Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÁI NGUYÊN - 2010
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
2
Mã số: 60.62.60
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP
NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC
T.S Nguyễn Huy Sơn THÁI NGUYÊN - 2010
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
3
ĐẶT VẤN ĐỀ
Tính đến 31/12/2009, tổng diện tích rừng nƣớc ta đã tăng lên hơn 13
triệu ha, trong đó rừng tự nhiên chiếm hơn 10,34 triệu ha và rừng trồng 2,92
triệu ha, độ che phủ của rừng tăng lên 39,1% [1]. Tuy diện tích cũng nhƣ độ
che phủ của rừng tăng lên khá rõ nhƣng chất lƣợng của rừng còn thấp, phần
lớn rừng tự nhiên là rừng nghèo kiệt, trữ lƣợng thấp dƣới 90m
3
/ha, những loài
cây gỗ có giá trị kinh tế còn lại rất ít, khả năng tái sinh kém, tăng trƣởng rất
chậm, bình quân mỗi năm đạt 3 - 4m
3
trưởng của một số loài cây bản địa trồng dưới tán rừng Thông mã vĩ ở Lục
Ngạn - Bắc Giang làm cơ sở chuyển hoá rừng Thông thuần loài thành rừng
hỗn loài bền vững” là cần thiết và cấp bách, có ý nghĩa cả khoa học và thực tế
sản xuất hiện nay.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
5
Chƣơng 1
TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1. TRÊN THẾ GIỚI
1.1.1. Những nghiên cứu về trồng rừng hỗn loài
Kết quả nghiên cứu ở nhiều nƣớc trên thế giới cho thấy rừng trồng thuần
loài đã bộc lộ nhiều nhƣợc điểm. Vì vậy, các nhà khoa học trên thế giới đã
dƣới 876m so với mực nƣớc biển đã trồng loài cây Tuyết tùng (Japanese
ceder) để tạo ra các lâm phần bền vững có giá trị, các nhà nghiên cứu ở đây
nhận thấy có ảnh hƣởng lẫn nhau giữa các loài cây khi trồng rừng hỗn giao
với nhau và ảnh hƣởng của môi trƣờng tới từng loài cây trồng. Khi nghiên
cứu về trồng rừng hỗn loài, các tác giả trên đều cho rằng việc bố trí các loài
cây trong mô hình rừng trồng hỗn loài thƣờng có ảnh hƣởng khá rõ tới sinh
trƣởng của chúng tuỳ theo đặc điểm từng loài và cự ly trồng từng cá thể.
Đặc điểm nổi bật của rừng hỗn loài là có kết cấu nhiều tầng tán. Vì thế
nghiên cứu tạo rừng hỗn loài nhiều tầng đã đƣợc một số nhà khoa học trên thế
giới quan tâm. Khi nghiên cứu về cấu trúc tầng tán của lâm phần hỗn loài,
Bernar Dupuy (1995) đã cho thấy rằng kết cấu tầng tán của rừng trồng hỗn
loài phụ thuộc vào đặc điểm sinh trƣởng và tính hợp quần của các loài cây
trong lâm phần [25]. Điều này cho thấy để tạo đƣợc các mô hình rừng trồng
hỗn loài có cấu trúc hợp lý, tận dụng đƣợc tối đa không gian dinh dƣỡng thì
cần phải dựa vào đặc điểm sinh thái cũng nhƣ phải quan tâm đến mối quan hệ
qua lại giữa các loài cây để lựa chọn các loài cây trồng cho phù hợp. Đây là
những cơ sở quan trọng quyết định đến sự thành công hay thất bại của các mô
hình rừng trồng hỗn loài.
Ở Malaysia (1999) đã nghiên cứu tạo rừng hỗn loài nhiều tầng bằng
nhiều phƣơng thức khác nhau. Tuỳ theo các đối tƣợng khác nhau là rừng tự
nhiên hay rừng trồng Keo tai tƣợng (Acacia mangium) 10 - 15 tuổi hoặc rừng
trồng Keo tai tƣợng 2 - 3 tuổi mà mở các băng chặt và băng chừa khác nhau.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
7
Chiều rộng băng chặt và chừa từ 6m (chặt 1 hàng) đến 60m (chặt 20 hàng).
Thời gian đƣa các loài cây bản địa vào trồng hỗn loài trong các băng chặt
cũng rất khác nhau, từ 1 - 7 năm sau khi mở băng chặt. Các loài cây bản địa
đƣa vào trồng trong các băng chặt tƣơng đối phong phú, từ 14- 23 loài cây
hình một số công trình nghiên cứu sau:
Bolstad và cộng sự (1988) [24] cũng đã tìm thấy một vài loại phân bón
mang lại hiệu quả tích cực cho rừng trồng thông P. caribeae ở Colombia nhƣ
potassium, phosphate, boron và magnesium. Khi nghiên cứu phân bón cho
trồng rừng thông P. caribeae ở Cu ba, Herrero và cộng sự (1988) [26] cũng
cho thấy bón phosphate nâng cao sản lƣợng rừng từ 56 lên 69m
3
/ha sau 13
năm trồng.
Ở Thái Lan từ năm 1969 – 1974 ngƣời ta đã nghiên cứu ảnh hƣởng của
đất, phân bón và kỹ thuật lâm sinh đến khả năng sinh trƣởng của loài Thông
nhựa kết quả cho thấy điều kiện lập địa, phân bón và kỹ thuật trồng có ảnh tới
khả năng sinh trƣởng loài cây Thông nhựa [31]. Ở Swaziland cũng đã chọn
đƣợc giống Pinus patuna sau 15 năm tuổi trồng thuần loài đạt 19m
3
/ha/năm
[32].
Điểm qua một vài công trình nghiên cứu trên cho thấy các công trình
nghiên cứu chủ yếu tập chung vào vấn đề ảnh hƣởng của phân bón và điều
kiện lập địa nhằm nâng cao năng xuất chất lƣợng rừng Thông trồng thuần
loài. Các nghiên cứu trên chƣa đề cập tới việc phối hợp các loài Thông với
cây trồng khác, đặc biệt là trồng một số loài cây bản địa dƣới tán rừng Thông.
1.2. Ở VIỆT NAM
1.2.1. Những nghiên cứu về trồng rừng hỗn loài cây bản địa
Ở Việt Nam, vấn đề trồng rừng hỗn loài đã đƣợc các nhà khoa học quan
tâm từ rất sớm, điển hình là công trình nghiên cứu của Maurand (ngƣời Pháp)
ở Đồng Nai vào những năm 30 của thế kỷ trƣớc, tác giả đã sử dụng các loài
Sao đen (Hopea odorata), Dầu rái (Dipterocarpus alatus) và Vên vên
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
10
Trần Ngũ Phƣơng (2000) [23] cũng đã nghiên cứu xây dựng các mô hình
trồng rừng hỗn loài tạo ra rừng nhiều tầng tán nhằm mục đích cho phòng hộ
và sản xuất thông qua các phƣơng thức hỗn loài khác nhau nhƣ hỗn loài giữa
cây cao với cây bụi, hỗn loài giữa cây cao với cây cao. Căn cứ kết quả của các
công trình nghiên cứu các quy luật chủ yếu ở rừng tự nhiên ở miền Bắc Việt
Nam, tác giả đã chỉ ra rằng thảm thực vật rừng ở nƣớc ta đều phân thành
nhiều tầng, từ 2 đến 3 tầng cây gỗ chƣa kể tầng cây nhỡ và thảm tƣơi. Dựa
trên quy luật đó tác giả đã đề xuất mô hình trồng rừng hỗn loài đáp ứng mục
tiêu phòng hộ đầu nguồn cho các vùng xung yếu, trong đó có 2 mô hình hỗn
loài nổi bật là mô hình rừng sản xuất khí hậu vĩnh viễn nhiều tầng và rừng sản
xuất thứ sinh tạm thời nhiều tầng.
Một thí nghiệm trồng rừng hỗn loài khác là trồng theo đám ở Trƣờng đại
học Lâm nghiệp (Phạm Xuân Hoàn, 2004) [11], đã sử dụng 165 loài cây bản
địa trồng dƣới tán của Thông và Keo, trong đó dƣới tán rừng Thông mã vĩ
(Pinus massoniana) là 27 loài, dƣới tán rừng Keo lá tràm (Acacia
auriculifomis) là 21 loài, số còn lại trồng dƣới tán của trạng thái rừng hỗn
giao Thông mã vĩ với Keo lá tràm, Thông mã vĩ với Keo tai tƣợng, Bạch đàn
tỉ lệ sống của các loài cây bản địa dƣới tán rừng Thông đƣợc đánh giá đạt
93,2% và dƣới tán rừng Keo đạt 91,2%. Tăng trƣởng thƣờng xuyên và tăng
trƣởng bình quân của cây bản địa có sự phân hoá khác nhau khá rõ ràng ở các
loài. Đặc biệt, đáng chú ý một số loài thƣờng đƣợc đánh giá sinh trƣởng chậm
nhƣ: Re hƣơng (Cinnammomun inners), Lim xanh (Erythurophleum fordii)
nhƣng ở giai đoạn còn nhỏ có khả năng chịu bóng tốt dƣới tán rừng Thông,
Keo lại sinh trƣởng tốt và rất có triển vọng.
Mô hình trồng rừng hỗn loài Keo trắng (Paraserianthes falcataria) và
Lõi thọ (Gmelia arboria) ở Lƣơng Sơn – Hoà Bình cũng đã đƣợc Hoàng Văn
Thắng và cộng sự (2005) [18] nghiên cứu và kết quả cho thấy sau nƣơng rẫy,
S húa bi Trung tõm Hc liu - i hc Thỏi Nguyờn http://www.lrc-tnu.edu.vn
hi c 3 loi rng l rng sn xut, phũng h v c dng.
Ngoi cỏc cụng trỡnh nghiờn cu ó nờu, Chng trỡnh 327, D ỏn 661
cng to ra nhiu mụ hỡnh trng rng hn loi vi cỏc loi cõy bn a lỏ
rng, trong ú ch yu l to rng phũng h cho cỏc vựng xung yu trong c
nc. Trong các mô hình này hầu hết đều sử dụng các loài cây phù trợ nh-
Keo tai t-ợng (Acacia mangium), Keo Lá tràm (Acacia auriculiformis), Keo
S húa bi Trung tõm Hc liu - i hc Thỏi Nguyờn http://www.lrc-tnu.edu.vn
12
lai (Acacia mangium x Acaccia auriculiformis), Muồng đen (Cassia siamea),
với tỷ lệ hỗn loài là 600 cây bản địa và 1000 cây phù trợ/ha. Tuy nhiên, việc
điều chỉnh tán che của các loài cây phù trợ trong các mô hình rừng trồng hỗn
loài đã ch-a đ-ợc quan tâm nghiên cứu và điều chỉnh kịp thời nên các loài cây
trồng chính có tỷ lệ sng rt thấp và th-ờng sinh tr-ởng kộm. Đây cũng là tồn
tại chung của hầu hết cỏc mụ hỡnh trong cỏc d ỏn 327 v 661.
Nghiờn cu phng thc v phng phỏp hn loi cng ang c nhiu
tỏc gi quan tõm. Thc t cho thy cỏc mụ hỡnh rng trng hn loi nc ta
n nay ch yu l ỏp dng theo phng thc trng rng hn loi gia cõy
cao vi cõy cao. in hỡnh l thớ nghim trng rng hn loi theo hng gia
M (Manglietia conifera) vi cỏc loi cõy Lim xanh (Erythurophleum fordii),
X c (Khaya senegalensis), Tch (Tectona grandis) [22]. Trong mt cụng
trỡnh nghiờn cu khỏc trng rng g lng Tõy Nguyờn, Nguyn Xuõn Quỏt
v cng s (1990) ó s dng cõy u trm (Indigofera teysmanii) nh l mt
cõy phự tr cho Tch (Tectona grandis), kt qu cho thy Tch trng xen vi
cõy u trm giai on u sinh trng khỏ tt, hỡnh thõn p v thng, kh
nng phõn cnh ớt. Hn na, c di di tỏn rng trng cng hn ch phỏt
trin hn ni Tch trng thun loi [14]; Nghiờn cu to rng hn loi gia
cõy lỏ kim (Thụng uụi nga) v cõy lỏ rng (Keo lỏ trm v Bch n trng)
Nỳi Lut - Xuõn Mai ca Phựng Ngc Lan (1986) [13]; Nghiờn cu thit
các loài cây trồng đều có tỷ lệ sống cao, sinh tr-ởng tốt và có nhiều triển
vọng. Tuy nhiên, đây mới chỉ là kết quả b-ớc đầu. Mặt khác khi thiết kế xây
dựng mô hình, việc nghiên cứu mối quan hệ giữa các loài cây ch-a đ-ợc chú
ý. Vì vậy, với các mô hình này cần phải theo dõi để có biện pháp tác động kịp
thời, điều chỉnh sự cạnh tranh giữa các loài, đặc biệt là các loài cây mọc
nhanh nh- Bạch đàn và Keo lai, tạo điều kiện để cây bản địa sinh tr-ởng, phát
triển tốt.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
14
Hiện nay nhiều đối tƣợng rừng trồng thuần loài đều tuổi ở nƣớc ta đã và
đang đƣợc nghiên cứu để chuyển hoá thành rừng hỗn loài khác tuổi, có cấu
trúc ổn định và bền vững hơn thông qua việc đƣa thêm một số loài cây mục
đích vào trồng theo các thời điểm khác nhau. Điển hình là dự án trồng rừng
Việt - Đức ở các tỉnh Bắc Giang, Lạng Sơn và Quảng Ninh. Ban đầu rừng
trồng của dự án ở các tỉnh này là rừng thuần loài Thông mã vĩ, Keo lá tràm,
hoặc Thông mã vĩ xen Keo lá tràm. Sau 7 năm dự án đã thí nghiệm chuyển
hoá rừng Thông mã vĩ thuần loài và rừng hỗn loài Thông mã vĩ xen Keo lá
tràm thành rừng hỗn loài với một số loài cây lá rộng bản địa khác bằng cách
chặt tỉa Thông mã vĩ và Keo lá tràm, mở thành các rạch rộng 6m sau đó đƣa
các loài cây lá rộng bản địa vào trồng. Nhƣ vậy, xét về thời điểm hỗn loài thì
đây có thể coi là một trong những thí nghiệm điển hình và có tính thực tiễn
cao, phần lớn diện tích rừng trồng của nƣớc ta hiện nay đều là rừng trồng
thuần loài hoặc hỗn loài không bền vững là đối tƣợng cần đƣợc chuyển hoá
thành rừng hỗn loài bền vững nhằm kinh doanh rừng theo hƣớng ổn định, bền
vững hơn.
1.2.2. Các nghiên cứu về trồng rừng Thông
1.2.2.1. Các loài Thông có giá trị khoa học và kinh tế phổ biến ở Việt Nam
Hiện nay trên Thế giới ngƣời ta đã xác định đƣợc hơn 100 loài Thông và
với mực nƣớc biển, với diện tích khá rộng ở Đà Lạt. Từ nhựa thông chế biến
ra côlôphan, dầu thông, tùng tiêu và các dẫn xuất của tinh dầu thông dùng để
xuất khẩu và sử dụng trong nhiều ngành công nghiệp nhƣ sơn, giấy, dƣợc.
Rừng thông đẹp, có môi trƣờng trong lành, thƣờng là thắng cảnh phục vụ
khách thăm quan, du lịch và điều dƣỡng.
* Thông hai lá dẹt (Pinus krempffi H.Lec hoặc Ducampopinus krempffi
(Lec) A.Chev); thuộc Họ Thông: Pinaceae.
Là cây gỗ lá kim, thƣờng xanh, cây có kích thƣớc lớn: cao tới 30m và
đƣờng kính thân cây đạt tới 150 – 200cm. Thông hai lá dẹt phân bố tự nhiên ở
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
16
vùng núi cao trung bình và núi cao tại tỉnh Lâm Đồng, Khánh Hòa với độ cao:
1200 – 1800m so với mực nƣớc biển. Hiện nay ở Khu bảo tồn thiên nhiên
Bidoup, núi Bà có diện tích 10.000ha, là nơi phân bố tự nhiên nhiều Thông
hai lá dẹt.
* Thông nhựa (Pinus merkussi Jungh & de Vries); Còn gọi là Thông hai
lá); thuộc Họ Thông : Pinaceae.
Cây có kích thƣớc tƣơng đối lớn, cao tới 30 – 35m, với đƣờng kính thân
cây đạt tới 60 – 70cm, thân cây thẳng và tròn, vỏ thân cây dầy có mầu nâu đỏ
nhạt, nứt dọc sâu. Cành 1 năm có mầu nâu nhạt, không có phấn trắng nhẵn,
gốc lá hình vẩy tồn tại nâu trên cành. Phân bố nhiều ở Nam Tây Nguyên (tỉnh
Lâm Đồng) trên độ cao thấp hơn 1000m so với mực nƣớc biển, có đặc điểm
khí hậu nhiệt đới. Cây cho nhiều nhựa, đƣợc trồng trên diện tích khá rộng ở
các tỉnh từ Bắc vào Nam.
* Thông tre (Podocarpus neriifolius P Don hoặc Podocarpus
annamiensis N Gray); còn gọi là Thông trúc đào; thuộc Họ Kim Giao:
Podocarpaceae.
Cây có kích thƣớc nhỏ, cao khoảng 25m. Phân bố ở độ cao 600 – 1500m
mầu thẫm hơn, khi già vỏ bong thành từng mảng (đây cũng là một đặc điểm
để phân biệt với các loài Thông nhựa).
Lá Thông mã vĩ có mầu xanh tƣơi, tập trung ở đầu cành, lá mềm và rủ
xuống. Thƣờng có 2 lá kim trong một bẹ lá. Lá hình kim dài 12 – 20cm. Khi
cây Thông mã vĩ từ 5 – 10 tuổi, tán lá có hình tháp, sau đó trở thành hình
trứng và hình ô khi tuổi già
Thông mã vĩ bắt đầu ra hoa, kết quả ở tuổi 6 – 7, hoa đơn tính cùng gốc.
Nón quả khi non có hình tròn, khi già có hình trứng, dài từ 4 – 7cm, đƣờng
kính 2,5 – 4cm. Khi chín nón quả có mầu hạt Dẻ, mặt vẩy hình thoi, dẹt, mép
lá phía trên tròn.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
18
Gỗ Thông mã vĩ có lõi và giác phân biệt. Lõi có màu vàng, thớ gỗ thô,
thẳng. Gỗ nhẹ, thƣờng đƣợc làm trụ mỏ, làm cột điện, sản xuất giấy, sợi
celluloso Nhựa Thông mã vĩ dùng để sản xuất tùng hƣơng và tinh dầu
Thông, phục vụ cho ngành công nghiệp và xuất khẩu.
Hiện nay, rừng Thông mã vĩ đƣợc trồng nhiều ở các tỉnh miền Bắc, nhƣ:
Cao Bằng, Lạng Sơn, Bắc Giang, Quảng Ninh, Yên Bái và Lào Cai
1.2.2.2. Các nghiên cứu về rừng trồng Thông mã vĩ
Tính đến 2009, diện tích rừng Thông nƣớc ta có khoảng 327.212,3 ha [8]
phần lớn diện tích rừng trồng chủ yếu là trồng thuần loài. Về vấn đề trồng
rừng cho các loài Thông ở nƣớc ta cũng đã đƣợc các nhà khoa học quan tâm
nghiên cứu, có thể điểm qua kết quả của một số công trình nghiên cứu điển
hình nhƣ sau:
Các phƣơng thức trồng rừng nói chung trồng Thông mã vĩ nói riêng là
trồng thuần loài hoặc trồng hỗn loài với một số loài cây khác. Theo kết quả
nghiên cứu của Nguyễn Ngọc Bình, Phạm Đức Tuấn (2009) [3] rừng Thông
mã vĩ 7 năm tuổi với mật độ để lại 2000 cây/ha hàng năm trả lại cho đất 60,12
với các loài cây bản địa là rất cần thiết và có ý nghĩa cả khoa học và thực tiễn.
Vấn đề này đã đƣợc một số nhà khoa học trong nƣớc quan tâm nghiên cứu
trong những năm gần đây, có thể điểm qua một số công trình nghiên cứu điển
hình sau đây:
Gần đây nhất Lê Minh Cƣờng (2007) đã nghiên cứu trồng một số loài
cây bản địa dƣới tán rừng Thông mã vĩ ở Đại Lải Vĩnh Phúc [7], tác giả đã đề
xuất đƣợc 3 loài cây bản địa có triển vọng để gây trồng dƣới tán rừng Thông
mã vĩ (Pinus massoniana) đó là: Lim xanh (Erythrophleum pordii), Re hƣơng
(Cinnamomum iners), Sao đen (Hopea odorata). Trong đó, Lim xanh là loài
cây có khả năng sinh trƣởng tốt nhất dƣới tán rừng Thông mã vĩ sau 7 năm
trồng đƣờng kính gốc trung bình đạt từ 6,0cm - 6,4cm, chiều cao vút ngọn đạt
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
20
từ 4,2m - 4,6m. Ngoài ra, tác giả đã đề xuất một số biện pháp kỹ thuật gây
trồng cây bản địa dƣới tán rừng Thông mã vĩ.
Trƣờng đại học Lâm nghiệp Xuân Mai cũng đã xây dựng vƣờn sƣu tập
vƣờn thực vật với gần 300 loài cây bản địa trồng dƣới tán rừng Thông mã vĩ
(Pinus massoniana) và Keo tai tƣợng (Acacia mangium). Sau nhiều năm
nghiên cứu đã tìm ra một số loài cây thích nghi dƣới tán rừng nhƣ Đinh thối
(Fernandoa brilletii), Máu chó (Knema pierrei), Tai chua (Garcinia cowa),
Re hƣơng (Cinnamomun iners), Long não (Cinnamomun camphora) (dẫn
theo Lê Minh Cƣờng 2007)[7].
Cũng trên nền tảng rừng Thông mã vĩ và Keo lá tràm tại Núi Luốt, Xuân
Mai, Đỗ Thị Quế Lâm (2003) [12] đã nhận định các loài Lim xanh
(Erythrophleum pordii), Đinh thối (Fernandoa brilletii), Re hƣơng
(Cinnamomun iners), sinh trƣởng tƣơng đối tốt dƣới tán rừng Thông mã vĩ.
Tuy nhiên, dƣới các độ tàn che khác nhau, khả năng sinh truởng của các loài
cây bản địa cũng rất khác nhau.
+ Loại đất trồng cây bản địa
Nhƣng trong phạm vi nghiên cứu này ở Lục Ngạn – Bắc giang, đề tài
này chỉ có thể giải quyết đƣợc một số vấn đề nhằm bổ sung thêm cơ sở lý
luận để chuyển hoá rừng thuần loài thành rừng hỗn loài nhƣ sau:
+ Đánh giá điều kiện lập địa khu vực nghiên cứu;
+ Đánh giá đặc điểm của rừng Thông mã vĩ sau khi tỉa thƣa và đã trồng
cây bản địa;
+ Đánh giá đặc điểm cây bụi, thảm tƣơi dƣới tán rừng Thông mã vĩ;
+ Đánh giá khả năng sinh trƣởng của các loài cây bản địa dƣới tán rừng
Thông mã vĩ.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
22
Chƣơng 2
ĐẶC ĐIỂM KHU VỰC VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
2.1. ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN
2.1.1. Vị trí địa lý
Huyện Lục Ngạn là huyện trung du miền núi nằm ở phía Đông Bắc của
tỉnh Bắc Giang, thuộc vùng Đông Bắc Việt Nam. Có toạ độ vị trí địa lý: từ
21
0
16
’
00
’’
- 21
Vùng thấp bao gồm những dãy đồi bát úp xen kẽ những cánh đồng có độ
cao trung bình từ 100 – 150m so với mực nƣớc biển, độ dốc < 20
0
, rất thuận
lợi cho phát triển cây ăn quả và trồng rừng, đặc biệt là xây dựng những mô
hình vƣờn rừng, đồi rừng, trang trại lâm nghiệp…
Vùng cao bao gồm những dãy núi có độ dốc trung bình từ 25 – 30
0
, độ
cao trung bình > 300m so với mực nƣớc biển. Vùng này diện tích đất chƣa sử
dụng còn khá lớn, có thể dùng cho sản xuất kinh doanh rừng trồng.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
23
Vì vậy, có thể nói Lục Ngạn có nhiều thuận lợi cho phát triển kinh tế đồi
rừng cũng nhƣ đẩy mạnh phát triển sản xuất lâm nghiệp.
2.1.3. Đặc điểm thổ nhƣỡng
Lục Ngạn có nhiều loại đất khác nhau nhƣng chủ yếu là đất feralit vàng
đỏ và nâu xám phát triển trên 3 loại đá mẹ chủ yếu là: sa thạch, phiến thạch và
phấn xa. Thành phần cơ giới từ trung bình đến sét nặng, có kết cấu viên, độ
xốp lớp đất mặt từ 50 – 70%, khả năng thấm và giữ nƣớc trung bình, hàm
lƣợng mùn trong đất khoảng 4%, đạm từ 0,01 - 0,4%, rất thích hợp cho các
loài cây lâm nghiệp, cây ăn quả và cây công nhiệp. Tuy nhiên, do có độ dốc
tƣơng đối lớn kiểu bát úp lên cần phải chú ý đến những biện pháp chống xói
mòn và rửa trôi đất.
Ngoài ra, còn có diện tích nhỏ đất phù sa đƣợc bồi tụ hàng năm ở ven
sông, suối đƣợc ngƣời dân sử dụng trồng lúa nƣớc, hoa màu và cây ăn quả.
Với tiềm năng đất đai lớn và phù hợp cho sản xuất lâm nghiệp cũng nhƣ
cây ăn quả, Lục Ngạn đang là một huyện đứng đầu tỉnh Bắc Giang về công
cao giáp huyện Sơn Động.
+ Rừng trồng: Các loài cây trồng rừng chủ yếu là những loài cây nhập
nội, sinh trƣởng nhanh, cung cấp nguyên liệu giấy, gỗ trụ mỏ hoặc làm ván
nhƣ Bạch đàn, Thông, Keo…
2.2. ĐIỀU KIỆN DÂN SINH, KINH TẾ - XÃ HỘI
2.2.1. Dân sinh
* Dân số: Dân số toàn huyện là 196.616 ngƣời, trong đó có 97.161 nam
( chiếm 49,44%) và 99.355 nữ (chiếm 50,56%) tỷ lệ tăng dân số hàng năm
1,3%.
* Lao động: Với khoảng 85.000 ngƣời trong độ tuổi lao động, chiếm
khoảng 43% tổng dân số, lao động nông lâm nghiệp chiếm 85%, hầu hết là
lao động chƣa có trình độ chuyên môn kỹ thuật. Lục Ngạn là một địa phƣơng
khá thuận lợi để phát triển sản xuất, đặc biệt là ngành nông lâm nghiệp vốn là
thế mạnh của một huyện miền núi.
* Dân tộc: Trong huyện có nhiều dân tộc anh em khác nhau cùng chung
sống, nhƣng chủ yếu 8 dân tộc chính là Kinh, Tày, Nùng, Sán Chí, Sán Dìu,
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
25
Cao Lan, Hoa, Dao, sinh sống ở 397 thôn, bản. Mỗi dân tộc đều có phong tục,
tập quán khác nhau, có nền văn hoá riêng theo tộc ngƣời.
2.2.2. Giao thông và cơ sở hạ tầng
Ngoài quốc lộ 31 từ Bắc Giang đi Sơn Động và quốc lộ 279 đi Đồng Mỏ
- Lạng Sơn, Lục Ngạn còn nằm trên tuyến tỉnh lộ 285 và 290. Các tuyến
đƣờng liên xã nối với quốc lộ chính đến trung tâm huyện tạo thành mạng lƣới
giao thông, vận tải cho việc vận chuyển hàng hoá. Đây cũng là một yếu tố
thuận lợi để đẩy mạnh công tác thông tin tuyên truyền, học tập và trao đổi
kinh nghiệm sản xuất trong và ngoài huyện.
Mạng lƣới diện đã cung cấp cho toàn huyện, một thế mạnh có thể khai