“ Đánh giá khả năng sinh trưởng và một số thành phần hóa sinh của cây nưa ở Quảng Điền – Thừa Thiên Huế”. - Pdf 23

Đề tài NCKH sinh viên
MỞ ĐẦU
Nói đến những món ăn nhân gian truyền thống ở Huế, ngoài những món ăn
nổi tiếng như bánh bèo, bánh nậm, bánh cuốn, thịt chấm mắm tôm hay bún hến,
bún bò giò chả thì còn một món ăn không thể không nhắc đến, đó là món chột
nưa kho cá. Tuy nhiên, cho đến nay, vẫn có rất nhiều người (kể cả người Huế)
không biết chột nưa là loại cây gì, trồng ở đâu, hình dáng như thế nào.
Thật ra, chột nưa, hay nói chính xác hơn là chột của cây nưa là một loại
thực vật trồng ở những nơi đất ẩm, gần gũi với cây môn và cây bạc hà nhưng lá
của nó lại rất giống lá đu đủ.
Với người dân nông thôn miền Trung, từ Nghệ An vào đến Thừa Thiên -
Huế, chột nưa là món đặc sản mang đậm phong vị quê hương. Không những thế,
đã từ lâu, phần củ của cây nưa còn được dùng để chữa bệnh.
Trong thành phần củ nưa, ngoài protein, lipid, chất khoáng, vitamine thì có
một thành phần rất quan trọng mà hiện nay được nhiều người quan tâm và chú ý
đến, đó là Glucomannan (chiếm khoảng 40% trọng lượng khô).
Theo nhiều công trình nghiên cứu của nước ngoài thì thành phần
Glucomanan của củ nưa có những đặc tính rất quý và được sử dụng trong nhiều
lĩnh vực khác nhau, đặc biệt trong y học, các sản phẩm sản xuất từ củ nưa được
dùng để chữa các bệnh đái tháo đường, giảm cholesteron, giảm béo…
Bên cạnh đó, theo y học cổ truyền nước ta, củ nưa có vị cay ngứa, tính ấm,
có tác dụng hoá đờm, táo thấp, trừ phong co cứng, thông kinh lạc, khỏi đau nhức,
ấm tỳ vị, khỏi nôn mửa, tán hạch, tiêu sưng tấy Do vậy, phần củ nưa thường
được đưa vào các đơn thuốc trị bệnh.
Hiện nay, tại tỉnh Thừa Thiên Huế, cây nưa đang được trồng ở một số nơi
như xã Quảng Thọ, Quảng Phú (thuộc huyện Quảng Điền), thành phố Huế ;
trong đó, nhiều nhất là ở xã Quảng Thọ. Cây mang lại nguồn thu nhập cao cho
người dân vùng này và đang được xem như là một loại cây kinh tế.
1
Đề tài NCKH sinh viên
Tuy nhiên, người dân chỉ tập trung sử dụng chủ yếu phần thân nưa, còn phần

80cm, mỗi lá lại chia nhánh liên tiếp, phiến lá có dạng hình lông chim [36].
Sau khi thu hoạch, củ nưa trải qua thời gian ngủ nghỉ, khoảng 4-5 tháng.
Đây là đặc điểm sinh lý của nó và không có một yếu tố nào có thể phá vỡ trạng
thái này để nảy mầm được. Liu và cộng sự đã chia thời gian ngủ của củ nưa
thành 4 kì, trong mỗi kì có sự thay đổi sâu sắc về đặc điểm sinh lý cũng như sinh
hóa [liu1998].
Kì đầu: là giai đoạn chín của củ sau khi thu hoạch (thường kéo dài từ tháng
10 đến tháng 11). Lúc này, hô hấp của củ tăng, hoạt động của các enzyme như
polyphenol oxydase, catalase, amylase tăng mạnh mẽ.
Kì 2: là thời kì ngủ nghỉ của củ, kéo dài từ cuối tháng 11 cho đến đầu tháng
1. Vào thời kì này, hô hấp của củ giảm mạnh, hoạt động của các enzyme khác là
rất yếu và củ bắt đầu ngủ sâu.
Kì 3: là giai đoạn bắt đầu nảy mầm, kéo dài từ tháng 1 cho đến cuối tháng
2. Lúc này, cường độ hô hấp và hoạt động của enzyme amylase của củ vẫn còn
3
Đề tài NCKH sinh viên
yếu, nhưng hoạt động của enzyme catalase, polyphenol oxydase đã tăng mạnh trở
lại.
Kì 4: là giai đoạn kéo dài quá trình nảy mầm. Ở giai đoạn cuối này, hoạt
động của enzyme polyphenol oxydase, amylase tăng lên. Nếu điều kiện cho
phép, mầm bắt đầu mọc ra và rễ cũng phát triển.
Khi thời gian ngủ nghỉ của củ nưa kết thúc thì cũng là lúc chồi bắt đầu được
hình thành. Trong thời gian đầu, chồi được bọc bên trong một bao có dạng mũi
tên, màu nâu tím. Sau vài ngày, bao này rách ra, chồi non bắt đầu bung lá và phát
triển. Khoảng 1 tháng từ khi cây mọc thì tán lá có thể rộng đến 20-45cm, dài 20-
30cm.
Trong quá trình sinh trưởng của cây, có 3 chột lần lượt được hình thành ở
các thời điểm khác nhau. Chột thứ nhất có chiều cao trung bình tương đối thấp
(30-60cm), trong khi đó, chiều cao của chột 2 và chột thứ 3 lại cao hơn nhiều, có
thể lên đến 150cm.

o
C,
nhưng tối ưu nhất là từ 20-25
o
C. Nếu nhiệt độ xuống dưới 0
o
C hoặc trên 45
o
C thì
cây sẽ chết sau 5 ngày [31].
Về đất đai: Nhìn chung, cây nưa không kén đất cho lắm, nó có thể trồng
được trên các loại đất như cát pha, đất thịt, đất miền núi nhưng để cây sinh
trưởng tốt nhất thì nên trồng ở những vùng có đất thịt, đất phù sa ẩm, tháo nước,
có ánh sáng vừa phải [38].
Theo tài liệu ở Trung Quốc, nưa Konjac phát triển mạnh nhất ở đất có độ
ẩm 75%; còn ở Nhật Bản, nưa Konjac thường được trồng ở những vùng có lượng
mưa từ 1000-1200mm [34].
5
Đề tài NCKH sinh viên
Hiện nay, cây nưa được trồng phổ biến ở các nước như: Trung Quốc, Hàn
Quốc, Nhật Bản, Ấn độ, Việt Nam, Myanma, Indonesia, Philippine
Riêng ở Việt Nam, cây nưa phân bố chủ yếu ở: Lạng Sơn, Quảng Ninh, Bắc
Giang, Quảng trị, Thừa Thiên Huế và một số tỉnh ở phía Nam [34].
Thời vụ trồng: Cây nưa có thể trồng quanh năm nhưng thời vụ tốt nhất là
mùa xuân (tháng 2-3) và mùa thu (tháng 9-10). Riêng các tỉnh miền Trung cần
tránh trồng vào các tháng có gió Lào khô nóng (tháng 6-7) [40].
3. Một số thành phần hóa sinh của cây nưa
Kết quả phân tích thành phần hóa học của thân nưa cho thấy thân tươi có
chứa 78,0% nước. Nưa chứa khoảng 76,3% carbohydrate hòa tan, 4% các chất xơ
không tan, 7% khoáng (Na, P, K, Mg, Fe, …), 0,5% lipid, 12,2% dẫn xuất của

glucosyl ; các nhóm acetyl gắn vào các phân tử đường dọc theo bộ khung của
phân tử glucomannan (trung bình khoảng 9-19 phân tử đường) góp phần vào đặc
tính hòa tan của KGM [23], [24], [55].
Trọng lượng phân tử thường dao động từ 200000 – 2000000 Dalton hoặc có
thể hơn [27].
Hình 1.1. Cấu trúc phân tử của KGM (Okimasu và Kishida, 1982)
Trong củ nưa, KGM có thể được tìm thấy trong các dị bào, với đường kính
khoảng 0,5-2 mm, to hơn các hạt tinh bột 10 đến 20 lần [20].
Người ta có thể sản xuất bột KGM bằng cách loại bỏ tạp chất bằng nước
hoặc ethanol.
II. GIÁ TRỊ CÂY NƯA
Cây nưa không chỉ được dùng để chế biến các món ăn truyền thống mà còn
được sử dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực, đặc biệt là y học.
1. Về giá trị thực phẩm
7
Đề tài NCKH sinh viên
Từ lâu, con người đã sử dụng cây nưa như là một loại rau xanh. Nó thường
có mặt trong các bữa ăn của người Việt Nam, nhất là các tỉnh miền Trung. Đây
là một loại thực phẩm đầy dinh dưỡng và không độc.
Thân cây nưa sau khi thu hoạch xong, cạo sạch hoặc cắt vỏ ngoài rồi thái lát
nhỏ, đem nấu canh với cá trê, cá lóc hoặc tôm ăn rất ngon, nếu có thêm vài ngọn
lá lốt nữa thì càng tuyệt vời.
Ngoài ra, sau khi cắt lát mỏng, ta có thể ngâm muối để ăn từ từ hoặc cắt sợi
dài để làm dưa chua, giống như dưa môn.
Về phần củ nưa, theo nhiều nghiên cứu, tỉ lệ tinh bột chiếm đến hơn 50%,
cao hơn cả khoai sọ [37]. Do đó, cây nưa cũng được xem là cây lương thực.
Trước đây, nhân dân ta thường trồng nưa lấy củ để ăn thay cơm.
Tinh bột củ nưa có giá trị dinh dưỡng cao, nhờ vậy mà chúng được sử dụng
làm nguyên liệu cho các ngành công nghiệp sản xuất như kẹo bánh, miến, mì,
thạch rau câu

không tiêu. Ngoài ra, củ nưa còn được dùng để trị sốt rét, trục thai chết, mụn
nhọt, sưng tấy [36],[nuachuong].
3. Về giá trị kinh tế
Do tất cả bộ phận của cây nưa đều được tận dụng làm thức ăn cho con
người và gia súc, gia cầm nên nó được xem là một loại cây có giá trị kinh tế cao.
Trồng nưa rất dễ, cũng không tốn phân bón, công chăm sóc lắm, chỉ cần bón
phân chuồng lúc đầu và nhổ cỏ thường xuyên. Cây nưa cũng ít bị sâu bệnh phá
hoại nên không cần phun thuốc trừ sâu.
Theo người dân xã Quảng Thọ, huyện Quảng Điền: trừ chi phí giống và
công làm đất ban đầu, thì sau mỗi vụ thu hoạch, họ thu được từ 5-7 triệu đồng/ 1
sào (1 sào ở Trung Bộ là 500m
2
), cao hơn cả trồng lúa.
9
Đề tài NCKH sinh viên
Tận dụng được nguồn đất đai màu mỡ và nhu cầu của người tiêu dùng, nhờ
trồng nưa mà nhiều nông dân ở xã Quảng Thọ đã thoát được cảnh nghèo khó và
vươn lên làm giàu. Hi vọng rằng trong một thời gian không xa, cây nưa sớm trở
thành một trong những cây trồng kinh tế chủ đạo của địa phương và phân bố
rộng khắp trên cả nước.
III. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CÂY NƯA Ở TRONG NƯỚC VÀ TRÊN
THẾ GIỚI
1. Tình hình nghiên cứu trên thế giới
Nhìn chung, các nghiên cứu về cây nưa đều tập trung chủ yếu ở phần thân
củ, mà quan trọng nhất là thành phần Glucomannan.
Ở Nhật Bản, từ lâu, người ta đã tìm hiểu công dụng của Glucomannan chiết
xuất từ củ nưa, và đề nghị phụ nữ châu Á nên dùng glucomannan như là một loại
thực phẩm bổ sung để có thân hình thon gọn, và đã có rất nhiều nghiên cứu được
tiến hành để chứng minh hiệu quả của nó [50].
Khi liên quan đến tác dụng chống béo phì, người ta thấy nó hỗ trợ trong

tương tự: cholesterol trong huyết tương (plasma cholesterol), LDL-C, tỉ lệ
TC/HDL-C đã được giảm đáng kể; đồng thời, nồng độ sterol trung tính và acid
mật lại tăng lên [11].
Bên cạnh những tác dụng của KGM như đã kể ở trên, một vài nghiên cứu
gân đây cũng tập trung vào việc tìm ra tác dụng của nó đối với các bệnh về dị
ứng, chẳng hạn như: viêm da dị ứng, viêm mũi dị ứng, hen suyễn tuy nhiên,
những tác dụng này vẫn còn đang được đánh giá, điều tra để làm rõ hơn [12].
2. Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam
Ở Việt Nam, chưa có nhiều nghiên cứu sâu về cây nưa (Konjac), tuy nhiên,
đã từ lâu, trong y học cổ truyền đã đưa củ nưa vào trong các đơn thuốc trị bệnh.
Theo Tạp chí về Dược liệu và sức khỏe cộng đồng, cây nưa có nguồn gốc từ
Nhật Bản. Nó chứa chất glucomannan, một gel thực vật không thể đồng hoá, có
11
Đề tài NCKH sinh viên
tác dụng gây chán ăn. Chất này có thể hút nước nhiều gấp một trăm lần lượng
nước của chúng. Độ nhớt của cây làm giảm khả năng hấp thụ mỡ và đường ở
ruột. Hơn nữa nó làm tăng nhu động ruột, chống táo bón, hiện tượng mà người ta
hay gặp phải khi ăn kiêng. Đây là một cây hoàn toàn vô hại.[32].
Do đó, trong các đơn thuốc, thành phần củ nưa thường xuyên có mặt với
nhiều tên gọi khác nhau, như xà lục cốc, củ chột nưa,
Bên cạnh đó, với những tác dụng hữu ích như đã kể trên, nhiều nhà sản xuất
cũng đã đưa Glucomannan (củ Konjac) vào các sản phẩm của mình, như các loại
thuốc, thực phẩm chức năng, ví dụ như: Konjac Glucomanan, cốm bột Berlisol,
Cofee weight loss, Hunger Suppressant, Cofee weight loss, Konjac Root,
Gần đây nhất, TS. Nguyễn Văn Dư và cộng sự ở Viện Sinh thái và Tài
nguyên sinh vật đã có nghiên cứu về các cây thuộc chi Amorphophallus với kết
quả bước đầu là đưa ra qui trình nhân giống, trồng và quản lý sau thu hoạch củ
cây Nưa, từ đó đặt cơ sở cho những nghiên cứu về sau.
12
Đề tài NCKH sinh viên

+ Quảng Thọ - Quảng Điền – TTH
- Diện tích trồng là 30m
2
, được chia thành 3 lô, mỗi lô tương ứng với 10 m
2
;
mật độ trồng là 50x50 cm.
- Quy trình trồng và chăm sóc theo chế độ canh tác của người dân địa
phương.
- Tại mỗi địa điểm, chọn ra 30 cây để theo dõi.
- Các chỉ tiêu theo dõi: tỉ lệ nảy mầm của củ, tỉ lệ sống của cây; thời gian ra
chồi, thời gian sinh trưởng; chiều cao thân, đường kính thân, chiều dài lá (2
tuần/lần); xác định khối lượng tươi, khối lượng khô của các chột và củ nưa tại
thời điểm thu hoạch, xác định năng suất lý thuyết (NSLT), năng suất thực tế
(NSTT) của chột 1, chột 2, chột 3; xác định năng suất lý thuyết, năng suất thực tế
của củ nưa.
1.2. Phương pháp nghiên cứu
1.2.1. Tỉ lệ nảy mầm
14
Đề tài NCKH sinh viên
- Củ nưa sau khi thu hoạch về, lựa ra những củ chính và củ nhánh còn
nguyên vẹn, không bị dập nát hay sâu bênh; đặt ở nơi khô ráo, thoáng mát.
- Theo dõi và đếm số lượng củ nảy mầm rồi tính tỉ lệ nảy mầm trên toàn bộ
củ quan sát.
1.2.2. Tỉ lệ sống của cây
Sau khi giâm củ, đếm số lượng chồi mọc trong tổng số củ đã giâm.
1.2.3. Thời gian sinh trưởng của cây
Thời gian sinh trưởng của cây nưa được tính từ lúc các chột (1, 2, 3) bắt đầu
mọc cho đến thời điểm thu hoạch (đơn vị: ngày).
1.2.4. Một số chỉ tiêu sinh trưởng

2
, sau đó năng suất củ được quy về diện tích 1 ha.
2. Một số chỉ tiêu hóa sinh của cây nưa
2.1. Một số chỉ tiêu hóa sinh của phần thân (thân giả)
2.1.1 Xác định hàm lượng chất khô [3].
2.1.2. Định lượng vitamin C theo phương pháp chuẩn độ bằng Iod [3].
2.1.3. Định lượng cellulose theo phương pháp thủy phân bằng acid [1], [3].
2.1.4. Định lượng N tổng số theo phương pháp Kjeldahl [9].
2.1.5. Định lượng K tổng số bằng phương pháp quang phổ hấp thụ nguyên tử
AAS [4].
2.1.6. Định lượng phospho tổng số theo phương pháp so màu [9].
2.2. Một số chỉ tiêu hóa sinh của củ nưa (củ chính và củ nhánh)
2.2.1. Xác định hàm lượng chất khô [3].
2.2.2. Định lượng đường tổng số [1].
2.2.3. Định lượng cellulose theo phương pháp thủy phân bằng acid [1], [3].
2.2.4. Định lượng lipid theo phương pháp Soxhlet [1].
2.2.5. Định lượng protein theo phương pháp Bradford [1].
Mẫu tươi (1gam) sau khi nghiền thì cho vào 2 ống effendolf, thêm 500µl
đệm chiết Arakawa(có trừ lượng cho vào mẫu trong quá trình nghiền), sau đó
đem Vortex trong 10 phút rồi ủ trong tủ lạnh ở nhiệt độ 4
o
C , để khoảng 1 giờ.
Tiếp đó, ta đem ly tâm mẫu ở 4
o
C, trong 15 phút (15.000 vòng/ phút).
Hàm lượng protein được xác định bằng cách đo hấp thụ quang của dịch
chiết protein ở bước sóng λ= 595nm và tính toán theo đường chuẩn Albumin
huyết thanh bò.
16
Đề tài NCKH sinh viên

- P
1
= P
TB
(g). Đó là lượng tinh bột có trong
50 ml dịch lọc tức là của một gam nguyên liệu (vì 2 g nguyên liệu rút ra 100 ml
dịch lọc). Vậy hàm lượng tinh bột/100 g nguyên liệu sẽ là:
100
100
)(
%
12
×

=
PP
P
2.2.7. Xác định hàm lượng Glucomannan thô từ củ theo phương pháp phenol–
acid sulfuric [9], [18].
Nguyên tắc
Dựa vào phản ứng tạo màu của các đường với phenol và H
2
SO
4
, dung dịch
tạo thành có độ hấp thụ cực đại tại bước sóng λ = 490 nm.
17
Đề tài NCKH sinh viên
Tiến hành
+ Xây dựng đường chuẩn

dung dịch mẫu là 10 mg/ml (10000 µg/ml).
- Lấy 0,75 ml dung dịch trên pha thành 100 ml thu được dung dịch mẫu có nồng
độ 75 µg/ml.
- Lấy 1 ml dung dịch trên cho vào ống nghiệm có nút đậy kín. Thêm vào 1 ml
dung dịch phenol 5%, 5 ml dung dịch H
2
SO
4
đậm đặc, lắc đều ống nghiệm.
- Đặt ống nghiệm vào cốc nước sôi trong 2 phút, sau đó làm lạnh các ống nghiệm
ở nhiệt độ phòng trong 30 phút.
- Đo độ hấp thụ (A) của các dung dịch này. Kết hợp với phương trình đường
chuẩn, suy ra tổng carbohydrate có trong mỗi mẫu thí nghiệm.
IV. PHƯƠNG PHÁP XỬ LÝ SỐ LIỆU
Số liệu được xử lý bằng phần mềm SAS và MS.Excel.
18
Đề tài NCKH sinh viên
Phần 3.
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
I. MỘT SỐ CHỈ TIÊU SINH LÍ CỦA CÂY NƯA
1. Tỉ lệ nảy mầm
Nảy mầm là trạng thái sinh lý bình thường của củ, có thể xem đây là thời
điểm bắt đầu quá trình sinh trưởng và phát triển của cây. Khoảng thời gian tính
từ lúc thu hoạch cho đến khi nảy mầm gọi là thời gian ngủ nghỉ của củ. Ở những
đối tượng khác nhau thì thời gian ngủ nghỉ cũng khác nhau.
Đối với củ nưa, sau khoảng 3 đến 4 tháng thì sẽ nảy mầm, tùy vào thời gian
mà chiều dài mầm có thể chênh lệch từ 3-7 cm.
Trong số 100 củ (30 củ chính và 70 củ nhánh) mà chúng tôi quan sát, có
đến 68 củ nhánh nảy mầm, chiếm tỉ lệ 97,1%; còn củ chính là 100%.
Như vậy, so với các loại hạt, loại củ khác thì tỉ lệ nảy mầm ở đây cũng khá

thể hiện qua bảng 3.3 và 3.4:
Bảng 3.3. Thời gian sinh trưởng của cây nưa ở Quảng Thọ (đơn vị: ngày)
Loại chột Thời gian ra chột
Thời gian sinh trưởng
của chột (ngày)
Chột 1 15±4 66±4
Chột 2 53±4 88±4
Chột 3 85±6 69±6
Chột 4 125±2 30±2
- Thời gian bắt đầu trồng (06/06/2011)
20
Đề tài NCKH sinh viên
- Thời gian ra chột được tính từ ngày giâm củ đến ngày bắt đầu hình thành chột.
- Thời gian sinh trưởng của chột được tính từ ngày chột hình thành đến ngày thu
hoạch.
*: Thời gian sinh trưởng của chột 4 không chính xác vì người dân thu hoạch
chột 4 cùng lúc với chột 3 và tỉ lệ ra chột 4 là rất thấp (14%).
Bảng 3.4. Thời gian sinh trưởng của cây nưa ở Quảng Phú (đơn vị: ngày)
Loại chột Thời gian ra chột
Thời gian sinh trưởng
của chột (ngày)
Chột 1 20±10 77±10
Chột 2 50±3 59±3
Chột 3 84±8 54±8
- Thời gian bắt đầu trồng (06/06/2011)
- Thời gian ra chột được tính từ ngày giâm củ đến ngày bắt đầu hình thành chột.
- Thời gian sinh trưởng của chột được tính từ ngày chột hình thành đến ngày thu
hoạch.
Nhìn vào số liệu bảng 3.3 và 3.4, chúng tôi thấy rằng thời gian ra chột của
cây nưa ở Quảng Phú chênh lệch không nhiều so với ở Quảng Thọ (chột 1 cách

Chiều cao thân
TB
Đường kính thân
TB
Chiều dài lá TB
Tuần 1 (BĐ) 7,0
e
-
Tuần 4 18,4
d
1,64
c
25,0
d
Tuần 6 30,1
c
2,20
b
31,5
c
Tuần 8 35,5
b
2,27
b
37,2
b
Tuần 10 37,8
a
2,47
a

Hình 3.2. Đường kính thân của chột 1 (xã Quảng Thọ)
Chiều dài lá: trong suốt quá trình sinh trưởng, chiều dài lá chột 1 cũng tăng
trưởng rất đều đặn. Trong tuần đầu, do lá thật được bọc trong bao nên chúng tôi
không đo được. Sang tuần thứ 4, chiều dài lá đã đạt 25 cm, và đến tuần 6 tăng lên
31,5 cm. Như vậy, trong 14 ngày này, chiều dài lá đã tăng 6,5 cm. Trong giai
đoạn từ tuần 8 đến tuần 10, chiều dài lá cũng có tăng nhưng mức độ tăng trưởng
lại chậm dần. Đến tuần thứ 10, chiều dài lá đạt 40,6 cm, chỉ tăng 3,4 cm so với
tuần 8.
 Chột 2
Tính từ lúc bắt đầu mọc (khoảng 30 ngày sau khi giâm củ), chột 2 cũng trãi
qua quá trình sinh trưởng tương tự chột 1, tuy nhiên thời gian sinh trưởng lại dài
hơn đến 1 tháng. Điều này được thể hiện ở bảng 3.6
Bảng 3.6. Chiều cao thân, đường kính thân, chiều dài tán của chột 2 ở xã
Quảng Thọ
Chỉ tiêu Chiều cao thân
TB
Đường kính thân
TB
Chiều dài lá TB
24
Đề tài NCKH sinh viên
Thời gian*
Tuần 1 9,4
f
- 12,3
f
Tuần 4 29,8
e
1,81
d

72,5
a
*: thời gian được tính từ lúc chột 2 bắt đầu mọc (khoảng 10/07)
“-”: không xác định
Các chữ cái trong cùng một cột chỉ sự sai khác có ý nghĩa thống kê với p<0,05
Chiều cao thân:
Hình 3.3. Chiều cao thân của chột 2 (xã Quảng Thọ)
Theo số liệu bảng 3.6 và hình 3.3, chiều cao thân chột 2 tăng trưởng đều
đặn từ khi bắt đầu mọc cho đến tuần 10. Trong đó, khoảng thời gian từ tuần thứ
nhất đến tuần thứ 4 là tăng mạnh, chỉ trong 3 tuần, chiều cao đã tăng lên 20,4 cm
25

Trích đoạn Hàm lượng tinh bột và KGM Chỉ tiêu sinh hóa của nưa
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status