THỜI ĐIỂM CÓ HIỆU LỰC CỦA HỢP ĐỒNG - Pdf 27

THỜI ĐIỂM CÓ HIỆU LỰC CỦA HỢP
ĐỒNG
1. Phạm vi nghiên cứu
Việc xác định thời điểm có hiệu lực của một hợp đồng là rất quan trọng. Bởi kể từ thời điểm hợp
đồng có hiệu lực thì quyền và nghĩa vụ của các bên mới phát sinh, và được pháp luật bảo vệ. Căn
cứ vào các quy định hiện hành, thời điểm có hiệu lực của hợp đồng được xác định tại nhiều thời
điểm khác nhau, tùy thuộc vào hình thức của hợp đồng, tùy thuộc vào thỏa thuận của các bên,
cũng như những quy định khác của pháp luật chuyên ngành. Tuy nhiên, việc xác định thời điểm
này trên thực tế cũng như về mặt lý luận vẫn đang còn gặp nhiều khó khăn và bất cập. Đặc biệt là
đối với những loại hợp đồng mà pháp luật buộc phải tuân thủ theo một hình thức nhất định (buộc
phải công chứng, hoặc buộc phải công chứng và đăng ký với cơ quan có thẩm quyền). Đối với
những loại hợp đồng đó, việc tuân thủ hình thức là một yêu cầu bắt buộc và là một trong những
điều kiện để hợp đồng có hiệu lực (khoản 2 Điều 122, Điều 124 Bộ luật Dân sự). Thời điểm phát
sinh hiệu lực của những hợp đồng này là không giống nhau, và không phải trong mọi trường hợp
đều có thể xác định một cách rõ ràng (theo các quy định của pháp luật hiện hành). Để làm rõ hơn,
trong phạm vi bài viết này, tôi sẽ tập trung làm rõ thời điểm có hiệu lực của các nhóm hợp đồng
sau:
1.1. Hợp đồng được lập thành văn bản, pháp luật không buộc phải thực hiện thủ tục công
chứng và đăng ký quyền sở hữu;
1.2. Hợp đồng được xác lập bằng văn bản, phải được công chứng, và phải đăng ký với cơ
quan có thẩm quyền (nếu pháp luật có quy định).
2. Thời điểm có hiệu lực của hợp đồng và cách xác định thời điểm của hợp đồng trong một
số trường hợp mà pháp luật đã quy định.
2.1. Thời điểm có hiệu lực của hợp đồng được xem như một điều khoản trong hợp đồng
Như đã nêu tại mục 1, thời điểm phát sinh hiệu lực của hợp đồng là không giống nhau đối với từng
loại hợp đồng khác nhau. Điều này được thể hiện tại Điều 405 Bộ luật Dân sự: “Hợp đồng được
giao kết hợp pháp có hiệu lực kể từ thời điểm giao kết, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc
pháp luật có quy định khác”. Nghĩa là: các bên có thể thỏa thuận với nhau thời điểm phát sinh hiệu
lực của hợp đồng, hoặc nếu các bên không thỏa thuận thì hợp đồng có thể phát sinh hiệu lực kể từ
thời điểm các bên giao kết hợp đồng hoặc thời điểm khác theo quy định của pháp luật. Trên
nguyên tắc, “hợp đồng dân sự là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm

chứng (hợp đồng, giao dịch và lời chứng của công chứng viên) có hiệu lực kể từ ngày được công
chứng viên ký và có đóng dấu của tổ chức hành nghề công chứng”. Nếu các bên thỏa thuận với
nhau thời điểm phát sinh hiệu lực của hợp đồng là một thời điểm khác với thời điểm công chứng
viên ký công chứng và đóng dấu của tổ chức hành nghề công chứng, theo tôi thỏa thuận như thế là
vô hiệu, bởi đây là là trường hợp “pháp luật quy định khác” theo Điều 405 BLDS.
Luật Công chứng đã không ghi nhận các trường hợp khác có thể làm phát sinh hiệu lực của hợp
đồng – cụ thể trong trường hợp này, Luật Công chứng đã không ghi nhận quyền tự do thỏa thuận
giữa các bên giao kết hợp đồng. Bởi hiểu theo khoản 3 Điều 4 thì những văn bản được công chứng
(cụ thể là hợp đồng mua bán nhà ở đang được đề cập) chỉ có thể phát sinh hiệu lực kể từ ngày
được công chứng.
2.2.2.2. Hợp đồng bằng văn bản, các bên phải thực hiện thủ tục công chứng và đăng ký với
cơ quan có thẩm quyền.
Có thể kể đến hợp đồng cho thuê nhà ở (Điều 492 Bộ luật Dân sự); Hợp đồng thế chấp các tài
sản như: Quyền sử dụng đất, Quyền sử dụng rừng, Quyền sở hữu rừng trồng, Tàu bay, Tàu biển và
các tài sản khác thế chấp bảo đảm nhiều nghĩa vụ; và hợp đồng tặng cho bất động sản mà pháp
luật yêu cầu phải đăng ký quyền sở hữu (Điều 467 Bộ luật Dân sự) và các hợp đồng khác. Thủ tục
đăng ký với cơ quan có thẩm quyền đối với những loại hợp đồng trong nhóm này, có hại loại thời
điểm có hiệu lực khác nhau:
(i) Việc đăng ký hợp đồng là một trong những điều kiện bắt buộc trong hình thức của hợp
đồng.
Nghĩa là hợp đồng đó chỉ được xem là hoàn thiện về hình thức khi được lập bằng văn bản, được
công chứng và đã đăng ký tại cơ quan có thẩm quyền. Việc đăng ký là một trong những điều kiện
để hợp đồng có hiệu lực – khoản 2 Điều 122 Bộ luật Dân sự.
Bộ luật Dân sự cũng như các quy định của Luật Nhà ở cũng như các quy phạm pháp luật khác
không có quy định nào trực tiếp xác định thời điểm có hiệu lực của hợp đồng dang này. Vì đây là
hợp đồng buộc phải thực hiện thủ tục công chứng, nên thời điểm có hiệu lực của hợp đồng có thể
được xác định dựa vào khoản 3 Điều 4 Luật Công chứng – kể từ khi công chứng viên ký công
chứng và có dấu của tổ chức, cơ quan hành nghề công chứng. Và như đã phân tích tại mục 2.2.2.1
thì Luật Công chứng không thừa nhận thời điểm có hiệu lực của hợp đồng theo sự thỏa thuận của
các bên.

điểm công chứng. Do vậy, không thể dùng hợp đồng trong trường hợp này (có công chứng chứng
nhận) để xem xét quyền và nghĩa vụ các bên trước khi có công chứng chứng nhận.
Cũng nói thêm trong trường hợp quy định này của Điều 134 Bộ luật Dân sự dường như không thể
thực hiện được. Do Luật Công chứng quy định về nguyên tắc trình tự công chứng hợp đồng là các
bên phải ký trước mặt công chứng viên (Điều 41 Luật Công chứng), như thế Luật Công chứng
không cho phép công chứng viên chứng nhận trên hợp đồng mà các bên đã giao kết (đã ký từ lâu).
Hay nói cách khác là nội dung Điều 134 Bộ luật Dân sự không thể thực hiện được trong trường
hợp phải hoàn thiện hình thức hợp đồng buộc phải có công chứng chứng nhận.
4. Giải pháp hoàn thiện quy định liên quan đến việc xác định thời điểm có hiệu lực của hợp
đồng.
Từ các phân tích nêu trên cho thấy quy định về thời điểm có hiệu lực của hợp theo Luật Công
chứng là chưa phù hợp với tính đa dạng của các giao dịch dân sự trên thực tế và nó không phù hợp
với Bộ luật Dân sự.
Theo tôi thì Khoản 3 điều 4 của Luật Công chứng cần thiết phải được bãi bỏ hoặc quy định lại cho
phù hợp với Bộ luật Dân sự như sau: “Hợp đồng, giao dịch được công chứng chứng nhận có
hiệu lực kể từ thời điểm giao kết, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy
định khác”. Do quy định hiện hành quá cứng nhắc và không phù hợp với thực tế cuộc sống và các
quy định nội dung thể hiện trong các luật khác.
Mặc khác pháp luật về công chứng cần phải ghi nhận thêm hình thức công chứng các hợp đồng,
giao dịch đã được các bên xác lập, sau đó mới đến cơ quan công chứng có thẩm quyền yêu cầu
công chứng chứng nhận. Điều này nhằm mục đích công nhận những thỏa thuận đa dạng trên thực
tế - Các bên có thể thỏa thuận thời điểm có hiệu lực của hợp đồng là thời điểm ký kết hợp đồng
hoặc thời điểm khác. Hơn thế nữa, việc bổ sung chế định nêu trên là phù hợp với nguyên tắc
“Giao dịch dân sự vi phạm hình thức có thể không bị vô hiệu” được quy định tại Điều 134 Bộ
luật Dân sự. Theo tôi pháp luật nên tôn trọng và công nhận thỏa thuận của các bên về thời điểm có
hiệu lực của hợp đồng.
Để phù hợp với nguyên tắc công chứng, theo tôi pháp luật công chứng nên quy định cho công
chứng viên chứng nhận gián tiếp hợp đồng đã được các bên xác lập trước đó. Nghĩa là bằng một
văn bản tại thời điểm công chứng chứng nhận các bên giao dịch thừa nhận toàn bộ các điều khoản
mà các bên đã ký trước đó, đương nhiên là có điều khoản về thời điểm có hiệu lực của hợp đồng.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status