nhất, chủ sở hữu không chuyển tài sản của mình cho bất cứ người thứ hai
nào, mà người đó đang chiếm giữ tài sản của chủ sở hữu mà không trả lại tài sản cho
chủ sở hữu. Trường hợp này người đang chiếm hữu tài sản có thể thực hiện hành vi
bất hợp pháp như trộm cắp, cướp giật…Hoặc hành vi chiếm hữu ban đầu là có căn cứ
như thông qua hợp đồng, hoặc nhặt được tài sản đánh rơi, bỏ quên…nhưng không
chịu trả lại tài sản cho chủ sở hữu, do đó hành vi thực tế chiếm hữu tài sản là không có
căn cứ (bất hợp pháp).
Thứ hai, chủ sở hữu chuyển tài sản cho người khác thông qua giao dịch như
cho mượn, gửi giữ…người chiếm hữu hợp pháp không chuyển cho người thứ ba
nhưng người thứ ba thực tế đang chiếm hữu vật. Trường hợp này người chiếm hữu
hợp pháp có quyền kiện đòi lại tài sản từ người chiếm hữu không căn cứ để bảo vệ
quyền chiếm hữu, sử dụng tài sản của mình.
Thứ ba, chủ sở hưũ chuyền tài sản cho người chiếm hữu hợp pháp, người
chiếm hữu hợp pháp chuyển tài sản cho người thứ ba không được sự đồng ý của chủ
sở hữu. Trường hợp này, người thứ ba có thể ngay tình hoặc không ngay tình đều phải
trả lại tài sản cho chủ sở hữu.

5


Như vậy, căn cứ pháp lý để chủ sở hữu đòi lại tài sản trong các trường hợp hợp
trên là chủ sở hữu không chuyển quyền sở hữu tài sản của mình cho người khác, thì
trong mọi trường hợp người chiếm hữu không có căn cứ pháp luật đều phải trả lại tài
sản cho chủ sở hữu. Căn cứ thực tế để chủ sở hữu đòi lại tài sản là người đang chiếm
hữu tài sản làm cho chủ sở hữu không khai thác, sử dụng được tài sản của mình. Vì
vậy, cần cho phép chủ sở hữu tự bảo vệ tài sản của mình hoặc yêu cầu toà án giải
quyết.
Bộ luật dân sự 1995, được xây dựng vào thời kỳ đất nước ta đang bắt đầu đổi
mới, chúng ta đang chuẩn bị xây dựng hệ thống pháp luật của nhà nước pháp quyền

6


4. Người phát hiện và giữ tài sản vô chủ, tài sản không xác định được ai là chủ sở
hữu, tài sản bị đánh rơi, bị bỏ quên, bị chôn giấu, bị chìm đắm phù hợp với các điều
kiện do pháp luật quy định;
5. Người phát hiện và giữ gia súc, gia cầm, vật nuôi dưới nước bị thất lạc phù hợp với
các điều kiện do pháp luật quy định;
6. Các trường hợp khác do pháp luật quy định”
Như vậy, quyền chiếm hữu của người chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp
được pháp luật thừa nhận và bảo vệ. Do đó, khi quyền sở hữu, quyền chiếm hữu bị
xâm phạm họ có quyền yêu cầu Tòa án xét xử để đòi lại tài sản thuộc quyền sở hữu,
quyền chiếm hữu hợp pháp của mình từ người đang chiếm hữu không có căn cứ pháp
luật.
Khi tham gia tố tụng, người kiện đòi tài sản phải là chủ sở hữu của vật và phải
chứng minh quyền sở hữu của mình với vật đang bị bị đơn chiếm giữ bất hợp pháp.
( Điều 79 BLTTDS 2004). Nếu nguyên đơn là người chiếm hữu hợp pháp thông qua
hợp đồng chuyển giao quyền sử dụng phù hợp với ý chí của chủ sở hữu thì người đó
phải chứng minh được mình là người có quyền chiếm hữu, sử dụng tài sản đang bị bị
đơn chiếm giữ bất hợp pháp.
Theo đó, về nguyên tắc, người chiếm hữu không có căn cứ pháp luật không
ngay tình phải trả lại tài sản cho chủ sở hữu hoặc người chiếm hữu hợp pháp. Khi lấy
lại tài sản, chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp không phải bồi thường một khoản
tiền nào, trừ trường hợp người chiếm giữ hợp pháp ngay tình bỏ ra chi phí hợp lí để
sửa chữa tài sản, làm tăng giá trị của tài sản.
1.2.

Người bị kiện.

Người bị kiện trong vụ kiện đòi lại tài sản phải là người đang chiếm hữu khoog

hình, cảm nhận được bởi năm giác quan của con người. Tuy nhiên không phải bộ
phận nào của thế giới vật chất cũng được coi là vật. Có những bộ phận của thế giới
khách quan ở dạng này được coi là vật, ở dạng khác thì không phải là vật.
Theo các quy định của BLDS năm 2005 thì vật được xác định là tài sản không
chỉ là những vật đang tồn tại thực mà còn bao gồm cả những vật chắc chắn sẽ hình
thành trong tương lai. Theo đó, trong các giao dịch dân sự thì các chủ thể không chỉ
có quyền dùng tài sản là vật có thực mà có thể dùng các vật hình thành trong tương lai
làm đối tượng giao dịch. Tuy nhiên, trong kiện đòi lại tài sản, đối tượng chỉ bao gồm
các vật có thực và đang tồn tại trên thực tế. Trong trường hợp vật không còn tồn tại do
đã mất hoặc bị tiêu hủy thì không thể áp dụng phương thức kiện đòi tài sản được mà
cần phải áp dụng phương thức kiện yêu cầu đền bù thiệt hại.
Pháp luật Việt Nam quy định tiền là một loại tài sản riêng biệt. Loại tài sản này
có những đặc điểm pháp lý riêng biệt khác với vật. Tiền có tính năng khác là khi
chuyển giao tiền thì bao giờ cũng kèm theo chuyển giao quyền sở hữu, trừ trường hợp
khi chuyển giao ta đặc định hóa gói tiền thông qua việc niêm phong gói tiền lại. Tuy
nhiên, cần chú ý, tiền chỉ được coi là tài sản riêng biệt nếu đó là loại tiền đang được
lưu thông tại một quốc gia trong thời điểm hiện hành. Do đó, khi tiền bị chiếm hữu
không có căn cứ pháp luật về mặt bản chất chủ sở hữu không thể kiện đòi lại tài sản
thông thường được mà thực chất là yêu cầu bồi thường thiệt hại.
Theo pháp luật hiện hành, những loại giấy tờ có giá ghi danh và cấm chuyển
nhượng không được coi là giấy tờ có giá với tư cách là một loại tài sản trong giao dịch
dân sự. Bởi lẽ, mất chúng không phải là mất tiền, chúng chỉ đơn giản là những giấy tờ
có giá trị minh chứng cho quyền sử dụng, quyền yêu cầu, quyền định đoạt hay quyền
sở hữu chung mà thôi. Chỉ chấp nhận giấy tờ có giá không ghi danh và có thể chuyển
giao, cầm cố, thế chấp…và mất nó coi như mất tiền. Giấy tờ có giá với tư cách là một
8


loại tài sản trong giao dịch dân sự, là loại tài sản hữu hình, được xếp vào tài sản đông
sản và nó thể được coi là đối tượng của kiện đòi lại tài sản.

khó xác định tài sản đó thuộc về ai nếu chúng không có dấu hiệu đặc biệt mà chỉ riêng
vật đó mới có. Khi tham gia giao dịch có người thứ ba có thể nhận được tài sản là
động sản không phải đăng kí quyền sở hữu từ những người không có quyền định đoạt
tài sản hoặc từ những người không có quyền định đoạt tài sản mà không biết. Do vậy,
chiếm hữu của người thứ ba trong những trường hợp này là chiếm hữu ngay tình hoặc
không ngay tình.

9


Điều 257 BLDS 2005 quy định:”Chủ sở hữu có quyền đòi lại động sản không
phải đăng ký quyền sở hữu từ người chiếm hữu ngay tình trong trường hợp người
chiếm hữu ngay tình có được động sản này thông qua hợp đồng không có đền bù với
người không có quyền định đoạt tài sản; trong trường hợp hợp đồng này là hợp đồng
có đền bù thì chủ sở hữu có quyền đòi lại động sản nếu động sản đó bị lấy cắp, bị mất
hoặc trường hợp khác bị chiếm hữu ngoài ý chí của chủ sở hữu”.
Có thể nói, quy định này đã điều chỉnh một cách hài hòa quyền lợi của chủ sở
hữu và người chiếm hữu ngay tình. Trong trường hợp do người lấy cắp, lừa đảo…
chiếm giữ hoặc do người chiếm hữu, sử dụng tài sản theo ý chí chủ sở hữu thì việc
chủ sở hữu có quyền đòi lại tài sản là đương nhiên. Tuy nhiên, đối với trường hợp
không có căn cứ pháp luật nhưng ngya tình, ở mức độ nhất định họ vẫn được pháp
luật bảo vệ. Theo đó, chủ sở hữu tài chỉ có thể kiện đòi lại tài sản là động sản không
phải đăng kí quyền sở hữu từ người chiếm hữu ngay tình trong các trường hợp sau:
Một là, tài sản là động sản không phải đăng kí quyền sở hữu rời hỏi chủ sở hữu
theo ý chí, người thứ ban ngay tình có được tài sản này thông qua hợp đồng không có
đền bù với người không có quyền định đoạt với tài sản.
Hợp đồng đền bù là loại hợp đồng mà trong đó mỗi bên chủ thể sau khi đã thực
hiện cho bên kia một lợi ích sẽ nhận từ bên kia một lợi ích tương ứng. Ví dụ như hợp
đồng mua bán tài sản, hợp đồng thuê tài sản, hợp đồng dịch vụ…Hợp đồng không đền
bù là chỉ một bên nhận được lợi ích từ bên kia và không phải thanh toán một lợi ích

ngay tình thông qua hợp đồng có đền bù vẫn phải trả lại tài sản cho chủ sở hữu.
Quy định của Điều 257 BLDS năm 2005 nhằm bảo vệ quyền của chủ sở hữu
trong trường hợp cụ thể, đó là người thứ ba chiếm hữu ngay tình tài sản là động sản
không phải đăng kí quyền sở hữu . Nếu người thứ ba chiếm hữu mà không ngay tình
thì dù họ nhận được tài sản thông qua hợp đồng không đền bù hay có đền bù thì
đương nhiên họ vẫn có quyền kiện đòi lại tài sản. Tuy nhiên, bên cạnh những điểm
tích cực trên, có thể thấy điều luật này vẫn tồn tại nhiều khiếm khuyết, không phù hợp
với thực tiễn khi chỉ cho phép chủ sở hữu có quyền này mà không quy định người
chiếm hữu hợp pháp có quyền này. Bên cạnh đó, điều luật cũng chỉ quy định quyền
đòi lại tài sản từ người thứ ba chiếm hữu ngay tình có được tài sản thông qua hợp
đồng là chưa hoàn thiện, bởi hợp đồng dân sự chỉ là một giao dịch dân sự. Do đó, cần
có sự sửa đổi, bổ sung.
3.2.

Kiện đòi tài sản là động sản phải đăng kí quyền sở hữu
và bất động sản.

Động sản phải đăng kí quyền sở hữu là các tài sản là động sản Nhà nước quy
định phải đăng kí quyền sở hữu. Các tài sản này thường là các tài sản có ảnh hưởng
đến trật tự an toàn xã hội; hoặc những tài sản hạn chế chủ thể có quyền sở hữu; hoặc
những tài sản mà việc đảm bảo quyền sở hữu sẽ gặp nhiều khó khăn nếu không thực
hiện việc đăng kí quyền sở hữu.
Bất động sản được hiểu là các tài sản không thể di rời được trong không gian
hoặc khi tách ra không còn công dụng tổng thể của tài sản nữa.
Như vậy, khác với tài sản là động sản không phải đăng kí quyền sở hữu, đối
với tài sản là động sản phải đăng kí quyền sở hữu, bất động sản, việc xác định ai là
chủ sở hữu tương đối dễ. Chính vì vậy, khi tham gia vào giao dịch dân sự có tính chất
là chuyển dịch tài sản mà tài sản là động sản phải đăng kí quyền sở hữu hoặc bất động
sản thì người nhận chuyển dịch phải kiểm tra người chuyển dịch cho mình có phải là
người chủ sở hữu với tài sản đó không. Ngoài ra, khi giao dịch hoàn tất, người nhận

gia giao dịch, buộc họ phải thận trọng hơn khi xác lập giao dịch dân sự. Khi chủ sở
hữu dịch chuyển tài sản cho người khác thì giữa chủ sở hữu và người thứ hai có một
gia dịch nên chủ sở hữu cần phải đề phòng trường hợp người chuyển giao tài sản
không trả lại tài sản, do đó, phải áp dụng các biện pháp đảm bảo mà pháp luật cho
phép nhằm hạn chế hành vi của người được chuyển giao tài sản.
Mặt khác, người thứ ba chiếm hữu ngay tình được xác lập quyền sở hữu đối
với tài sản, đồng nghĩa với việc chủ sở hữu không được kiện đòi lại tài sản nữa.
4.2.Tài sản là động sản phải đăng kí quyền sở hữu hoặc bất động sản mà người
chiếm hữu ngay tình thông qua bán đấu giá hoặc giao dịch với người mà theo bản
án, quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền là chủ sở hữu tài sản nhưng
sau đó người này không phải là chủ sở hữu theo bản án, quyết định bị sửa, hủy.
Thứ nhất, người thứ ba chiếm hữu ngay tình nhận được tài sản thông qua bán
đấu giá.
Bán đấu giá là hình thức bán tài sản công khai theo phương thức trả giá lên, có
từ hai người trở lên tham gia đấu giá theo nguyên tắc, trình tự, thủ tục được quy định
tại Nghị định 71/2010/ NĐ-CP của chính phủ ngày 4/3/2010 về bán đấu giá tài sản và
Thông tư 23/2010/TT-BTP ngày 6/12/2010 quy định chi tiết về hướng dẫn thi hành
Nghị định 71/2010/ NĐ-CP. Người thứ ba chiếm hữu ngay tình nhận được tài sản
12


thông qua đấu giá là người đã mua được tài sản từ một cuộc bán đấu giá do các tổ
chức bán đấu giá tiến hành mà không biết hoặc không thể biết được về nguồn gốc,
tình trạng pháp lý của tài sản bán đấu giá. Chủ sở hữu không được kiện đòi lại tài sản.
Do đó, pháp luật cũng quy định người thứ ba chiếm hữu ngay tình nhận được
tài sản thông qua bán đấu giá “được cơ quan có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận
quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản bán đấu giá”. ( điểm c Khoản 2 Điều 6, NĐ
71/2010/ NĐ-CP). Đây là cơ sở pháp lý quan trọng tạo điều kiện cho người thứ ba tiến
hành thủ tục đăng kí.
Thứ hai, người thứ ba chiếm hữu ngay tình nhận được tài sản thông giao dịch



-

-

Việc xác lập quyền sở hữu theo thời hiệu chỉ áp dụng với trường hợp chiếm
hữu, được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật, tức là chiếm hữu tài sản
không phù hợp với quy định tại Điều 183 BKDS năm 2005.
Việc chiếm hữu phải ngay tình, tức là người chiếm hữu không biết hoặc không
thể biết việc chiếm hữu đó là không có căn cứ pháp luật.
Việc chiến hữu tài sản phải liên tục. Nó được tính trong cả trường hợp người
chiếm hữu chuyển giao cho người khác sử dụng như cho mượn, thuê…
Về thời gian, việc chiếm hữu với các đặc điểm nêu trên phải được thực hiện
trong khoảng thời gian là mười năm kể từ thời điểm bắt đầu chiếm hữu đối với
tài sản là động sản và ba mươi năm đối với tài sản là bất động sản.

Đây là biện pháp bảo vệ người thứ ba ngay tình mạnh nhất, hiệu quả nhất. Quy
định này góp phần ổn định các quan hệ xã hội, buộc các chủ thể tự bảo vệ tài sản của
mình.
5. Thời hiệu kiện đòi lại tài sản.
Theo quy định tại Khoản 3 Điều 155 BLDS năm 2005:[…] “Thời hiệu khởi
kiện à thời hạn mà chủ thể được quyền khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án
dân sự bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp xâm hại,; nếu thời gian đó kết thúc thì mất
quyền khởi kiện”[…]
Tuy nhiên, BLDS không có quy định riêng về thời hiệu khởi kiện kiện đòi lại
tài sản mà nó được áp dụng theo quy định tại BLTTDS. Theo đó, Điềm 3 Khoản 22
Điều 1 Luật sửa đổi bổ sung một số điều của BLTTDS 2011 quy định:
Theo quy định trên thì kiện đòi lại tài sản là trường hợp không áp dụng kiện đòi
lại tài sản.

sản cho chủ sở hữu.
Khoản 3 Điều 302 quy định, đối với tiền và giấy tờ có giá người cầm giữ
không được yêu cầu nguời chiêm hữu ngay tình trả lại.
Qua nội dung của hai điều luật trên cho thấy những điểm tương đồng và khác
biêt giữa hai bộ luật dân sư của Việt Nam và Liên bang Nga như sau: Về nguyên tắc
luật bảo vệ quyền của người chủ sở hữu khi vật bị người khác chiếm hữu không có
căn cứ pháp luật không ngay tình và bảo vệ lợi ích của người ngay tình có tài sản
thông qua giao dịch có đền bù thì được quyền sở hữu đối với tài sản.
Điểm khác nhau giữa hai bộ luật này là: Bộ luật dân sự Liên Bang Nga không
phân biệt việc đòi lại tài sản phải đăng ký quyền sở hữu và tài sản không phải đăng ký
quyền sở hữu. Vì vậy theo tinh thần của Điều 302 BLDS Liên bang Nga, thì người
ngay tình thông qua giao dịch có đền bù, không phải trả lại tài sản trong tất cả các
trường hợp. Qui định như vậy là phù hợp với thực tế, vì người ngay tình không có lỗi
trong việc chiếm hữu tài sản, cho nên cần phải bảo vệ lợi ích hợp pháp của họ. Nếu tài
sản phải đăng ký quyền sở hữu mà việc chuyển giao có giấy tờ do cơ quan nhà nước
cấp đúng thẩm quyền thì người ngay tình cũng cần được bảo hộ.
Ngoài ra, khoản 3 Điều 302 BLDS Liên bang Nga quy định về chiếm hữu ngay
tình đối với tiền hoặc giấy tờ có giá thì người ngay tình không phải lại cho người có
các giấy tờ đó và không phân biệt về nguyên nhân, nguồn gốc chiếm hữu ngay tình.
Đây là một quy định riêng đối với tài sản là tiền và giấy tờ có giá, trên thực tế người
chiếm hữu ngay tình không thể biết được nguồn gốc hợp pháp của tiền và giấy tờ có
giá, cho nên để đảm bảo cho các giao lưu dân sự phát triển ổn định, pháp luật công
nhận quyền sở hữu của người ngay tình.
6.2.

Trong Bộ luật dân sự của Cộng hoà Pháp.

Phương thức bảo vệ quyền sở hữu được qui định tại Thiên thứ hai mươi - Thời
hiệu và chiếm hữu. Cụ thể trong các điều luật sau:
15

hiệu thì chủ sở hữu chỉ có thể lấy lại tài sản bằng phương thức mua lại tài sản đó. Quy
định này phù hợp với thực tế, bởi lẽ người mua qua đấu giá, hoặc trong hội chợ thì
không buộc phải biết nguồn gốc tài sản có hợp pháp hay không, vì đó là cuộc mua bán
công khai nơi công cộng mà ai cũng có thể mua và bán, vì thế để đảm bảo cho các
giao lưu dân sự thông thoáng, ổn định, thì cần phải bảo vệ người mua ngay tình.
Bảo vệ quyền sở hữu là trách nhiệm của các nhà nước đối với công dân và các
tổ chức, tuy nhiên mỗi quốc gia có phương thức bảo vệ riêng. Mỗi phương thức đó
đều tồn tại điểm manh và yếu và nếu kết hợp được các phương thức trên thì quyền sở
hữu sẽ được bảo vệ tốt nhất.
III.

THỰC TRẠNG ÁP DỤN VÀ PHƯƠNG HƯỚNG HOÀN
THIỆN KIỆN PHÁP LUẬT VỀ ĐÒI LẠI TÀI SẢN.
1. Thực trạng áp dụng pháp luật và một số hạn chế còn tồn tại.
16


Tranh chấp về quyền sở hữu luôn là vấn đề phức tạp trong quá trình giải quyết
của Tòa án. Theo báo cáo tổng kết của ngành Tòa án thì trong những năm gần đây
ngành Tòa án đã thụ lý và xét xử một số lượng khá lớn các tranh chấp về quyền sở
hữu, trong đó các vụ án về kiện đòi lại tài sản chiếm một số lượng không nhỏ và phức
tạp về tính chất. Cụ thể là:
Thứ nhất, theo Điều 258 BLDS quy định, đối với trường hợp tài sản là động
sản phải đăng kí quyến sở hữu thì chỉ có chủ sở hữu mới có quyền kiện đòi lại tài sản,
người chiếm hữu hợp pháp không có quyền này. Đây là một trong những khiếm
khuyết cần được sửa đổi, bổ sung.
Thứ hai, trong trường hợp cho mượn, thuê tài sản, nhiều người đã lợi dụng kẽ
hở của pháp luật về thừa kế, đã dùng tài sản thuê, mượn đó để làm di sản thừa kế cho
người khác. Trong trường này, pháp luật không bảo vệ được quyền lợi chính đáng của
chủ sở hữu. Cũng chính điều này khiến nhiều người lợi dụng lòng tin của người khác

nhận hối lộ để làm sai lệch hồ sơ vụ án.
Thứ năm, trình độ hiểu biết pháp luật của người dân còn kém, chưa đồng đều,
một bộ phận người dân chịu ảnh hưởng tiêu cực của nền kinh tế thị trường đã có
những hành vi trái pháp luật, chiếm đoạt tài sản, lấn chiếm đất đai…của người khác.
3. Phương hướng hoàn thiện các quy định của pháp luật về kiện
đòi lại tài sản.
Thứ nhất, về Điều 257, Điều 258 BLDS năm 2005:
-

-

Đảm bảo tính thống nhất giữa Điều 257, 258 về quyền đòi lại tài sản bởi Điều
256 dành quyền đòi lại tài sản từ người chiếm hữu, người sử dụng tài sản,
người được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật cho cả người chủ sở hữu
hoặc người chiếm hữu hợp pháp.
Cho phép người chiếm hữu hợp pháp có thể khởi kiện đòi lại tài sản nhằm đảm
bảo quyền lợi cho người chiếm hữu hợp pháp.
Thừa nhận người chiếm hữu hợp pháp có quyền khởi kiện đòi lại tài sản nhằm
bảo vệ lợi ích cho chủ sở hữu.

Hai là, về quyền đòi lại tài sản là động sản không phải đăng kí quyền sở hữu từ
người chiếm hữu ngay tình theo Điều 257 BLDS 2005: Để bao quát hết các trường
hợp nên dùng cụm “ thông qua giao dịch” thay cho cụm “thông qua hợp đồng”
Ba là, về xác lập quyền sở hữu theo thời hiệu: cần giải thích rõ cụm từ “ người
được lợi về tài sản”
Bốn là, tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến giáo dục các quy định pháp
luật về quyền sở hữu đến người dân để bảo vệ quyền sở hữu của chính mình và tôn
trọng quyền sở hữu của người khác.
Năm là, nâng cao chất lượng xét xử , giải quyết của tòa án. Theo đó phải tăng
cường công tác đào tạo chuyên môn hóa cho đội ngũ Thẩm phán, cán bộ Tòa án…

5. Internet:
• http://thongtinphapluatdansu.edu.vn/2008/01/03/2144-4/
• http://daitudien.net/luat-hoc/luat-hoc-ve-kien-doi-lai-tai-san.html
• http://luathoc.cafeluat.com/showthread.php/66991-Kien-doi-lai-tai-san-la-dongsan-khong-phai-dang-ky-quyen-so-huu-tu-nguoi-chiem-huu-ngay-tinh

20


MỤC LỤC

21




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status