Bài Tập Học Kỳ – Luật Dân Sự
Lớp N08 - TL3 – Nhóm 03
A/ ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong đời sống xã hội, mỗi người đều có một số quyền mà trong đó
các quyền nhân thân là bộ phận quyền ngày càng trở nên quan trọng. “Quyền
nhân thân” là thuật ngữ pháp lý để chỉ những quyền gắn liền với bản thân của
mỗi con người, gắn liền với đời sống riêng tư của mỗi cá nhân, có liên quan
mật thiết đến danh dự, nhân phẩm, uy tín… Việc nghiên cứu đề tài: “Quyền
nhân thân theo quy định trong Bộ luật dân sự - Một số vấn đề lý luận và thực
tiễn” sẽ giúp ta hiểu hơn được phần nào về vấn đề cấp thiết này.
B/ GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
I – CƠ SỞ LÝ LUẬN
1. Khái niệm
Quyền nhân thân được quy định tại Điều 24 BLDS 2005, theo đó:
“Quyền nhân thân được quy định trong Bộ luật này là quyền dân sự gắn liền
với mỗi cá nhân, không thể chuyển giao cho người khác, trừ trường hợp
pháp luật có quy định khác”.
2. Nội dung cơ bản của các quyền nhân thân được quy định trong
Bộ luật Dân sự
BLDS 2005 quy định về quyền nhân thân từ Điều 24 đến Điều 51.
Ngoài hai điều luật quy định khái quát về quyền nhân thân (Điều 24) và bảo
vệ quyền nhân thân (Điều 25), các điều luật còn lại quy định về nội dung các
quyền nhân thân cụ thể. Các quyền nhân thân được quy định trong BLDS
2005 có thể được chia thành các nhóm sau đây:
2.1. Quyền nhân thân gắn liền với chủ thể trong quan hệ hôn nhân
và gia đình
Hôn nhân và gia đình luôn là một trong những mối quan hệ rất đặc biệt
của đời sống xã hội. Các quyền nhân thân của cá nhân luôn đặt trong tương
quan giữa quan hệ của các cá nhân là thành viên trong gia đình, hay giữa các
nhau, giúp đỡ tạo điều kiện cho nhau phát triển về mọi mặt, vợ chồng cùng
nhau bàn bạc, quyết định, lựa chọn và sử dụng biện pháp kế hoạch hóa gia
đình phù hợp, sử dụng thời gian nghỉ để chăm sóc con ốm theo quy định của
pháp luật... Về quan hệ tài sản: Vợ chồng có quyền và nghĩa vụ ngang nhau
trong sở hữu tài sản chung, thể hiện ở các quyền chiếm hữu, sử dụng và định
ᄃ
19
Bài Tập Học Kỳ – Luật Dân Sự
Lớp N08 - TL3 – Nhóm 03
đoạt. Những quyền nhân thân giữa vợ và chồng luôn có mối liên hệ khăng
khít gắn bó với nhau, có ảnh hưởng lẫn nhau. Do đó, khi một quyền bị lạm
dụng hoặc bị xâm hại thì luôn kéo theo những vấn các quyền nhân thân khác
cũng bị ảnh hưởng theo. Quan hệ vợ chồng sẽ tốt đẹp bền lâu khi cả hai bình
đẳng với nhau, không ai có cảm giác mình hầu hạ người kia mà đều tự
nguyện làm tròn phận sự của mình.
Quyền ly hôn (Điều 42): Về nguyên tắc, quyền này chỉ thuộc về vợ,
chồng có hôn nhân hợp pháp, đối với những trường hợp nam nữ chung sống
như vợ chồng không có đăng ký kết hôn thì không được pháp luật thừa nhận
là vợ chồng, do đó, pháp luật không thừa nhận quyền ly hôn của các mối
quan hệ đó. Tuy nhiên, trừ trường hợp việc chung sống như vợ chồng được
coi là có giá trị pháp lý theo quy định của pháp luật.
Quyền nhân thân có liên quan đến mối quan hệ giữa cha, mẹ, con
và của các thành viên khác trong gia đình. Được quy định tại Điều 41, 43,
44 BLDS 2005. Theo đó:
Thứ nhất, về quyền được hưởng sự chăm sóc giữa các thành viên trong
gia đình quy định tại Điều 41 BLDS 2005: “Các thành viên trong gia đình có
quyền được hưởng sự chăm sóc, giúp đỡ nhau phù hợp với truyền thống đạo
Việc nhận con nuôi và được nhận làm con nuôi được thực hiện theo quy định
của pháp luật”. Trong quan hệ giữa cha mẹ và con, người con chưa thành
niên chỉ đảm bảo quyền được nhận làm con nuôi khi có những điều kiện nhất
định về độ tuổi, về ý chí tự nguyện của người con đó và của các chủ thể có
liên quan, điều này xuất pháy từ các quyền của trẻ em. Để đảm bảo quyền
này cần quy định chặt chẽ điều kiện nhận làm con nuôi. Có thể nói quyền
nhận con nuôi đã tạo ra quyền làm cha mẹ cho nhiều cặp vợ chồng không thể
có con, gắn bó tình cảm giữa người nhận nuôi và người được nhân nuôi trong
quan hệ cha, mẹ, con.
Tóm lại, BLDS 2005 đã có những quy định cụ thể về quyền nhân thân
trong lĩnh vực hôn nhân & gia đình. Đây được coi là cơ sở pháp lý quan trọng
để các cá nhân trong mối quan hệ hôn nhân và gia đình tôn trọng, hưởng các
quyền nhân thân do luật quy định.
2.2 Quyền nhân thân liên quan đến sự cá biệt hóa cá nhân: Quyền
của cá nhân đối với họ tên, hình ảnh và dân tộc
Khi tham gia các mối quan hệ mỗi cá nhân độc lập với nhau và độc lập
với các chủ thể khác của quan hệ pháp luật. Việc phân biệt cá nhân này với
ᄃ
19
Bài Tập Học Kỳ – Luật Dân Sự
Lớp N08 - TL3 – Nhóm 03
cá nhân khác và phân biệt cá nhân với chủ thể khác của quan hệ pháp luật
không những có ý nghĩa trong việc xác định rõ quyền, nghĩa vụ của chủ thể
mà còn có ý nghĩa trong việc xác định trách nhiệm pháp lý của chủ thể khi
tham gia quan hệ pháp luật nói chung và quan hệ pháp luật dân sự nói riêng.
Trong số các quyền nhân thân liên quan đến cá biệt hóa cá nhân thì quyền
với họ, tên, dân tộc của cá nhân tự do lựa chọn và dân tộc của cá nhân cũng
sẽ được ghi vào giấy khai sinh khi trẻ được đăng ký khai sinh. Tuy vậy, quy
định này lại có điểm hạn chế trong trường hợp không thể xác định được cha,
mẹ của trẻ cũng như trẻ không được nhận làm con nuôi thì trẻ sẽ lớn lên và sẽ
mãi mãi không có dân tộc và như vậy thì quyền nhân thân của cá nhân cũng
không thể thực hiện được. Đối với trường hợp trên đây, pháp luật nên quy
định dân tộc của trẻ được xác định theo dân tộc chiếm đa số ở địa phương nơi
phát hiện trẻ bị bỏ rơi. Khi đó mỗi cá nhân đều có được một dân tộc nhất định
và sau này khi xác định được cha, mẹ của trẻ thì có thể xác định lại dân tộc
theo quy định của pháp luật.
Ngoài quyền quy định xác định dân tộc, vấn đề xác định lại dân tộc là
một trong những nội dung quyền nhân thân của cá nhân. Việc xác định lại
dân tộc phải thỏa mãn các điều kiện do pháp luật quy định. Trên thực tế có
nhiều trường hợp muốn thay đổi dân tộc từ dân tộc này sang dân tộc khác.
Trong trường hợp này pháp luật nước ta quy định rất chặt chẽ, các cá nhân
không có quyền thay đổi dân tộc mà chỉ có quyền xác định lại dân tộc theo
những trường hợp do pháp luật quy định. Tuy nhiên, quy định này của BLDS
cũng có những điểm chưa thật hợp lý.
Thứ ba, về quyền của cá nhân đối với hình ảnh. Điều 31 BLDS 2005
quy định: “Cá nhân có quyền đối với hình ảnh của mình. Việc sử dụng hình
ảnh của cá nhân phải được người đó đồng ý; Trong trường hợp người đó đã
chết, mất năng lực hành vi dân sự, chưa đủ mười lăm tuổi thì phải được cha,
mẹ, vợ, chồng, con đã thành niên hoặc người đại diện của người đó đồng ý,
trừ trường hợp vì lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng hoặc pháp luật có
quy định khác. Nghiêm cấm việc sử dụng hình ảnh của người khác mà xâm
phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín của người có hình ảnh”.
Theo đó, chúng ta có thể hiểu quyền của cá nhân đối với hình ảnh bao
gồm quyền đối với hình và ảnh. Khái niệm hình ảnh của cá nhân được hiểu là
ᄃ
19
việc bảo vệ tính mạng, sức khỏe, thân thể con người bằng nhiều biện pháp
khác nhau. Khi một người có hành vi xâm phạm tính mạng, sức khỏe, thân
thể của người khác thì tùy thuộc vào tính chất, mức độ của hành vi xâm
ᄃ
19
Bài Tập Học Kỳ – Luật Dân Sự
Lớp N08 - TL3 – Nhóm 03
phạm, người này có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự nếu hành vi của họ
thỏa mãn đầy đủ các yếu tố cấu thành tội phạm. Xét dưới góc độ pháp luật
dân sự, những người có hành vi xâm phạm tính mạng, sức khỏe, thân thể của
người khác phải bồi thường thiệt hại do hành vi của mình gây ra.
Khoản 2 Điều 32 BLDS cũng quy định: “ Khi phát hiện người bị tai
nạn, bệnh tất mà tính mạng bị đe dọa thì người phát hiện có trách nhiệm đưa
đến cơ sở y tế; cơ sở y tế không được từ chối việc cứu chữa mà phải tận dụng
mọi phương tiện, khả năng hiện có để cứu chữa”. Nếu một người có điều
kiện cứu giúp mà họ không cứu giúp dẫn đến hậu quả là người đó chết thì
người không cứu giúp có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự, nhưng xét dưới
góc độ pháp luật dân sự thì họ có phải bồi thường thiệt hại hay không ? Đây
là vấn đề vẫn còn bỏ ngỏ trong pháp luật dân sự.
Thứ hai, về quyền được bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín. Điều 37
BLDS quy định: “Danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân được tôn trọng và
được pháp luật bảo vệ”. Danh dự, nhân phẩm, uy tín là những quyền nhân
thân không thể trị giá được thành tiền, do đó rất khó có thể xác định được hậu
quả về mặt vật chất của hành vi xâm phạm quyền của cá nhân đối với danh
dự, nhân phẩm, uy tín. Pháp luật Việt Nam cũng có nhiều quy định nhằm bảo
vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân và bảo vệ danh dự, uy tín của tổ
chức. Tuy nhiên, trong toàn bộ các quy định hiện hành không nêu khái niệm
nhân, tổ chức. Khi quyền này bị xâm phạm gây ra những hậu quả nghiêm
trọng cho sự tồn tại và phát triển của bên bị xâm phạm. Chính vì vậy cần phải
hoàn thiện các quy định pháp luật liên quan đến bảo vệ quyền được bảo vệ
danh dự, nhân phẩm, uy tín.
Thứ ba, quyền bí mật đời tư, Điều 38 BLDS quy định:
“1. Quyền bí mật đời tư của cá nhân được tôn trọng và được pháp luật
bảo vệ.
2. Việc thu thập, công bố thông tin, tư liệu về đời tư của cá nhân phải
được người đó đồng ý; trong trường hợp người đó đã chết, mất năng lực
hành vi dân sự, chưa đủ mười lăm tuổi thì phải được cha, mẹ, vợ, chồng, con
đã thành niên hoặc người đại diện của người đó đồng ý, trừ trường hợp thu
thập, công bố thông tin, tư liệu theo quyết định của cơ quan, tổ chức có thẩm
quyền.
ᄃ
19
Bài Tập Học Kỳ – Luật Dân Sự
Lớp N08 - TL3 – Nhóm 03
3. Thư tín, điện thoại, điện tín, các hình thức thông tin điện từ khác
của cá nhân được bảo đảm an toàn và bí mật.
Việc kiểm soát thư tín, điện thoại, điện tín, các hình thức thông tin điện
tử khác của cá nhân được thực hiện trong trường hợp pháp luật có quy định
và phải có quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền”.
Có thể hiểu bí mật đời tư là những thông tin liên quan đến cá nhân mà
bản thân cá nhân đó không muốn để người khác được biết. Hoàn thiện pháp
luật về bí mật đời tư và quyền bí mật đời tư là một trong những yêu cầu cấp
thiết bởi lẽ thời gian gần đây, có nhiều vụ việc liên quan đến bí mật đời tư đã
gây xôn xao dư luận. Hành vi xâm phạm quyền bí mật đời tư đa dạng, đó có
nhân trong lính vực đặc thù và hết sức nhạy cảm này. Nhưng dù cho mỗi cá
nhân có quyền tự quyết định, tự định đoạt đối với thân thể của mình, nhưng
phải trong khuôn khổ pháp luật. Trong thực tế, có không ít những trường hợp
vì hoàn cảnh khó khăn đã buộc phải bán một bộ phận trên cơ thể, điều này đã
đi ngược lại trật tự và đạo đức xã hội. Bởi vậy, pháp luật đa số các nước
không cho phép mua bán bộ phận cơ thể người như là một loại tài sản, bởi
nếu cân nhắc giữa việc đảm bảo tự do ý chí của mỗi cá nhân với bảo vệ trật
tự công cộng và đạo đức xã hội thì rõ ràng phải ưu tiên cái thứ hai.
Thứ hai, về quyền nhận bộ phận cơ thể người (Điều 35). Quyền hiến
và quyền nhận bộ phận cơ thể người thực chất là hai mặt của một quan hệ:
một bên là chủ thể hiến có quyền hiến, một bên là chủ thể nhận có quyền
nhận. Quyền hiến là tiền đề cho quyền nhận. Tuy nhiên việc thực thi quyền
nhận sẽ phức tạp, nhạy cảm hơn quyền hiến, nếu không thực hiện tốt sẽ gây
phản ứng xã hội không tốt, ảnh hưởng trở lại đến chính quyền hiến của cá
nhân, làm mất ý nghĩa tốt đẹp của quyền hiến. Thực hiện quyền hiến bộ phận
cơ thể phải tuân thủ các nguyên tắc nhất định, đó là các nguyên tắc: Nguyên
tắc phi thương mại; Nguyên tắc hiến bộ phận cơ thể vì mục đích nhân đạo,
chữa bệnh, giảng dạy hoặc nghiên cứu khoa học; Nguyên tắc tôn trọng sự tự
nguyện của người hiến bộ phân cơ thể.
Thứ hai, về quyền hiến xác, bộ phận cơ thể mình sau khi chết. Điều 34
BLDS quy định: “Cá nhân có quyền hiến xác, bộ phận cơ thể của mình sau
khi chết vì mục đích chữa bệnh cho người khác hoặc nghiên cứu khoa học.
Việc hiến và sử dụng bộ phận cơ thể được thực hiện theo quy định của pháp
ᄃ
19
Bài Tập Học Kỳ – Luật Dân Sự
Lớp N08 - TL3 – Nhóm 03
Bài Tập Học Kỳ – Luật Dân Sự
Lớp N08 - TL3 – Nhóm 03
của người khác là nghĩa vụ của mọi người và cũng là nghĩa vụ của chính
người đó. Khi thực hiện quyền nhân thân của mình về nguyên tắc không
được xâm phạm đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khác. Tuy vậy, trên
thực tế của đời sống xã hội do nhận thức của mỗi người khác nhau nên cũng
như các quyền dân sự khác việc xâm phạm đến quyền nhân thân của cá nhân
là điều không tránh khỏi. Việc xâm phạm đến quyền nhân thân của cá nhân
không những gây trở ngại cho việc thực hiện các quyền dân sự của cá nhân
đó mà còn ảnh hưởng tới trật tự pháp lý của xã hội. Để bảo đảm cho các
quyền nhân thân của cá nhân được thực hiện trên thực tế và bảo đảm trật tự
pháp lý của xã hội pháp luật quy định người có hành vi xâm phạm đến quyền
nhân thân của người khác phải xin lỗi, cải chính hoặc bồi thường thiệt hại
theo quy định của pháp luật. Trong trường hợp, người có hành vi xâm phạm
đến quyền nhân thân của người khác không tự chấm dứt hành vi xâm phạm,
không thực hiện trách nhiệm dân sự của họ theo quy định của pháp luật thì cá
nhân có quyền nhân thân bị xâm phạm được thực hiện các phương thức, biện
pháp cần thiết theo quy định của pháp luật để bảo vệ quyền nhân thân của
mình như tự cải chính, yêu cầu người có hành vi xâm phạm chấm dứt hành vi
xâm phạm, yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền buộc người có hành vi
xâm phạm chấm dứt hành vi xâm phạm, chịu trách nhiệm về hành vi trái
pháp luật của mình v.v… Ngoài ra, trong phạm vi, chức năng và nhiệm vụ
của mình các cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo yêu cầu của đương sự
hoặc khi xét thấy cần thiết cũng có nhiệm vụ, quyền hạn trong việc áp dụng
các biện pháp hành chính, biện pháp dân sự hoặc hình sự hoặc các biện pháp
tư pháp khác theo quy định của pháp luật để ngăn chặn, xử lý các hành vi
xâm phạm quyền nhân thân của cá nhân. Như vậy, bảo vệ quyền nhân thân
quyền dân sự khác như các biện pháp bảo vệ được áp dụng đa dạng, việc
khắc phục thiệt hại về quyền nhân thân bị xâm phạm trong một số trường hợp
phải do chính những người hành vi trái pháp luật xâm phạm đến quyền nhân
thân của cá nhân phải thực hiện, việc bồi thường thiệt hại khắc phục thiệt hại
về quyền nhân thân không thể tính toán cụ thể, chỉ là tương đối và mang tính
giáo dục là chủ yếu v.v… Ngoài ra, hiệu quả bảo vệ quyền nhân thân của cá
nhân chịu sự ảnh hưởng rất lớn của cả các quy định pháp luật và những điều
kiện xã hội. Để nâng cao được hiệu quả bảo vệ quyền nhân thân của cá nhân
ᄃ
19
Bài Tập Học Kỳ – Luật Dân Sự
Lớp N08 - TL3 – Nhóm 03
ngoài góc độ pháp lý thì vấn đề này cũng cần phải được quan tâm nghiên
cứu, xem xét kỹ cả dưới góc độ xã hội.
II – THỰC TIỄN VỀ VẤN ĐỀ QUYỀN NHÂN THÂN
Một xã hội càng tiến bộ bao nhiêu, nền tự do dân chủ càng được mở
rộng bao nhiêu, thì con người càng được tôn trọng bấy nhiêu, và do đó các
quyền nhân thân càng được pháp luật quy định đầy đủ, rõ ràng hơn cùng với
những biện pháp bảo vệ ngày càng có hiệu quả. Tuy nhiên, trong thực tế, còn
không ít những trường hợp cá nhân bị xâm phạm quyền nhân thân bởi nhiều
lý do khác nhau.
Thứ nhất, về quyền kết hôn. Trong thực tế đời sống xã hội hiện nay,
quyền kết hôn có thể bị lạm dụng và pháp luật rất khó để kiểm soát. Sự lạm
dụng này có thể do cá nhân gây ra hoặc do bị tác động bởi những yếu tố bất
lợi như bị ép buộc, lừa dối hay vì mục đích kinh tế. Hiện nay có không ít
trường hợp kết hôn với người nước ngoài vì mục đích kinh tế. Nhiều người vì
tâm lý muốn xuất ngoại để làm giàu nên đã bị kẻ gian lừa bán ra nước ngoài
thực tế, việc xác định tên khai sinh của một người là rất khó khăn, phức tạp
đặc biệt là trong trường hợp người đó không được đăng ký khai sinh. Có
nhiều trường hợp vì không có tiền nên người mẹ sinh con ra sau 3 ngày đã
ôm con trốn khỏi bệnh viện để trốn tiền viện phí. Vì vậy, đứa trẻ sinh ra
không được làm giấy chứng sinh nên không được khai sinh đãn đến việc trẻ
không được đi học ở các trường công mà phải học ở các lớp tình thương.
Quyền đăng ký khai sinh tuy là quyền của cá nhân kể từ khi sinh ra nhưng
thực tế lại không phụ thuộc vào cá nhân bởi những em bé khi sinh ra không
có năng lực hành vi dân sự mà hoàn toàn phụ thuộc vào người khác. Bởi vậy,
trẻ em không được đăng ký khai sinh là do lỗi của người lớn, dẫn đến lợi ích
của trẻ em bị xâm phạm. Vậy ai sẽ chịu trách nhiệm cho vấn đề này?
Thứ tư, về quyền xác định dân tộc, quốc tịch. Quyền này được xác
định theo dân tộc, quốc tịch của cha hoặc mẹ chứ không được tự do lựa chọn.
Như vậy, trong trường hợp trẻ em bị cha mẹ bỏ rơi hoặc không xác định được
cha mẹ cho trẻ thì phần cha mẹ, dân tộc, quốc tịch bị bỏ trống, dẫn đến việc
đứa trẻ đó trở thành người không quốc tịch hoặc không có dân tộc. điều này
sẽ làm hạn chế một số quyền lợi và nghĩa vụ của đứa trẻ đó trong tương lai.
Ví dụ như quyền được đi bầu cử.
ᄃ
19
Bài Tập Học Kỳ – Luật Dân Sự
Lớp N08 - TL3 – Nhóm 03
Thứ năm, về vấn đề xâm phạm hình ảnh, bí mật đời tư của cá nhân.
Hiện nay, quyền này của cá nhân được quy định khá chung chung, gây không
ít ảnh hưởng cho cá nhân. Nhiều vụ án đã được Toà án thụ lí xét xử, buộc
người vi phạm dù là cá nhân hay tổ chức, dù là tư nhân hay Nhà nước đều
phải có nghĩa vụ xin lỗi và bồi thường bằng tiền cho người bị xâm phạm. Từ
III – PHƯƠNG HƯỚNG HOÀN THIỆN CÁC QUY ĐỊNH CỦA
PHÁP LUẬT VỀ QUYỀN NHÂN THÂN
Hoàn thiện các quy định của pháp luật về quyền nhân thân là một trong
những nọi dung quan trọng, luôn được Đảng và Nhà nước quan tâm. BLDS
2005 đã có những đổi mới quan trọng trong các quy định về quyền nhân thân.
Tuy nhiên xã hội ngày càng phát triển với những diễn biến phức tạp nên các
quy định về quyền nhân thân cũng cần phải được sửa đổi bổ sung cho kịp
thời. Hoàn thiện quy định về quyền nhân thân cần phải được chú ý trên một
số phương diện sau:
Thứ nhất, các quy định cần xuất phát từ lợi ích của con người, đặt con
người ở vị trí trung tâm. Tuy nhiên những lợi ích, mục tiêu đó không được đi
ngược lại với lợi ích của cả cộng đồng và xã hội.
Thứ hai, trong một số vấn đề về quyền nhân thân, cần đưa ra những
định nghĩa hợp lý, chính xác để giúp cho người dân có thể hiểu đúng vấn đề,
tránh để xảy ra tình trạng vi phạm quyền nhân thân một cách vô ý.
Thứ ba, bổ sung thêm các quy định về bí mật đời tư, các hành vi bi coi
là xâm phạm đời tư để cho các cơ quan có thẩm quyền không bị lúng túng khi
gặp phải các trường hợp có liên quan.
Thứ tư, bổ sung các quy định của cá nhân liên quan đến vấn đề hình
ảnh, dân tộc, quốc tịch, … cho phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh của đất
nước.
Thứ năm, cần quy định cụ thể hơn về chế tài đối với các hành vi xâm
hại đến quyền nhân thân. Các quy định về bảo vệ quyền nhân thân hiện nay
còn chung chung, cần được quy định một cách cụ thể, chi tiết hơn.
Thứ sáu, các quy định về quyền nhân thân cần phải được đặt trong tổng
thể hệ thống pháp luật để tránh xảy ra tình trạng mâu thuẫn giữa các ngành
luật khi có vi phạm xảy ra.
ᄃ
19
ᄃ
19