MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU
Quyền nhân thân là một trong những quyền dân sự có ý nghĩa vô cùng quan
trọng được pháp luật của các quốc gia trên thế giới ghi nhận và bảo vệ. Kể cả trong
công ước quốc tế là những văn bản pháp lý cấp cao nhất cũng đã đề cập tới vấn đề
quyền nhân thân của con người như tại công ước quốc tế về các quyền dân sự và
chính trị năm 1966 hay tại bộ luật nhân quyền thế giới…Cùng với các văn bản
pháp luật khác, Bộ luật dân sự ( BLDS ) của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt
Nam đã ghi nhận và có những cơ chế để bảo vệ quyền nhân thân của chủ thể. Cùng
với quá trình lịch sử lập pháp của nhà nước ta, nhất là trong thời kỳ hội nhập kinh
tế thế giới, luật dân sự ( LDS) luôn có xu hướng là ngày càng hoàn thiện để đáp
ứng kịp thời nhu cầu xã hội. Và quyền nhân thân cũng được hoàn thiện ngày càng
phù hợp hơn trong xu hướng đó của LDS. BLDS 2005 sửa đổi bổ sung nhiều quy
định về quyền nhân thân. Đây là cơ sở pháp lý quan trọng thứ hai sau Hiến pháp để
ghi nhận và bảo vệ quyền nhân thân. Điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế và kinh tế
xã hội của nước ta ngày càng phát triển, các quyền của con người và quyền nhân
thân của con người được coi trọng hơn bao giờ hết. Quyền nhân thân nhìn cả dưới
góc độ lý luận và thực tiễn đều là vấn đề hết sức quan trọng, là cơ sở lý luận xây
dựng và hoàn thiện những quy định về quyền nhân thân. Song cùng với sự hoàn
thiện về quyền nhân thân trên cơ sở lý luận là vấn đề thực tiễn áp dụng và thực
hiện quyền nhân thân ra sao. Do vậy việc nghiên cứu quyền nhân thân theo quy
định của BLDS với những vấn đề lý luận và thực tiễn góp phần quan trọng để mỗi
công dân thực hiện nghiêm túc các quyền nhân thân mà pháp luật quy định nhằm
hoàn thiện và phát huy hết khả năng bản thân, đồng thời là những kinh ngiệm thực
tiễn áp dụng giải quyết các vấn đề có liên quan tới quyền nhân thân ở nước ta hiện
nay.
1
NỘI DUNG
2
dành cho họ một số quyền không thể bị tước đoạt. Trong các quyền đó có quyền
sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc.” Dù là quyền con người hay
quyền con người cơ bản thì đều là những khái niệm thể hiện xu hướng, yêu cầu,
thể hiện năng lực, khả năng và ý chí. Và một trong những đặc trưng rất quan trọng
của quyền con người đó được đảm bảo bởi Nhà nước và pháp luật. Nhà nước và
pháp luật là công cụ và phương tiện bảo vệ quyền con người. Thông qua việc ban
hành các quy định pháp luật Nhà nước quy định các quyền của công dân trong đó
có quyền nhân thân. Quyền công dân tạo lên địa vị pháp lý của công dân trong xã
hội, thể hiện mối quan hệ về mặt pháp lý giữa một cá nhân và một quốc gia. Mối
liên hệ này sẽ ràng buộc hành vi của công dân vào hệ thống pháp luật quốc gia đầu
tiên là Hiến pháp và các văn bản pháp luật khác trong đó đặc biệt là BLDS.
1.2 Cơ sở pháp lý
1.2.1 Hiến pháp
Hiến pháp là đạo luật cơ bản, đạo luật gốc của một quốc gia, là cơ sở hình
thành hệ thống pháp luật và xây dựng các văn bản pháp luật khác. Căn cứ vào quy
định của Hiến pháp các ngành luật cụ thể hóa bằng các quy định để tác động tới
các quan hệ mà nó có nhiệm vụ điều chỉnh.
Đối với LDS nói chung và các quy đinh về quyền nhân thân trong BLDS,
Hiến pháp quy định một các rất khái quát về quyền nhân thân. Hiến pháp năm
1992 quy định những nguyên tắc cơ bản của chế độ xã hội chủ nghĩa Việt Nam ở
giai đoạn đầu thời quá độ tiến lên chủ nghĩa xã hội. Trong Hiến pháp năm 1992,
quy định rất nhiều những vấn đề của đất nước, của hệ thống pháp luật và của cả hệ
thống chính trị… Trong đó có chương II và chương V có nhiều quy định liên quan
tới LDS. Đặc biệt trong chương V quy định về quyền và nghĩa vụ cơ bản của công
dân. Ngoài những quyền về chính trị xã hội là một loại các quyền công dân được
Hiến pháp ghi nhận như: quyền bình đẳng về năng lực pháp luật dân sự của cá
nhân, các quyền nhân thân và quyền tài sản….
liên quan đến nhân thân của con người lại ảnh hưởng trực tiếp đến việc hưởng
quyền dân sự của họ.
Điều 24 BLDS đã đưa ra những quy định chung nhất về quyền nhân thân, qua
quy định này chúng ta có thể định nghĩa về quyền nhân thân như sau:
- Theo nghĩa khách quan, Quyền nhân thân được hiểu là tổng hợp các quy
phạm pháp luật do Nhà nước ban hành, trong đó có nội dung quy định rõ
cho các cá nhân có các quyền nhân thân gắn liền với bản thân mình và đây là
cơ sở để cá nhân thực hiện quyền của mình.
- Theo nghĩa chủ quan, Quyền nhân thân là quyền dân sự chủ quan gắn liền
với cá nhân do Nhà nước quy định cho mỗi cá nhân và cá nhân không thể
chuyển giao quyền này cho người khác trừ trường hợp pháp luật có quy định
khác.
4
Qua định nghĩa quyền nhân thân chúng ta có thể thấy được đặc điểm của
quyền nhân thân như sau:
-
Quyền nhân thân là một quyền dân sự do luật định.
Quyền nhân thân là một quyền dân sự đặc biệt được pháp luật bảo vệ.
Mọi cá nhân đều có sự bình đẳng về quyền nhân thân.
Quyền nhân thân có tính chất phi tài sản.
Quyền nhân thân luôn gắn liền với cá nhân, không thể chuyển giao cho chủ thể
khác.
2.2 Một số đặc trưng cơ bản của quyền nhân thân
2.2.1 Quyền nhân thân gắn liền với chủ thể và nguyên tắc là không thể
dịch chuyển cho chủ thể khác
Quyền nhân thân trở thành một thuộc tính của chủ thể mà không bị phụ
2.2.3 Hành vi xâm hại quyền nhân thân không nhất thiết phải gây ra thiệt hại
Đối mỗi hành vi bị coi là xâm phạm tới quyền nhân thân thì có thể gây ra thiệt
hại hoặc không gây ra thiệt hại. Điều đó có nghĩa là thiệt hại không phải là căn cứ
bắt buộc để xác định trách nhiệm pháp lý đối với hành vi xâm hại. Trên thực tế,
ngay cả trong trường hợp bị xâm phạm quyền nhân thân không những là không
gây thiệt hại gì cho người bị xâm hại mà thậm chí là còn có lợi cho họ. Nhưng về
nguyên tắc, nếu không có sự đồng ý của cá nhân thì coi là vi phạm.
2.2.4 Thiệt hại về quyền nhân thân không có tiêu chí để định lượng
Trong các quyền nhân thân, quyền nhân thân liên quan tới đời sống tinh thần
của cá nhân luôn chiếm một số lượng lớn. Đó chính là những quyền liên quan tới
đời sống tinh thần của con người, là quyền của cá nhân phát sinh trong sinh hoạt
nội tâm của con người.Do vây, đối với mỗi cá nhân thì giá trị đó không có chuẩn
mức chung để cụ thể nó thành giá trị. Vì thế, thiệt hại do hành vi xâm phạm quyền
nhân thân không được cân, đo, đong, đếm bằng những đại lượng cụ thể. Đặc trưng
này không loại trừ nghĩa vụ bồi thường thiệt hại khi hành vi xâm hại tới quyền
nhân thân.
3. Quá trình phát triển của pháp luật Việt Nam về các quyền nhân thân
Việc hình thành và phát triển của quyền nhân thân luôn xuất phát từ cơ sở của
nó. Và cơ sở pháp lý là điều cốt lõi. Ở nước ta thì Hiến pháp là cơ sở đầu tiên và
quan trọng cho việc hình thành và phát triển của các quyền nhân thân thông qua sự
cụ thể hóa trong LDS. Do vậy quyền nhân thân cũng có sự phát triển gắn liền với
sự ra đời và phát triển của các bản Hiến pháp.
Ở nước ta, quyền nhân thân của cá nhân cũng có những bước phát triển nhất
định. Dưới thời Pháp thuộc, các quyền dân sự nói chung và quyền nhân thân nói
riêng được thực dân Pháp quy định nhằm bảo vệ lợi ích của giai cấp thống trị trong
xã hội.
- Giai đoạn 1945 – 1959
Quyền nhân thân được thể hiện trong Hiến pháp 1946.
6
của cá nhân được quy định trong Hiến pháp 1980 không có tính khả thi và không
thể thực hiện được nó trong thực tiễn lúc bấy giờ như tại Điều 60, Điều 61… Theo
đó thì Nhà nước đảm bảo thực hiện chế độ học không phải trả tiền hay chế độ
7
khám bệnh và chữa bệnh không phải trả tiền lúc bấy giờ thì hoàn toàn là không thể
và tới bây giờ ở nước ta cũng là chưa thể.
- Giai đoạn 1992 – nay
BLDS 1995 ra đời đã đề cập tới các quyền nhân thân một cách đa dạng, bao
gồm các quy định từ Điều 26 đến Điều 47. Có thể nói lần đầu tiên một văn bản
pháp lý có hiệu lực cao nhất trong lĩnh vực dân sự đã ghi nhận các quyền nhân thân
của chủ thể cũng như các phương thức để bảo vệ quyền nhân thân. Đây chính là cơ
sở pháp lý và là nền tảng để các cá nhân thực hiện quyền nhân thân của mình.
Qua gần 10 năm áp dụng vào thực tiễn để bảo vệ và lợi ích hợp pháp cho các
chủ thể khi thực hiện quyền của mình nói chung, quyền nhân thân nói riêng. BLDS
1995 ra đời là một nhu cầu thiết yếu nhưng cũng đã bộc lộ một khiếm khuyết nhất
định cần phải sửa đổi bổ sung. BLDS2005 ra đời đã sửa đổi bổ sung một số quy
định của BLDS 1995, trong đó có các quy định về quyền nhân thân. So với BLDS
1995, khi quy định về quyền nhân thân, BLDS 2005 quy định quyền được khai
sinh, quyền được khai tử là quyền nhân thân của cá nhân. Ngoài ra, BLDS 2005
lần đầu tiên đưa vào một số quyền nhân thân liên quan tới đạo đức sinh học đó là
các quyền: quyền hiến bộ phận cơ thể (Điều 33), quyền hiến xác, bộ phận cơ thể
sau khi chết( Điều 34), Quyền nhận bộ phận cơ thể( Điều 35), quyền xác định lại
giới tính( Điều 36)…
Ngoài việc thêm mới một số quyền nhân thân, hầu hết các quyền nhân thân
được quy định trong BLDS1995 được kế thừa có chọn lọc và sửa đổi bổ sung cho
phù hợp như quyền thay đổi họ tên (Điều 27), quyền xác định dân tộc( Điều 28),
Điều 31, Điều 32, Điều 37, Điều 38…
việc kết hôn tùy tiện. Quyền bình đẳng giữa vợ và chồng Điều 40 BLDS quy định”
vợ, chồng bình đẳng với nhau, có quyền, nghĩa vụ ngang nhau về mội mặt trong
gia đình, và trong quan hệ dân sự, cùng nhau xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng,
tiến bộ, hạnh phúc bền vững”. Thực chất đây là quyền cũng đồng thời là nghĩa vụ
của chồng. Vợ chồng cùng nhau thực hiện các quyền này cũng đồng thời chung tay
cùng với cộng đồng xây dựng một xã hội phồn vinh. Bởi khi thực hiện các quyền
này thì sẽ xây dựng một gia đình tốt. Gia đình là tế bào của xã hội, gia đình tốt thì
xã hội mới tốt được. Điều 42 quy định về ly hôn, quyền này được đặt trong mối
quan hệ hôn nhân gia đình là quyền nhân thân gắn với vợ chồng. Sự bình đẳng của
quyền ly hôn thể hiện trong việc cả hai vợ chồng, hoặc vợ, hoặc chồng có quyền
yêu cầu Tòa án giải quyết việc ly hôn. Xét về hậu quả của ly hôn là không thể
lường trước được, do vậy để sự tự do ly hôn thực sự là sự giải thoát cho vợ chồng,
sự bần cùng mới cần sử dụng tới, Luật hôn nhân gia đình cũng đã quy định những
vấn đề cần thiết liên quan tới việc ly hôn.
Đối với những quyền nhân thân liên quan tới mối quan hệ giữa cha,mẹ và các
thành viên khác trong gia đình như tại Điều 41, Điều43, Điều 44. Cụ thể hóa các
9
điều luật này đã được Luật hôn nhân gia đình Việt Nam thực hiện và bảo đảm thực
hiện nó trên thực tế một các chi tiết và đồng bộ. Đối với quyền nhận, không nhận
cha mẹ con theo Điều 43 và Điều 41 BLDS. Theo đó,người con có quyền được xác
định cha mẹ và được cha mẹ mình chăm sóc và bảo vệ. Đây là một quyền nhân
thân đặc biệt và quan trọng trong các quyền cơ bản đối với trẻ em. Một khi trẻ em
được sinh ra mà không được cha mẹ, hoặc cha, hoặc mẹ không thừa nhận thì trẻ
em đó có thể bảo vệ quyền của mình bằng các phương thức khác nhau theo Điều
43 đã quy định. Trong thực tế, nhóm quyền đặc biệt này của người con luôn bị
xâm hại, không đảm bảo được quyền của trẻ em nói chung và quyền của người con
nói riêng. Việc này cho dù là có những chế tài hay không thì nhóm quyền nhân
thân này đôi lúc là rất khó đảm bảo. Hoặc khi đã thực hiện quyền đó rồi thì xác
mà BLDS đã ghi nhận thì quyền nhân thân thuộc nhóm quyền này thể hiện rõ nhất
đặc trưng của LDS. Việc phân biệt cá nhân này với cá nhân khác và phân biệt cá
nhân với những chủ thể của quan hệ pháp luật không những có ý nghĩa trong việc
xác định quyền và nghĩa vụ của chủ thể mà còn có ý nghĩa trong việc xác định
trách nhiệm pháp lý của chủ thể khi tham gia quan hệ pháp luật nói chung và quan
hệ pháp luật dân sự nói riêng. Những quyền nhân thân liên quan tới sự cá biệt hóa
cá nhân là những quyền năng cơ bản và thể hiện rõ sự cá biệt gắn liền với chủ thể
và không thể chuyển giao cho người khác.
Mỗi người sinh ra đều có một tên gọi của mình do cha mẹ hoặc ai đó đăt cho
để phân biệt cá nhân này với cá nhân khác.Trên thực tế thì quyền này mặc nhiên là
có để mỗi chúng ta có thể phân biệt nhau.Điều 26 và Điều 27 quy định quyền đối
với họ tên và quyền thay đổi họ tên. Đây là là quyền dân sự cơ bản gắn liền với
nhân thân của mỗi cá nhân. Việc xác lập họ tên là rất quan trọng và gắn liền với
chủ thể đó tới suốt đời. Mặc dù mỗi cá nhân có thể có nhiều tên gọi khác nhau
như :bí danh, tên thường gọi,biệt danh, tên khai sinh…. Họ tên không chỉ đơn
thuần là yếu tố về mặt nhân thân, mà nó còn là yếu tố pháp lý quan trọng để cá
nhân xác lập thực hiện quyền cũng như nghĩa vụ, trách nhiệm pháp lý nhân danh
chính mình. Do vậy họ tên của một người cần phải được cơ quan nhà nước có thẩm
quyền công nhận bằng việc cấp giấy đăng ký khai sinh cho một người. Và cá nhân
khi tham gia vào quan hệ pháp luật chỉ được công nhận mang một tên riêng để
phân biệt với các chủ thể khác. Đó chính là tên được ghi trong giấy khai sinh.
Quyền đối với họ tên là quyền nhân thân của cá nhân, cá nhân có quyền này kể từ
khi sinh ra. Tuy nhiên việc thực hiện quyền này lại không do chính họ thực hiện
mà lại hoàn toàn phụ thuộc vào người có quyền và trách nhiệm đi khai sinh. Rõ
ràng quyền và lợi ích của cá nhân đã bị phân tán. Trong trường hợp người có
quyền và nghĩa vụ đi khai sinh cho trẻ mà không thực hiện vậy ai sẽ chịu trách
nhiệm, không những thế nếu trẻ chưa được đăng ký khai sinh đã lớn và đã có đầy
đủ năng lực hành vi dân sự thì có thể tự mình đi đăng ký khai sinh được không?
Đây là một câu hỏi mà đã gặp khá nhiều ở nhà nước ta hiện nay và vẫn là một vấn
11
cuộc sống. Để tránh việc sử dụng tùy tiện hình ảnh của cá nhân và đảm bảo cho
quyền nhân thân đó, pháp luật cần quy định rõ những trường hợp nào thì pháp luật
cho phép sử dụng hình ảnh của cá nhân và quy định chặt chẽ về sử dụng hình ảnh
của cá nhân trong những trường hợp cụ thể.
Quyền xác định lại giới tính được BLDS 2005 quy định tại Điều 36. Đây là
quyền nhân thân của cá nhân và là quy định bổ sung cho quy định về quyền nhân
12
thân của BLDS 1995. Như chúng ta đã biết thì chuyển đổi giới tính là vấn đề mới
và rất phức tạp về mặt xã hội, mới chỉ xảy ra một số ít các trường hợp và chưa có
tình phổ biến. Do vậy cần có thời gian để tìm hiểu thực tế và nghiên cứu thêm kinh
nghiệm của các nước trên thề giới. Như vậy, BLDS 2005 quy định việc xác định
lại giới tính của một người chỉ được thực hiện trong trường hợp giưos tính của
người đó bị khuyết tật bẩm sinh hoặc chưa định hình chính xác mà cần có sự can
thiệp của Y học, nhằm xác định rõ về giới tính. Quyền thay đổi giới tính không thể
thực hiện một cách tùy tiện. Quy định này là hoàn toàn phù hợp với tình hình xã
hội và truyền thống đạo đức của xã hội ta hiện nay. Nhưng trong các quy định hiện
hành thì chưa có quy định cụ thể như thế nào đối với trường hợp những người
được chuyển đổi giới tính này ra sao. Đặc biệt là trong trường hợp này liên quan
tới quyền lợi của họ trong lĩnh vực hôn nhân gia đình.
4.3 Nhóm các quyền liên quan tới thân thể của cá nhân
Trong nhóm quyền liên quan tới thân thể của cá nhân bao gồm: quyền được
đảm bảo an toàn về tính mạng, sức khỏe, thân thể ( Điều 32), quyền hiến bộ phận
cơ thể( Điều 33), Quyền hiến xác,nhận bộ phận cơ thể sau khi chết( Điều34),
Quyền nhận bộ phận cơ thể người( Điều 35). Theo đó thì có những quyền thì cá
nhân có thể tự mình thực hiện khi cá nhân đó còn sống, có những quyền lại có mối
quan hệ với nhau như tại Điều 33 và Điều 35 và có những quyền thì chỉ thực hiện
được khi cá nhân đó không còn sống.
Quyền hiến bộ phận cơ thể và quyền hiến xác, bộ phận cơ thể sau khi chết là
của chúng ta quy định cho cá nhân có quyền hiến, nhận bộ phận cơ thể khi còn
sống và quyền hiến xác, bộ phận cơ thể khi chết bên cạnh quyền được đảm bảo an
toàn về tính mạng, sức khỏe, thân thể.Quy định này là bước đột phá và được coi là
cuộc cách mạng trong quan niệm về sự sống, cái chết của con người trong một xã
hội đang phát triển mà trong lòng xã hội đó còn chứa nhiều quan điểm khác nhau
về sự sống và sự chết của cá nhân.
Hiện nay, xuất phát từ sự thay đổi trong nhận thức của mỗi người, số có
người mong muốn hiến mô, bộ phận cơ thể, hiến xác đang ngày càng gia tăng.
Chúng ta đã có rất nhiều tấm gương cao cả tự nguyện hiến cho người khác. Bên
cạnh đó, còn rất nhiều người muốn hiến mô, hiến bộ phận cơ thể của mình mà
không biết hiến ở đâu, hiến bằng cách nào. Ví dụ trường hợp của anh Nguyễn Lê
Minh Anh, sinh năm 1986 quê ở Nha Trang và hiện đang làm nghề bốc vác tại một
cảng ở TPHCM. Trong thư anh gửi cho báo điện tử Vietnamnet ngày 5/7/2006,
anh viết” tôi đã nghe và đọc rất nhiều những thông tin về nỗi khổ của những người
đang phải chạy thận nhân đạo, không biết ở Việt Nam chúng ta đã ghép thận được
hay chưa? Tôi thiết nghĩ có hiến máu nhân đạo thì cũng có chương trình hiến thận
cho những người đã và đang vật nộn tùng ngày từng giờ với căn bệnh đó. Tôi có
ước nguyện được hiến quả thận của mình cho những người đang phải chống chọi
từng ngày với căn bệnh đau khổ đó. Thế nên tôi không biết làm cách nào làm được
với suy nghĩ của tôi”. Đây là một thực tế đã cho thấy sự hoàn thiện quy định của
14
pháp luật chưa tốt và chưa thiết thực để mỗi cá nhân có thể dễ dàng thực hiện được
quyền nhân thân của mình, đặc biệt là những quyền khá nhạy cảm này.
4.4 Nhóm các quyền liên quan tới giá trị tinh thần của chủ thể
Trong nhóm này được LDS quy định bao gồm: quyền được bảo vệ danh dự.
nhân phẩm, uy tín( Điều37); quyền bí mật đời tư( Điều 38), quyền bất khả xâm
phạm về chỗ ở( Điều 46); quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo( Điều 47);quyền tự do
đi lại, tự do cư trú( Điều 48); quyền lao động (Điều 49); quyền tự do kinh
tăng lên đáng kể đặc biệt là số vụ được giải quyết theo thủ tục tố tụng tại tòa án.
Mặc dù những vụ việc này chủ yếu được giải quyết tại một số thành phố lớn như
Hà Nội, TPHCM liên quan tới cá nhân, tổ chức hoạt động văn hóa nghệ thuật. Tuy
nhiên điều này chứng tỏ mức độ nhận thức cao hơn của cá nhân, tổ chức về quyền
được bảo vệ danh dự, nhân phẩm,uy tín. Khị quyền này bị xâm hại, gây ra những
hậu quả nghiêm trọng cho sự tồn tại và phát triển của bên bị xâm hại. Chính vì vậy,
cần phải hoàn thiện các quy đinh pháp luật liên quan tới quyền được bảo vệ danh
dự, nhân phẩm, uy tín.
Quyền tự do đi lại( Điều48), quyền lao động( Điều 49), quyền tự do kinh
doanh( Điều 50), quyền tự do sáng tạo, nghiên cứu( Điều 51). Đây là những quyền
nhân thân của cá nhận, trực tiếp tạo cơ hội và điều kiện cho các cá nhân phát huy
khả năng vốn có của mình. Đặc biệt trong thời kỳ hội nhập kinh tế như hiện nay thì
việc quy định những quyền nhân thân này có ý nghĩa hơn bao giờ hết.Thực hiện
các quyền nhân thân và hoàn thiện nó là yêu cầu được đặt ra cho hệ thống pháp
luật của chúng ta. Hoàn thiện và tạo cơ hôi cho cá nhân thực hiện nó chính là cơ
hội tạo ra những hạt nhân và nhân tố quan trọng cho sự tồn tại và phát triển bền
vững của đất nước trong thời kỳ này.
4.5 Nhóm các quyền nhân thân đối với các đối tượng của quyền sở hữu trí tuệ
Bao gồm: quyền đặt tên cho tác phẩm, quyền tác giả, quyền liên quan tới
quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp, quyền đối với giống cây trồng.
Xuất phát từ các giá trị tinh thần ban đầu, các chủ thể sẽ được hưởng các lợi
ích vật chất từ việc chuyển quyền đối với kết quả hoạt động sáng tạo.Đối với kết
quả của hoạt động sáng tạo tinh thần đã được luật sở hữu trí tuệ quy định và bảo vệ
khá toàn diện. Khi chuyển giao các đối tượng này thì người nhận chuyển giao có
thể thanh toán một lợi ích vật chất cho người chuyển giao.Tuy nhiên giá trị tinh
thần trong các quyền nhân thân thì không thể chuyển giao trong giao lưu dân
sự.Việc buộc chủ thể xâm phạm quyền nhân thân phải bồi thường thiệt hại chỉ
nhằm bù đắp phần nào tổn thất tinh thần đã xảy ra cho người bị thiệt hại.
Qua việc tìm hiểu và phân tích những nội dung cơ bản của quyền nhân thân
theo quy định của LDS thì việc thực tiễn thực hiện quyền nhân thân cũng được đề
thơ. Công ty Biti’s liên tục sử dụng những bức hình của bé mà không có sự đồng ý
của bé và gia đình bé. Những hình ảnh đó thường xuyên xuất hiện trên bìa lịch,
pano, áp phích, tạp quảng cáo. Sự việc lên đỉnh điểm khi những bức ảnh của bé
Minh Khôi được in trên nhãn mác các sản phẩm của công ty và những bức hình bị
xé ngang xé dọc, vứt vương vãi khắp những cửa hiệu của công ty Biti’s.Đền đầu
năm 2004, gia đình bé Minh Khôi khởi kiện công ty Biti’s vì hành vi sử dụng hình
ảnh của bé một cách tùy tiện vào mục đích quảng cáo của công ty và vi phạm
nghiêm trọng quyền nhân thân của cá nhân bé Minh Khôi. Gia đình yêu cầu công
ty phải bồi thường thiệt hại là 154 triệu đồng, đồng thời công ty phải xin lỗi công
khai gia đình bé trên các phương tiện thông tin đại chúng và chấm dứt việc sử dụng
17
hình ảnh của bé để quảng cáo. Đơn kiện của gia đình bé đã được TAND quận 6
TPHCM thụ lý giải quyết. TAND quận 6 TPHCM ra quyết định buộc Công ty
Biti’s phải xin lỗi công khai gia đình bé Minh khôi, chấm dứt vô điều kiện việc sử
dụng trái phép ảnh của bé, bồi thường thiệt hại cho bé và gia đình gần 3 triệu đồng.
Cách giải quyết của tòa án: về cơ bản, cách giải quyết của tòa án là hợp
lý.Theo quy định của pháp luật thì chưa có quy định cụ thể như thế nào là đồng ý
của cá nhân có hình ảnh.Do vậy, khẳng định là công ty Biti’s vi phạm Điều 31
quyền của cá nhân đối với hình ảnh là chưa có cơ sở pháp lý rõ ràng.Và quy định
quyền của cá nhân đối với hình ảnh không có trường hợp quy định trong trường
hợp nào thì được sử dụng hình ảnh cá nhân.Vậy nên, việc công ty Biti’s sử dụng
liều hình ảnh của bé vào mục đích thương mại nhằm quảng bá hình ảnh cho
thương hiệu của mình là điều khó tránh khỏi.Nhưng theo cách hiểu thông thường
thì tòa án xác định là công y Biti’s đã có hành vi xâm hại quyền của hình ảnh của
bé Minh khôi( theo quy định tại điều31 BLDS) là hợp tình.Tòa án ra quyết định
yêu cầu công ty Biti’s phải công khai xin lỗi gia đình bé Minh khôi, chấm dứt vô
điều kiện việc sử dụng trái phép hình ảnh của bé và bồi thường thiệt hại cho bé và
gia đình là việc bảo vệ quyền nhân thân theo biện pháp dân sự là hoàn toàn hợp lý
Hoàn thiện hệ thống pháp luật dân sự nói chung , hoàn thiện các quy định của
pháp luật về quyền nhân thân nói riêng là một trong những nội dung luôn được
Đảng và Nhà nước ta quan tâm.BLDS 2005 ra đời là một bước phát triển khá mạnh
mẽ trong các quy định về quyền nhân thân. Tuy nhiên chúng ta càng tự hào thì
chúng ta sẽ càng lạc hậu với chính xã hội và với các nước khác trên thế giới. Để
luôn kịp đáp ứng những nhu cầu và xã hội ngày càng phát triển như hiện nay thì
những quy định về quyền nhân thân cần được hoàn thiện trên một số phương diện
sau: Thứ nhất, các quy định về quyền nhân thân trong BLDS luôn xuất phát từ
mục tiêu vì lợi ích của con người, coi con người là trung tâm. Thứ hai, hoàn thiện
quy định của pháp luật về quyền nhân thân cần tính đến một số quan hệ mới phát
sinh như vấn đề về quyền được chết, vấn đề mang thai hộ, vấn đề chuyển đổi giới
tính… mà một số các quốc gia trên thế giới đã đề cập tới.Thứ ba, hoàn thiện các
quy định về quyền nhân thân phải luôn đặt trong mối quan hệ tổng thể với hệ thống
pháp luật nói chung, các quy định pháp luật chuyên nghành nói riêng để đảm bảo
hệ thống pháp luật thống nhất và hài hòa.Thứ tư, trong việc hoàn thiện về quyền
nhân cần chú ý sửa đổi những quy định của BLDS hiện hành về nội dung của một
số quyền nhân thân như, bổ sung quy định về quyền cá nhân đối với hình ảnh, dân
tộc, quốc tịch… cho phù hợp hơn với điều kiện kinh tế, chính trị hiện đại; cần quy
định rõ hơn về các phương thức bảo vệ quyền nhân thân một cách cụ thể, cần làm
rõ một số khái niệm quy định thế nào là bí mật đời tư, thế nào là danh dự, nhân
phẩm, uy tín… Bởi trong thời gian qua. Tòa án đã tỏ ra khá lúng túng khi gặp phải
những vụ kiện liên quan tới vấn đề đó.Tóm lại hoàn thiện các quy định của pháp
luật về quyền nhân thân là một trong những nội dumg quan trọng cần được chú ý.
19
Đây cũng là mục tiêu mà việc nghiên cứu về một số vấn đề lý luận và thực tiễn về
quyền nhân thân theo quy định của BLDS hướng tới.
KẾT THÚC VẤN ĐỀ
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Luật dân sự Việt Nam, Tập I,
Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, 2009.
2. TS. Lê Đình Nghị, Giáo trình Luật dân sự Việt Nam, Tập I, Nxb Giáo dục,
Hà Nội, 2009.
3. Bộ luật dân sự Việt Nam năm 2005
4. Những quy định mới, những điểm mới được bổ sung về quyền nhân thân
trong Bộ luật dân sự năm 2005 / Ngô Quang Liễn
5. Quyền nhân thân của cá nhân và bảo vệ quyền nhân thân theo pháp luật
dân sự / Lê Đình Nghị - Hà Nội, 2008
6. Website: thongtinphapluat.vn
7. Website: thongtinphapluatdansu.edu.vn
21