ĐỀ TÀI Đánh giá tình trạng dinh dưỡng và một số yếu tố liên quan của học sinh trường THCS Thanh Tuyền, Phủ Lý, Hà Nam năm 2014 - Pdf 29

Nhóm 3 TTYTDP & Chi cục ATTP Hà Nam
BÀI TẬP LỚN
Tên đề tài:
“Đánh giá tình trạng dinh dưỡng và một số yếu tố liên quan của học sinh trường
THCS Thanh Tuyền, Phủ Lý, Hà Nam năm 2014”.
I. Đặt vấn đề
Theo tổ chức y tế thế giới (WHO), lứa tuổi vị thành niên bắt đầu từ 10- 19. Ở độ
tuổi này, sự phát triển của hệ thần kinh và nội tiết, hoạt động của các hoocmon nam và
nữ đã làm cho con người có sự phát triển nhảy vọt về thể lực, hình thái cơ thể cũng
như trí tuệ, tình cảm và các đặc điểm tâm lí và các mối quan hệ xã hội [12].
Lứa tuổi vị thành niên là giai đoạn chuyển tiếp từ trẻ thơ sang giai đoạn trưởng
thành, sự thay đổi về tâm lý, chuẩn bị cho cho giai đoạn phát triển đầy đủ của cơ thể,
hoàn thiện các cơ quan nên yếu tố dinh dưỡng rất quan trọng. Ngoài yếu tố gen di
truyền, môi trường tâm lý, rèn luyện thể lực thì dinh dưỡng đóng góp 32% vào sự
quyết định tầm vóc của trẻ trong tương lai [13]. Khi thiếu dinh dưỡng sẽ ảnh hưởng
đến khả năng học tập, tiềm năng phát triển thể lực cũng như sức sáng tạo của trẻ trong
tương lai [5]. Lứa tuổi này trẻ cũng bắt đầu tự chủ hơn trong việc lựa chọn khẩu phẩn
ăn cũng như tự quyết định thói quen sinh hoạt, bớt phụ thuộc vào cha mẹ.
Có thể thấy sự quan tâm của cộng đồng và Nhà nước đối với lứa tuổi vị thành niên
thông qua các chương trình về dinh dưỡng trong đề án “Nâng cao tầm vóc và thể lực
người Việt Nam” hay việc đưa giáo dục dinh dưỡng vào trường học. Tuy vậy, các
nghiên cứu về dinh dưỡng lứa tuổi vị thành niên còn ít, các nghiên cứu chủ yếu về
dinh dưỡng cho lứa tuổi dưới 5 tuổi hoặc bà mẹ mang thai.
Do vậy, nhóm sinh viên chọn đề tài “Đánh giá tình trạng dinh dưỡng và 1 số yếu
tố liên quan của học sinh trường THCS Thanh Tuyền, Phủ Lý, Hà Nam năm
2014” nhằm đánh giá tình trạng dinh dưỡng của lứa tuổi vị thành niên và nghiên cứu 1
số yếu tố ảnh hưởng tới tình trạng đó tại 1 trường THCS tại Hà Nam.Từ đó đưa ra
những khuyến nghị nhằm cải thiện tình trạng dinh dưỡng lứa tuổi vị thành niên tại Hà
Nam.
II. Mục tiêu nghiên cứu
1. Mục tiêu chung:

dưỡng của lứa tuổi vị thanh niên là yếu tố quan trọng góp phần làm sớm, muộn hay ổn
định các dấu hiệu phát triển sinh lý của trẻ.
2. Suy dinh dưỡng
Lứa tuổi vị thành niên là thời kì phát triển rất nhanh cân nặng cũng như chiều cao,
cả về cơ bắp lẫn dự trữ mỡ…vì vậy nếu bị thiếu ăn, thiếu chăm sóc cũng dễ bị thiếu
dinh dưỡng. Người ta cho rằng 25% chiều cao có được của con người đạt ở lứa tuổi vị
thành niên, kết thúc tuổi dậy thì cũng là kết thúc tăng trưởng về chiều cao [10]. Trẻ em
ở lứa tuổi học đường ít gặp tình trạng thiếu dinh dưỡng nặng, trừ khi nạn đói xảy ra ở
lứa tuổi này, trẻ phát triển chậm hơn với thời kì dưới 5 tuổi. Theo báo cáo 11/2003 của
Bộ y tế, vị thành niên việt nam ở độ tuổi 15 cao trung bình 155cm và nặng 40,9kg, tuy
đã có sự cải thiện so với trước nhưng vẫn thấp hơn tiêu chuẩn của WHO (169cm và
56kg) [1].
Các nguyên nhân gây nên thiếu dinh dưỡng ở trẻ em học đường có thể là: trẻ bị
SDD từ lúc bé; do chế độ ăn hiện tại quá kém; bữa sáng không ăn hoặc ăn quá ít và trẻ
bị đói giữa buổi; trẻ phải đi bộ quá xa để tới lớp hoặc về nhà quá muộn vì quãng
đường dài làm cho đứa trẻ mệt không muốn ăn. Và những trẻ có nguy cơ bị thiếu dinh
dưỡng là trẻ từ các gia đình nghèo, bố mẹ thất nghiệp, bố mẹ đi làm ăn xa hoặc trẻ ăn
nhiều quà vặt như bánh, kẹo nước ngọt [17].
Tại Việt Nam cũng đã có 1 số nghiên cứu về dinh dưỡng lứa tuổi vị thành niên như
nghiên cứu của Trần Thị Xuân Ngọc (2012): Thực trạng và hiệu quả can thiệp thừa
cân béo phì của mô hình truyền thông giáo dục dinh dưỡng ở trẻ em từ 6-14 tuổi tại
2
Nhóm 3 TTYTDP & Chi cục ATTP Hà Nam
Hà Nội cho thấy tỉ lệ SDD ở độ tuổi lên 10 là 13,6%; 19,2% trẻ nam ở tuổi 13 bị suy
dinh dưỡng trong khi đó nữ giới ở độ tuổi này bị thiếu cân là 10,2%. Cũng theo nghiên
cứu này, trong nhóm tuổi 6-14, tỉ lệ thiếu cân cao nhất là ở nhóm tuổi 11 tuổi (15,4%)
và nhóm 13 tuổi (15,3%) [6].
Một nghiên cứu của Nguyễn Văn Thắng năm 2001 đánh giá tình trạng dinh dưỡng
và tập tính dinh dưỡng của lứa tuổi vị thành niên trên 300 học sinh từ 12-15 tuổi tại
trường THCS Ngô Sỹ Liên Hà Nội cho kết quảtỷ lệ SDD là 11,9%. Phần lớn các hành

tại Bình Định của Hà VănThiệu ở trẻ 6 đến 15 tuổi có 16% trẻ thừa cân béo phì bị tổn
thương tâm lý [11].
4. Các yếu tố ảnh hưởng tới tình trạng dinh dưỡng của trẻ
3
Nhóm 3 TTYTDP & Chi cục ATTP Hà Nam
Các yếu tố ảnh hưởng tới tình trạng dinh dưỡng lứa là kinh tế xã hội; yếu tố môi
trường; khẩu phần; kiến thức, thực hành về dinh dưỡng và tập quán của trẻ…
Một trong những biểu hiện của tình trạng kinh tế - xã hội đó là thu thập. Thu nhập
cao, cuộc sống bớt khổ cực nên con người có điều kiện chăm sóc, cải thiện bữa cơm
gia đình, có điều kiện mua vật dụng hỗ trợ làm việc nhà Một nghiên cứu ở Malaysia
(1997) cho thấy các gia đình có thu nhập thấp thì có nguy cơ nhẹ cân và thấp còi hơn
gia đình có thu nhập cao. Kích cỡ gia đình cũng ảnh hưởng tới tình trạng dinh dưỡng
của trẻ [4].
Để đảm bảo cho cơ thể phát triển tốt, yếu tố quan trọng là chế độ dinh dưỡng. Khi
có thu thập tốt thì con người thường nghĩ tới cải thiện bữa ăn sao cho ăn ngon và bổ.
Nhiều công trình nghiên cứu cho thấy ăn uống hợp lý là yếu tố căn bản cho thấy sự
tăng trưởng và phát triển. Năng lượng chất đạm, đường, béo, vitamin và các yếu tố vi
lượng cần được cung cấp đầy đủ và cân đối để trẻ em, trẻ vị thành niên phát triển
mạnh khỏe [22].
Ở lứa tuổi vị thành niên đã biết chăm lo về sức khỏe của chính mình, do vậy gia
đình thiếu sự quan tâm tới sự sinh hoạt tới trẻ.Vì vậy trẻ có thể hiểu biết khác nhau về
dinh dưỡng, có thể hiểu đúng hoặc sai. Những hiểu biết và thói quen dinh dưỡng của
trẻ ảnh hưởng tới cách chọn đồ ăn, cách ăn uống và cuối cùng ảnh hưởng tới tình
trạng dinh dưỡng của trẻ. Một nghiên cứu của Trần Thị Hồng Loan (1998) cho thấy trẻ
ăn nhiều đồ ngọt, thức ăn giàu chất béo, đồ ăn vặt vào ban đêm có dấu hiệu thừa cân
và ngược lại những trẻ sợ béo, bỏ bữa thường là những trẻ thiếu dinh dưỡng [5]. Thói
quen sinh hoạt cũng ảnh hưởng tới tình trạng dinh dưỡng. Theo báo cáo của tổ chức
Pan American Health Organization (PAHO), bệnh giun ảnh hưởng đến hàng triệu trẻ
nhỏ ở châu Mỹ La Tinh và vùng Caribê. Bệnh gây nên bởi giun đường ruột bao gồm
thiếu máu, thiếu vitamin A, SDD chung đặc biệt là SDD thấp còi, về lâu dài ảnh

d: sai số mong muốn: 5%
Vậy theo công thức ta có n=1,96
2
= 127 học sinh.
Với giả thiết là 10% đối tượng không tham gia vào nghiên cứu.Vậy cỡ mẫu tính được
là 139.Lấy tròn là 140 học sinh.
3. Phương pháp chọn mẫu
Tại trường THCS Thanh Tuyền, Phủ Lý, Hà Nam, được sự đồng ý của ban giám
hiệu nhà trường và phụ huynh học sinh, nhóm tiến hành cân đo và phát vấn tại 4 khối
lớp 6, 7, 8, 9. Tại mỗi khối chọn ngẫu nhiên một lớp để cân đo và phát vấn. Mỗi lớp
chọn ngẫu nhiên 35 học sinh. Như vậy tổng cộng có 140 học sinh được chọn vào điều
tra nghiên cứu.
4. Phương pháp thu thập số liệu
4.1. Công cụ thu thập số liệu
• Bộ câu hỏi
Sử dụng bộ câu hỏi tự điền. Bộ câu hỏi được thiết kế gồm 4 phần: thông tin chung,
thói quen ăn uống, thói quen sinh hoạt, sự quan tâm tới tinh trạng dinh dưỡng của bản
thân.
Xây dựng bộ câu hỏi: các câu hỏi xây dựng dựa trên đặc điểm, các yếu tố liên quan
tới tình trạng dinh dưỡng của trẻ vị thành niên.
5
Nhóm 3 TTYTDP & Chi cục ATTP Hà Nam
Phỏng vấn thử và hoàn thiện bộ câu hỏi: sau khi bộ câu hỏi được xây dựng xong,
phỏng vấn thử 5 học sinh trường THCS Nguyễn Trãi, mỗi học sinh được điều tra hai
lần với bộ câu hỏi này để tìm sai sót và chỉnh sửa nội dung bộ câu hỏi cho phù hợp.
• Đo chỉ số nhân trắc
- Thước đo gỗ.
- Cân điện tử Karandascan.
4.2. Thực hiện thu thập số liệu
Nhóm lập kế hoạch cân đo, xin giấy giới thiệu của TTYTDP Hà Nam, đồng thời đề

+ Đối tượng bỏ guốc dép, đi chân không, đứng quay lưng vào thước đo.
+ Đảm bảo 5 điểm chạm lên bề mặt thước: Chẩm, vai, mông, bắp chân,
gót chân. Mắt nhìn thẳng theo một đường thẳng nằm ngang, hai tay bỏ thẳng hai bên
mình. Chỉnh thanh trên đỉnh đầu sát vào đỉnh đầu trẻ, mắt nhìn thẳng đọc kết quả đo.
 Phát vấn
Phát vấn 140 em học sinh được cân theo mẫu (Chi tiết tại phụ lục 17 )
5. Các biện pháp khống chế sai số:
Các số liệu nhân trắc: các điều tra viên cố định cân, đo với việc sử dụng cùng loại cân,
cùng loại thước và trẻ được cân, đo trong cùng một thời gian (từ 8:00 đến 10:00 sáng).
Nhằm đảm bảo chất lượng số liệu điều tra, nhóm sinh viên kiểm tra tất cả các số liệu
của các mẫu phiếu điều tra trong ngày, nếu phát hiện các số liệu bất thường, phiếu sẽ
được gửi trả lại học sinh để học sinh thực hiện lại phiếu câu hỏi.
Số liệu được làm sạch trước khi nhập vào máy tính.
6. Xử lý và phân tích số liệu:
Các số liệu nhân trắc sẽ nhập vào phần mềm Antro để tính BMI theo tuổi và giới.
Các thông tin trong phiếu phát vấn, BMI theo tuổi và giới sẽ kiểm tra làm sạch số liệu
thô và mã hóa,xây dựng chương trình nhập số liệu thích hợp và xử lý trên phần mềm
SPSS.
7. Các biến số nghiên cứu
Bảng 4: Bảng biến số
STT Tên chỉ số Định nghĩa Chỉ số đánh giá Phân loại
Thông tin chung
1 Tuổi Là số năm dương
lịch từ khi sinh ra tới
năm thực hiện nghiên
cứu của đối tượng.
Theo quy định của
WHO, 1 năm 1 tuổi
Liên tục
2 Giới Là giới tính của đối

nguyệt
Tỷ lệ có kinh
nguyệt ở các em
gái
Nhị phân
6 Số anh chị em trong
gia đình
Số anh em trong gia
đình người trả lời,
tính cả người trả lời:
Con duy nhất
2 người
≥ 3 người
Tỷ lệ số con trong
gia đình.
Định danh
7 Nghề nghiêp của
phụ huynh
Nghề hiện đang làm
tạo thu nhập chính:
Cán bộ
Công nhân
Làm ruộng
Nghề khác
Tỷ lệ nghề nghiệp Định danh
II. Thói quen ăn uống của đối tượng
8 Thói quen ăn sáng Mức độ bỏ bữa sáng
của đối tượng:
Hiếm khi
Thỉnh thoảng (1-2

12 Phương tiện tới
trường
Phương tiện chủ yếu
của đối tượng thường
đi đến trường
Tỷ lệ phương tiện
tới trường
Định danh
13 Thời gian học bài Thời gian học ở
ngoài trường của đối
tượng tính thời gian
Thời gian trung
bình học bài của
đối tượng.
Liên tục
8
Nhóm 3 TTYTDP & Chi cục ATTP Hà Nam
học thêm và tự học
tại nhà
14 Thói quen tham gia
các hoạt động thể
dục thể thao
Mức độ tham gia
hoạt động thể dục thể
thao của đối tượng:
Hiếm khi, thỉnh
thoảng, thường
xuyên
Tỷ lệ mức độ học
sinh tham gia hoạt

dưỡng
Trong 1 năm qua, bố
mẹ đối tượng có hỏi
thăm về cân nặng,
chiều cao của đối
tượng không.
Tỷ lệ học sinh
được phụ huynh
hỏi về cân nặng,
chiều cao.
Nhị phân
18 Quan tâm của phụ
huynh tới chế độ ăn
Trong 1 tháng qua,
bố mẹ đối tượng có
nhắc nhở về việc ăn
uống hay không
Tỷ lệ học sinh
được phụ huynh
nhắc nhở về ăn
uống
Nhị phân
19 Quan tâm tới thông
tin liên quan tới
dinh dưỡng
Đối tượng có nghe
các thông tin liên
quan tới dinh dưỡng
Tỷ lệ học sinh
nghe các thông tin

Nghề nghiệp N %
Mẹ (n=140) Cán bộ viên chức 3 2,1
Công nhân 21 15,0
Làm ruộng 109 77,9
Khác 7 5
Bố (n=137) Cán bộ viên chức 3 2,2
Công nhân 15 10,9
Làm ruộng 110 78,6
Khác 9 6,4
Nhận xét: Nghề nghiệp của cha mẹ đối tượng nghiên cứu chủ yếu là làm ruộng. Trong
đó 77,9% số bà mẹ làm ruộng, 15% làm công nhân và chỉ có 2,1% làm cán bộ viên
chức.
Bảng 7: Số con trong gia đình và vị trí của đối tượng
10
Nhóm 3 TTYTDP & Chi cục ATTP Hà Nam
N %
Số con (n=140)
1 người 4 2,9
2 người 69 49,3
≥ 3 người 67 47,9
Vị trí trong
anh/chị/em (n=136)
Con cả 43 31,6
Con thứ 44 32,4
Con út 49 35
Nhận xét: Gia đình của đối tượng chủ yếu có 2 anh chị em, chiếm 49,3%. Số gia đình
có từ 3 người con trở lên là 47,9% và chỉ có 4 em là con một, chiếm 2,9%.
2. Các kết quả mô tả cắt ngang
2.1. Tình trạng thể lực của học sinh
Bảng 8: Giá trị trung bình về cân nặng, chiều cao của học sinh 11-14 tuổi

Tuổi Giới
tính
n Thiếu dinh
dưỡng
Bình thường Thừa cân, béo
phì
n % n % n %
11 Nam 17 1 5,9% 15 88,2% 1 5,9%
Nữ 18 0 0% 18 100% 0 0%
Chung 35 1 2,9% 33 94,2% 1 2,9%
12 Nam 16 1 6,2% 13 81,2% 2 12,5%
Nữ 19 3 15,8% 16 84,2% 0 0
Chung 35 4 11,4% 29 82,9% 2 5,7%
13 Nam 16 4 25% 8 50% 4 25%
Nữ 19 2 10,5% 15 78,9% 2 10,5%
Chung 35 6 17,1% 23 65,7% 6 17,1%
14 Nam 17 4 23,5% 13 76,5% 0 0
Nữ 18 4 22,2% 14 77,1% 0 0
Chung 35 8 22,9% 27 77,1% 0 0
Chung Nam 66 10 15,2% 49 74,2% 7 10,6%
Nữ 74 9 12,2% 63 85,1% 2 2,7%
Chung 140 19 13,6% 112 80% 9 6,4%
Nhận xét:
Tỷ lệ suy dinh dưỡng ở đối tượng nghiên cứu trường THCS Thanh Tuyền, Hà
Nam là 13,6% cao hơn tỷ lệ SDD của trẻ ở nghiên cứu của Trần Thị Xuân Ngọc là
12,7%. Ở đối tượng nam trong nghiên cứu là 15,2% ,ở đối tượng nữ là 12,2%. Cao
nhất là ở đối tượng nam 13 tuổi (25%), thấp nhất ở nữ 11 tuổi (0%). Trong khi đó tỷ lệ
thừa cân tại nghiên cứu là 6,4%, thấp hơn so với cùng nghiên cứu trên của Trần Thị
Xuân Ngọc là 10,3%. Ở nam là 10,6% còn ở nữ tỷ lệ này là 2,7%.
13

Không ăn vặt 19,6% 10,5% 0%
100% 100% 100%
Ở nhóm SDD số lượng trẻ ăn vặt chiếm 89,5% lớn hơn rất nhiều so với số không
ăn vặt là 10,5%. Trong khi đó ở nhóm thừa cân 100% đối tượng có ăn vặt.
Bảng12: Thói quen được gia đình cho tiền tiêu vặt và tình trạng dinh dưỡng
Bình thường SDD Thừa cân
Hiếm khi 60 (53,6%) 12 (63,2%) 7 (77,8%)
Thỉnh thoảng 40 (35,7%) 7 (36.8%) 2 (22,2%)
Thường xuyên 12 (10.7%) 0 0
112 (100%) 19 (100%) 9 (100%)
Bảng: Thói quen uống sữa với tình trạng dinh dưỡng
Bình thường Suy dinh dưỡng Thừa cân
Hiếm khi 61 (54,5%) 6 (35,3%) 4 (44,4%)
Thỉnh thoảng 32 (28.6% 9 (52,9%) 4 (44,4%)
Thường xuyên 19 (17%) 2 (11,8%) 1 (11,1%)
15
Nhóm 3 TTYTDP & Chi cục ATTP Hà Nam
100% 100% 100%
Bảng: Thói quen thể dục thể thaoo với tình trạng dinh dưỡng
Bình thường SDD Thừa cân
Hiếm khi 51 (45,9%) 11 (54,7%) 6 (66,7%)
Thinh thoảng 49 (44.1%) 6 (35,3%) 3 (33,3%)
Thường xuyên 11 (9.9%) 0 (0%) 0 (0%)
2.4. Thói quen sinh hoạt
Bảng 13: Phương tiện tới trường và khoảng cách từ nhà tới trường
N % Khoảng cách tới trường (km)
Người thân
chở tới
4 2,9% 1,2
Xe đạp 109 79,0% 1,7

nhiều nhiều tỷ lệ trẻ có tẩy giun.
Bảng: Thói quen rửa tay với tình trạng dinh dưỡng
Rửa tay trước
khi ăn
Bình thường SDD Thừa cân Tổng
Hiếm khi 16 (14,4%) 7 (41,2%) 1 (11,1%) 24 ( 17,1%)
Thỉnh thoảng 29 (26.1%) 3 (17,6%) 4 (44,4%) 36 (27,7%)
Thường xuyên 66 (59.6%) 7 (41,2%) 4 (44,4%) 78 (56,9%)
Tổng 100% 100% 100% 100%
Rửa tay sau khi
đi vệ sinh
Bình thường SDD Thừa cân
Hiếm khi 5 (4,5%) 4 (23,5%) 0 (0%)
Thỉnh thoảng 10 (9,0%) 0 (0%) 1 (11,1%)
Thường xuyên 96 (86,6%) 13 (76,5%) 8 (88.9%)
Tổng 100% 100% 100%
Rửa tay bằng gì Bình thường SDD Thừa cân
Xà phòng và nước
sạch
78 (70,3%) 13 (76,5%) 8 (88.9%)
Nước sạch 33 (29,7%) 4 (23,5%) 1 (11,1%)
111 (100%) 17 (100%) 9 (100%)
Thực hành rửa tay của các em khá tốt, Có đến 85,4% các em thường xuyên rửa
tay sau khi đi vệ sinh. tuy nhiên việc rửa tay trước khi ăn không được quan tâm, cụ thể
là chỉ có 56,9% các em thường xuyên rửa tay trước khi ăn.
2.5. Sự quan tâm đối với dinh dưỡng
Bảng 17: Sự quan tâm tới tình trạng dinh dưỡng của đối tượng
N %
Cân nặng (n=) Khám SK tại
trường

tỷ lệ thông tin qua loa đài thấp (chỉ 1,4% số đối tượng biết thông tin qua loa đài).
Tuy nhiên, mặc dù có biết được những thông tin về dinh dưỡng nhưng chỉ
68,9% các em làm theo.
Bảng 18: Sự quan tâm của phụ huynh tới tình trạng dinh dưỡng và chế độ dinh dưỡng
của trẻ
N %
Hỏi về cân nặng, chiều cao 95 69,9
Nhắc nhở ăn uống 119 87,5
Nhận xét:
18
Nhóm 3 TTYTDP & Chi cục ATTP Hà Nam
Phụ huynh của các đối tượng cũng đã có sự quan tâm đến tình trạng của con em
mình. Cụ thể, 69,9% các em được hỏi về cân nặng chiều cao, hầu hết các em được
nhắc nhở việc ăn uống (87,5%).
VI.KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ
1. KẾT LUẬN
Tình trạng dinh dưỡng của học sinh: tỷ lệ suy dinh dưỡng lứa tuổi học sinh THCS
tương đối cao.
Tỷ thiếu dinh dưỡng ở học sinh trường THCS Liêm Tuyền là 13,6%; Trong đó tỷ
lệ thiếu dinh dưỡng ở học sinh nam là 15,2% và ở học sinh nữ là 12,2%. Tỷ lệ SDD
cao nhất là ở nhóm học sinh 15 tuổi với tỷ lệ SDD là 22,9%, thấp nhất là ở nhóm 12
tuổi: 2,9%
Tỷ lệ thừa cân, ở nhóm học sinh trong nghiên cứu là 6,4%. Trong đó tỷ lệ béo phì ở
học sinh nam là 10,6% còn ở nữ là 2,7%. Nhóm 14 tuổi có tỷ lệ thừa cân cao nhất:
17,1%.
Sự tăng trưởng thể lực của nam lớn hơn của nữ.
Cụ thể, chiều cao và cân nặng của nam lớn hơn nữ cùng độ tuổi.
Tốc độ tăng trưởng chiều cao của nam cao hơn nữ.
Thời gian dậy thì có ảnh hưởng đến sự phát triển chiều cao, cân nặng của nữ sinh
Chiều cao và cân nặng trung bình của những học sinh đã xuất hiện kinh nguyệt cao

Qua các hoạt động đó, nhóm đã học được kỹ năng giám sát, kỹ năng của người đi
kiểm tra và quy trình kiểm tra.
2. Chi cục an toàn thực phẩm tỉnh Hà Nam
Tại Chi cục an toàn thực phẩm, nhóm đã tìm hiểu các chương trình về ATTP đang
và đã được triển khai tại Chi cục, chức năng nhiệm vụ của bốn phòng ban: phòng
thanh tra, phòng hành chính, phòng truyền thông thông tin – quản lý ngộ độc thực
phẩm, phòng đăng ký và chứng nhận sản phẩm. Dưới sự giúp đỡ tận tình của các cán
bộ trong Chi cục nhóm đã được tham gia các hoạt động thực tế như: tổ chức tập huấn
và cấp giấy chứng nhận sản phẩm; thanh tra, kiểm tra việc chấp hành ATTP và lấy
mẫu, thực hiện một số test kiểm tra nhanh trong công tác thanh tra, kiểm tra ATTP.
Ngoài ra nhóm cũng tìm hiểu và tham gia vào các chương trình ATTP: lập kế hoạch
chung cho các hoạt động chuyên môn của Chi cục, tham gia hoạt đông thông tin
truyền thông, tìm hiểu quy trình điều tra giám sát ngộ độc thực phẩm, tìm hiểu thủ tục
cấp phép đối với ba loại giấy phép về ATTP, đánh giá điều kiện vệ sinh ATTP tại bếp
ăn HGĐ và tư vấn thực hành đúng ATTP bếp ăn HGĐ, sử dụng test nhanh để kiểm tra
đánh giá ATTP. Và nhờ đó nhóm học được các bước đi thanh tra, kiểm tra thực tế các
công việc tại chi cục.
Ngoài 06 tuần thực địa trên, 04 tuần còn lại nhóm lựa chọn làm bài tập lớn tại
khoa Dinh dưỡng – TTYTDP Hà Nam. Nhóm đã lập kế hoạch và nhờ sự giúp đỡ của
cán bộ trong khoa và giảng viên hướng dẫn để hoàn thành bài tập.
II. Bài học kinh nghiệm
Trong quá trình thực địa nhóm đã rút ra được nhiều bài học kinh nghiệm quý báu.
Để tham gia tốt hơn vào nhiều hoạt động khoa phòng sinh viên cần chủ động bám sát,
tìm hiều và tham gia vào công việc của cán bộ trong khoa để học tập và tiếp thu kinh
nghiệm. Tạo được mối quan hệ tốt với các cán bộ để được tham gia vào nhiều công
việc hơn. Trước hết các thành viên trong nhóm phải chủ động tìm hiểu đầy đủ thông
tin, kiến thức cho buổi thực địa. Ngoài ra, cần bổ sung thêm kỹ năng giao tiếp văn
20
Nhóm 3 TTYTDP & Chi cục ATTP Hà Nam
phòng. Và sau mỗi buổi làm viêc nhóm cần họp để tổng kết các công việc hàng ngày,

dưỡng của lứa tuổi vị thành niên tại một trường Trung học cơ sở nội thành Hà Nội
năm 2001”, trang 38, 42.
21
Nhóm 3 TTYTDP & Chi cục ATTP Hà Nam
9. Trịnh Thanh Thủy (2001), “Nghiên cứu tình trạng thừa cân béo phì và một số yếu
tố nguy cơ ở học sinh 6-11 tuổi tại quận Đống Đa” Tạp chí Y học thực hành số 774,
trang 129-133.
10. Phan Thị Thủy (1996), “ Tình trạng dinh dưỡng lứa tuổi vị thành niên ở vùng ven biển Lệ
Thủy - Quảng Bình”, trang 6, 28, 53.
11. Hà Văn Thiệu, Bùi Thị Bảy (2005), “Nghiên cứu những bất lợi ở trẻ thừa cân và
béo phì”, Mạng Thông tin Khoa học và Công Nghệ thành phố Hồ Chí Minh.
12. Bùi Thị Thúy (2005), “Tiểu luận một số rối nhiễu tâm lý vị thành niên dưới cái
nhìn của nhà giáo dục”.
13. Nguyễn Văn Tuấn và nhóm tác giả Viện Khoa học Thể dục Thể thao Di truyền
(2006), “Di truyền, sự tương tác giữa di truyền và môi trường - yếu tố quyết định
chiều cao của con người”, Bài viết Chiều cao thân thể - Di truyền và hoàn cảnh đăng
trên Tạp chí Hoạt động Khoa học số 4 năm 2006.
14. Những lưu ý thấy trẻ khi dậy thì sớm, ngày tải 11/11/2014,
/>15. Vị thành niên, ngày tải 11/11/2014, />%8B_th%C3%A0nh_ni%C3%AAn
Tiếng Anh
16. WHO (1995) Physical status: The use and inter pretation of an thropometry. Genava, (tr
263).
17. WHO. The health aspects of food and nutrition. A.manual for developing countries
in the western pacific Region of the WHO.(tr 163-164).
18. Deckenbaum J.R., Williams L. C. (2001). “Childhood obesity: the health issue”.
Obesity research. Vol.9. Supplement 4. pp. 239s-243s.
19. 18.Ha Huy Khoi, Bui Thi Nhu Thuan. Assesment of some physical status of rural
and Ha Noi children.Appied Nutrition 1986, UNICEF/NIN, Ha Noi. (tr 310-321).
20. Mercedes de O., Monika B. (2010). “Global prevalence and trends of overweight
mong preschool children”. American journal of clinical nutrition No. 92, pp. 1257-


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status