bộ giáo dục v đo tạo bộ y tế
trờng đại học y h nội Vũ PHƯƠNG H
TìNH TRạNG DINH Dỡng v một số yếu tố liên quan
của trẻ em dới 2 tuổi vùng dân tộc thiểu số 2 huyện
hớng hóav dakrong, tỉnh quảng trị năm 2010
luận văn thạc sỹ y học dự phòng
Ngời hớng dẫn: TS. LÊ THị HƯƠNG
Chuyên ngành : Y học dự phòng
Mã số : 60.72.73 Hớng dẫn khoa học
TS. LÊ THị HƯƠNG Hà Nội - 2010
Lêi c¶m ¬n
Trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn này tôi đã
nhận được rất nhiều sự giúp đỡ của thầy cô, cơ quan, gia đình và các bạn bè,
đồng nghiệp.
Với lòng biết ơn sâu sắc, tôi xin chân thành cảm ơn:
- Ban giám hiệu, Phòng đào tạo sau đại học, Khoa YTCC, Thư viện và
các phòng ban Trường Đại học Y Hà Nội.
- Ban Giám đốc, Trung tâm Đào tạo Viện Dinh dưỡng Quốc gia
- Ban Giám đốc, Phòng KHTH Trung tâm Y tế Dự phòng tỉnh Tháii
Nguyên
Đã dành những điều kiện tốt cho tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu,
thu thập số liệu để hoàn thành luận văn đúng thời hạn.
MỤC LỤC
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1.1. Lịch sử phát triển của khoa học dinh dưỡng: 4
1.2. Các thời kỳ phát triển của trẻ em, đặc điểm sinh học cơ bản và nhu cầu
dinh dưỡng của trẻ dưới 2 tuổi 6
1.2.1. Cách phân chia các thời kỳ: 6
1.2.2. Đặc điểm sinh học cơ bản của trẻ dưới 24 tháng tuổi 7
1.3. Nhu cầu dinh dưỡng của trẻ dưới 2 tuổi 7
1.4. Tình hình SDD Protein năng lượng ở trẻ em và các yếu tố ảnh hưởng . 8
1.4.1 Tình hình SDD Protein năng lượng trên Thế giới. 8
1.4.2 Tình hình SDD Protein năng lượng tại Việt Nam 8
1.4.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến tình trạng dinh dưỡng trẻ em 9
1.5. Phương pháp đánh giá tình trạng dinh dưỡng trẻ em 16
1.5.1. Các chỉ tiêu đánh giá tình trạng dinh dưỡng trẻ em 9
1.5.2. Cách phân loại suy dinh dưỡng 17
Chương 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 20
2.1. Địa điểm nghiên cứu: 20
2.2. Đố
i tượng nghiên cứu 20
2.2.1 Tiêu chuẩn lựa chọn. 21
2.2.2 Tiêu chuẩn loại trừ. 21
2.3. Phương pháp nghiên cứu 21
2.3.1. Thiết kế nghiên cứu 21
2.3.2. Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu 21
2.3.3. Thu thập thông tin: 23
2.3.4. Biến số và Chỉ số nghiên cứu 24
2.4. Sai số và khống chế sai số 26
PHỤ LỤC CHỮ VIẾT TẮT ABS : Ăn bổ sung
BYT : Bộ Y tế
CS : Cộng sự
CSSK : Chăm sóc sức khỏe
NCBSM : Nuôi con bằng sữa mẹ
NKHH : Nhiễm khuẩn hô hấp
SDD : Suy dinh dưỡng
TTDD : Tình trạng dinh dưỡng
VDD : Viện Dinh Dưỡng
UNICEF : Quỹ Nhi đồng Liên Hiệp Quốc
WHO : Tổ chức Y tế Thế giới
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1. Đặc điểm cơ bản bà mẹ và hộ gia đình 28
Bảng 3.2. Phân bố tuổi của trẻ tham gia nghiên cứu theo giới 30
Bảng 3.3. Chiều cao, cân nặng, WAZ, HAZ và WHZ trung bình của trẻ
theo nhóm giới tính 30
Bảng 3.4. Thực hành của bà mẹ về chăm sóc sức khỏe trong thời kỳ
mang thai 33
Biểu đồ 3.4. Số tháng uống viên sắt của bà mẹ khi mang thai 34
Biểu đồ 3.5. Lý do mẹ cho trẻ bú muộn hơn 1h sau sinh 38
Biểu đồ 3.6. Lý do mẹ vắt bỏ sữa non 39
Biểu đồ 3.7. Thời gian nuôi con hoàn toàn bằng sữa mẹ của các bà mẹ ở
Hướng Hóa và Đakrông 40
Bi
ểu đồ 3.8. Thời gian nuôi con bằng sữa mẹ của các bà mẹ 41
Biểu đồ 3.9. Giải pháp của bà mẹ khi con bị tiêu chảy và NKHH 45
Biểu đồ 3.10. Cho bú khi trẻ bị tiêu chảy 46
29,31,32,34,38,39,40,41,45,46
1-28,30,33,35-37,42-44,47-69 1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng đối với trẻ em đặc biệt là trẻ nhỏ là hết sức
cần thiết cho sự tăng trưởng và phát triển bình thường của trẻ. Trong điều
kiện của một nền kinh tế đang phát triển, tình trạng thiếu lương thực, thực
phẩm còn diễn ra phổ biến, hoàn cảnh môi trường sống kém, các bà mẹ còn
thiếu kiến thức nuôi con sẽ là nhữ
ng yếu tố tác động trực tiếp tới sức khỏe trẻ
em nước ta. Trẻ em sẽ là đối tượng đầu tiên chịu tác động của tình trạng
nghèo đói và môi trường sống kém chất lượng mà hậu quả của nó là suy dinh
dưỡng (SDD) và bệnh tật [8],[15],[16]. Có thể nói, lứa tuổi từ lúc sơ sinh cho
núi tỷ lệ SDD v
ẫn ở mức rất cao như Đắc Nông (31,9%), Kon Tum
(31,5%), Quảng Bình (30,6%), Lai Châu (30,0%) [39]. Sự chênh lệch ở
mức từ 2-4 lần giữa miền xuôi và miền núi cho thấy mức độ trầm trọng của
SDD trẻ em khu vực miền núi.
SDD không chỉ phân bố không đồng đều ở cấp độ quốc gia mà ngay
trong từng địa phương tỷ lệ SDD cũng có sự khác biệt giữa các khu vực, giữa
trẻ em dân tộc thiểu s
ố với dân tộc Kinh. Tác giả Nguyễn Thị Hải Anh, Lê
Thị Hợp khi phân tích tỷ lệ SDD theo 3 khu vực hành chính tỉnh Lào Cai đã
cho thấy ở khu vực 3 nơi chủ yếu là đồng bào dân tộc Dao và Hmông thì tỷ lệ
SDD cao hơn khu vực 1 nơi người Kinh cư trú là chính. Tỷ lệ SDD khu vực 3
là rất cao: 50% thể nhẹ cân, 67,7% thấp còi và 14,9% gày còm [2]. Như vậy,
tỷ lệ SDD của các tỉnh miền núi còn cao là do có sự chi phối về thành phần cư
trú của các dân tộc trong tỉnh. Trẻ em miền núi, dân tộc ít người chịu nhiều
thiệt thòi trong chăm sóc dinh dưỡng và khả năng tiếp cận các dịch vụ CSSK,
do đó tỷ lệ SDD cao hơn so với các vùng miền khác trong cả nước. Đánh giá
tình trạng SDD dựa trên chỉ tiêu cân nặng theo tuổi, Nguyễn Ngọc Diệp đã
tiến hành nghiên cứu ở 40 xã thuộc Thái Nguyên, Tuyên Quang, Lạng Sơn,
Phú Thọ và huyện Sóc Sơn- Hà Nội. Kết quả
cho thấy, trẻ em người dân tộc
thiểu số (gồm nhiều dân tộc: Tày, Nùng, Hmông, Dao, Sán Chay, Sán Dìu) có
nguy cơ SDD cao gấp 1,68 lần so với trẻ em người dân tộc Kinh, tỷ lệ SDD ở
trẻ em dân tộc thiểu số chiếm 39,6% trong khi đó ở trẻ em dân tộc Kinh là
28,05% [5]. 3
Đã có nhiều nghiên cứu về tình trạng SDD trẻ em và các vấn đề liên
quan. Các nghiên cứu này đã góp phần cải thiện tình trạng dinh dưỡng và
còn liên quan đến sự phát triển và là yếu tố quan trọng cho sự phát triển cộng
đồng, khu v
ực và cho cả một đất nước. Đi đầu trong nghiên cứu vấn đề ăn
uống và sức khoẻ là các thầy thuốc. Qua quan sát và nghiên cứu đã chứng
minh nhiều yếu tố ăn uống liên quan đến sức khoẻ, bệnh tật.
Từ trước công nguyên các nhà y học đã nói tới ăn uống và cho ăn uống
là một phương tiện để chữa bệnh và giữ gìn sức khoẻ. Hypocrat (460 – 377)
trướ
c công nguyên đã chỉ ra vai trò của ăn uống trong bảo vệ sức khoẻ và
khuyên phải chú ý tuỳ theo tuổi tác, thời tiết, công việc mà nên ăn nhiều hay
ít, ăn một lúc hay ăn ra nhiều lần. Hypocrat nhấn mạnh về vai trò ăn trong
điều trị, ông viết: “Mong cho thức ăn của anh là thuốc và loại thuốc duy nhất
của anh là thức ăn” [32]. Sindengai người Anh có thể coi là người kế thừa
những ý tưởng c
ủa Hypocrat. Ông đã cho rằng: “Để nhằm mục đích điều trị
cũng như phòng bệnh, trong nhiều bệnh chỉ cần cho ăn những chế độ ăn thích
hợp và sống một đời sống có tổ chức hợp lý”. Với sự hỗ trợ của các ngành
khoa học cơ bản, thế kỷ XVII-XVIII đã có rất nhiều những nghiên cứu nổi
tiếng đưa khoa họ
c dinh dưỡng bước những bước tiến vượt bậc, có thể kể đến
như: Nghiên cứu về vai trò sinh năng lượng của thức ăn của Lavoidie (1743-
1794), nghiên cứu chứng minh trong thức ăn có những chất sinh năng lượng
là protein, lipid và glucid của Licbig (1803-1873), Prubner (1859-1932)
chứng minh định luật bảo toàn năng lượng cho cơ thể sống…. 5
Từ cuối thế kỷ XIX tới nay, Khoa học dinh dưỡng ngày càng làm sáng
tỏ vai trò của dinh dưỡng đối với tăng trưởng và phát triển. Năm 1906
Hopkins nhận ra rằng thực phẩm không chỉ gồm 3 chất Glucid, Lipid, và
6
lệ suy dinh dưỡng trẻ em ở Việt Nam liên tục giảm. Năm 1985 tỷ lệ suy dinh
dưỡng nhẹ cân (CN/T) là 51%, năm 1995 là 40%, năm 1999 là 36,7%, năm
2005 là 25,2% [39] và năm 2009 là 18,9% [41]. Tổ chức y tế thế giới (WHO)
và UNICEF đã đánh giá Việt Nam là quốc gia duy nhất trong khu vực đạt
mức giảm suy dinh dưỡng xấp xỉ mức đề ra để tiến tới mục tiêu thiên niên kỷ
(2%/năm) [38].
1.2. C¸c thời kỳ ph¸t triÓn cña trÎ em, đặc đ
iểm sinh học cơ bản vµ nhu
cầu dinh dưỡng của trẻ dưới 2 tuổi
1.2.1. Cách phân chia các thời kỳ
Trẻ em là một cơ thể đang lớn và phát triển. Quá trình lớn và phát triển
của trẻ em cũng tuân theo quy luật tiến hóa chung của sinh vật, đi từ thấp đến
cao, từ đơn giản đến phức tạp. Quá trình phát triển này không phải quá trình
tuần tiễn mà có những bước nhảy vọt, có s
ự khác nhau về chất chứ không đơn
thuần về mặt số lượng. Vì vậy khi nói đến trẻ em không thể nói chung mà mỗi
lứa tuổi có những đặc điểm sinh học riêng chi phối đến quá trình phát triển
bình thường cũng như quá trình bệnh lý của trẻ.
Sự phân chia các thời kỳ (giai đoạn) của trẻ em là một thực tế khách quan,
nhưng ranh giới giữa các giai đoạn không rõ ràng và có sự khác biệ
t đối với
từng đứa trẻ, giai đoạn trước chuẩn bị cho giai đoạn sau.
Các cách chia này đều dựa vào những đặc điểm cơ bản về sinh học của trẻ,
nhưng cách gọi tên mỗi thời kỳ cũng như phân đoạn thời gian cũng khác nhau
tùy theo từng trường phái. Theo WHO trẻ em bao gồm từ 0 đến 18 tuổi, cụ
thể như sau [33]:
- S
ơ sinh (Newborn): từ lúc sinh đến 1 tháng
- Trẻ bú mẹ (Infant): 1 đến 23 tháng
Nhu cầu lipit ở trẻ đảm bảo cho nhu cầu về năng lượng và các acid béo
cần thiết và hỗ trợ cho việc hấp thu các vitamin tan trong dầu (A,D,E,K).
Nhu cầu glucid của trẻ bú mẹ hoàn toàn được cung cấp từ ngu
ồn sữa
mẹ, 8% trong sữa mẹ là lactose, cứ 100ml sữa mẹ cung cấp 7g glucid [32]. 8
1.4. Tình hình SDD Protein năng lượng ở trẻ em và các yếu tố ảnh hưởng
1.4.1 Tình hình SDD Protein năng lượng trên Thế giới
Theo báo cáo của UNICEF (2006), hơn ¼ trẻ em dưới 5 tuổi tại các
nước đang phát triển ở tình trạng SDD thể nhẹ cân. Dinh dưỡng không đầy đủ
vẫn là đại dịch toàn cầu dẫn đến hơn một nửa số trường hợp tử vong trẻ em
với 5,6 triệu trẻ tử vong mỗi n
ăm có liên quan đến SDD [28]. Giảm tỷ lệ SDD
là một trong những chỉ tiêu quan trọng để thực hiện mục tiêu phát triển thiên
niên kỷ [51]. Thế nhưng từ 1990 tỷ lệ trẻ em SDD dưới 5 tuổi giảm không
đáng kể và chỉ có 2 khu vực trên thế giới đáp ứng mục tiêu giảm ½ số trẻ em
SDD là Châu Mỹ La tinh và Đông Á Thái Bình Dương với tỷ lệ SDD là 7%
và 15%. Tuy nhiên ở đây có sự chênh lệch giữa các cộng đồ
ng dân cư, trẻ
SDD chủ yếu ở các cộng đồng nghèo và ở nhóm dân tộc thiểu số [56]. Tại các
quốc gia đang phát triển trung bình chỉ giảm 5% trong 15 năm qua. Gần ¾ trẻ
em thiếu cân trên toàn thế giới đang sống ở 10 quốc gia và hơn một nửa số đó
ở 3 nước: Băngladesh (48%), Ấn độ (47%), Pakixtan (38%) [57]. Đối với khu
vực Đông Nam Á, các nước có tỷ lệ SDD cao và không có khả năng đạt được
mục tiêu phát triển thiên niên kỷ bao gồm: Lào(40%), Campuchia (36%),
Myanmar (32%) và Đông Timor (46%). Các nước đã đạt được tiến bộ trong
giảm SDD cấp độ quốc gia song một bộ phận dân cư vẫn phải đối mặt với
điều kiện CSSK và dinh dưỡng kém là Indonesia(28%), Phillippine (28%) và
ng dinh dng tr em
Nhiu yu t cú th nh hng n tỡnh trng dinh dng ca tr em ó
c cỏc tỏc gi trong v ngoi nc cp n nh: tỡnh trng kinh t xó
hi, tỡnh trng giu nghốo,chm súc sc khe b m khi mang thai,c
cp n nhiu nht chớnh l s thiu kin thc v thc hnh ca b m trong
nuụi dng tr. Trong nghiên cứu này chúng tôi chỉ có thể quan tâm tới một
số yếu tố chính tác động đến tình trạng dinh dỡng trẻ em.
1.4.3.1. Ch
m súc dinh dng b m khi cú thai v cho con bỳ
Khi mang thai, dinh dng v thúi quen dinh dng tt s cung cp y
cỏc cht dinh dng cn thit cho thi k mang thai, cho s phỏt trin v 10
lớn lên của thai nhi. Nhiều nghiên cứu thấy rằng các yếu tố nguy cơ dẫn đến
trẻ sơ sinh có cân nặng thấp trước tiên là tình trạng dinh dưỡng kém của
người mẹ trước khi có thai và chế độ ăn không cân đối, không đủ năng lượng,
không đủ chất dinh dưỡng khi mang thai.
Những bà mẹ trong khi mang thai lao động nặng nhọc, không được nghỉ
ngơi đầy đủ cũng là những yếu tố ảnh h
ưởng tới cân nặng sơ sinh.
1.4.3.2. Tầm quan trọng của nuôi con bằng sữa mẹ và cho ăn bổ sung đến
tình trạng dinh dưỡng của trẻ
* Nuôi con bằng sữa mẹ (NCBSM)
Theo khuyến cáo của tổ chức y tế thế giới (WHO) sau khi sinh, đứa trẻ
cần được cho bú mẹ càng sớm càng tốt thậm chí ngay trong nửa giờ đầu sau
sinh và bú mẹ hoàn toàn cho tới tận 6 tháng [52], vì bú sớm có lợi ích cho cả
mẹ và con:
+
Bú sớm giúp trẻ tận dụng được sữa non, là loại sữa tốt, hoàn hảo về
miền Nam [35]. Theo nhiều tác giả thời gian bắt đầu cho trẻ ăn bổ sung có
thể khác nhau ở từng bà mẹ nhưng khuyến cáo chung là trong vòng 4 – 6
tháng [47],[52],[59],[61]. Tuy nhiên, gần đây theo khuyến cáo của WHO cần
cho trẻ bú mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu tiên của cuộc đời [62]. Trẻ cần
được ăn bổ sung từ sáu tháng tuổi trở đi.
Vì sao trẻ cần ăn bổ sung? Các nghiên cứu c
ủa WHO trên 22,857 trẻ
thuộc 9 nước đang phát triển cho thấy bằng chứng khoa học nói rằng sữa mẹ
chỉ có xu hướng thỏa mãn nhu cầu của trẻ trong vòng 6 tháng đầu [45]. Do
vậy để đáp ứng nhu cầu tăng lên không ngừng của trẻ về thể chất, đến một
giai đoạn nhất định, trẻ cần được ăn thêm các thức ăn khác ngoài sữa mẹ để
cùng sữa m
ẹ thỏa mãn nhu cầu ấy.
Theo WHO và UNICEF thì: Ăn bổ sung là quá trình nuôi trẻ, tập cho
trẻ thích ứng với sự chuyển đổi chế độ ăn từ một khẩu phần hoàn toàn dựa
vào sữa mẹ (hay chế độ sữa đơn thuần với bà mẹ mất sữa) sang chế độ ăn sử 12
dụng đều đặn các thực phẩm sẵn có trong bữa ăn gia đình [45],[52],[61].
Trong nghiên cứu của tác giả Lê Thị Hải Viện Dinh dưỡng (VDD) thì khái
niệm “Ăn bổ sung” (ăn sam, ăn dặm): là cho trẻ ăn các loại thức ăn khác
ngoài sữa mẹ như: bột, cháo, cơm, rau, hoa quả, sữa đậu nành, sữa bò [9].
Các thực phẩm sử dụng với mục đích bổ sung s
ữa mẹ để thỏa mãn nhu
cầu dinh dưỡng của trẻ gọi là thực phẩm bổ sung [62]. Các thực phẩm này
được xếp vào 4 nhóm chính:
+ Nhóm thức ăn giàu Glucid (gồm các loại ngũ cốc) như: gạo, lúa mì,
ngô, khoai, sắn,
+ Nhóm thức ăn giàu Protid: thịt gia súc, gia cầm, trứng, sữa, cá và các
ứng nhu cầu của cơ thể, do đó bệnh tật trở thành nguyên nhân trực tiếp dẫn
đến SDD trẻ em.
1.4.3.3. Tổng hợp một số nghiên cứu về tình trạng dinh dưỡng và các yếu tố
liên quan đã được th
ực hiện.
* Các nghiên cứu ở nước ngoài
- Nghiên cứu tại Jinan, Trung Quốc cũng chỉ ra 94% các bà mẹ cho con
bú sữa non trong vòng 3 ngày đầu, nhưng vẫn có 34% số trẻ được cho uống
nước, sữa bột, đường hoặc thức ăn thay thế khác. Trong số trẻ dưới 4 tháng,
35% được bú sữa mẹ hoàn toàn, nhưng tại thời điểm 2 tháng con số này là
40% và chỉ một nửa là bú sữa mẹ hoàn toàn mà không nhận thêm bất kỳ
đồ
uống nào khác [65].
- Tác giả Silvia và cộng sự cho thấy thời gian trung bình cho trẻ ăn thức
ăn đặc là 22,2 tuần sau sinh; 60,9% trẻ thôi bú mẹ trước 4 tháng; 18% trẻ sơ
sinh cân nặng dưới 5 kg vào thời điểm dừng bú mẹ. Trong các yếu tố liên
quan đến người mẹ, chỉ có tuổi của người mẹ là có ảnh hưởng đến thời gian
cho con bú. Thức ăn dặm đầu tiên để nuôi trẻ là nước nghiền khoai tây
(48,6% tr
ường hợp). Thịt và chất tinh bột được dùng cho trẻ ăn trung bình 5-7
tuần sau khi thôi bú [53]. 14
- Nghiên cứu tại nước láng giềng Trung Quốc chỉ ra sự khác biệt về thực
hành nuôi con là rất khác nhau giữa các vùng, các dân tộc, các nền văn hóa và
phụ thuộc vào nguồn thực phẩm. Ở vùng nông thôn phía Bắc của Trung
Quốc, trứng, đậu là nguồn thức ăn phổ biến để cung cấp đạm cho trẻ sơ sinh
và trẻ nhỏ, trong khi cá và thịt là rất hiếm ở đây. Sau khi điều chỉnh chế
độ ăn
sớm sẽ lớn chậm hơn những trẻ được nuôi bằng sữa mẹ hoàn toàn. Từ 1-3
tháng, trẻ nuôi bằng sữa mẹ hoàn toàn sẽ phát triển tốt cả về cân nặng và
chiều cao. Từ 3-6 tháng, trẻ nuôi sữa mẹ hoàn toàn cũng sẽ có sự phát triển
về cân nặng nhanh hơn và từ 6-12 tháng có sự phát triển về chiều cao
nhanh hơn so với nhóm bà mẹ không nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn hoặc
cai sữa sớ
m [50].
- Các nghiên cứu của tác giả Lê Thị Hương được thực hiện tại huyện
Cẩm Thủy, Lang Chánh tỉnh Thanh Hóa và huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị
năm 2007 và 2008 cho thấy tỷ lệ bà mẹ cho con bú sớm trong nửa giờ đầu sau
khi sinh là khá cao (gần 90%). Tuy nhiên tỷ lệ trẻ được bú mẹ hoàn toàn đến
4 tháng ở Cẩm Thủy là 23%, Lang Chánh là 17,8% và Hải Lăng là 28,5% và
đến 6 tháng là 19%, 8,6% và 18,3%. Trong số trẻ đã được ăn bổ sung có
28,1%, 53,7% và 31,9% số trẻ tương ứng tại ba địa phương được cho ăn bổ
sung sớm trước 4 tháng tuổi. Có mối liên quan giữa suy dinh dưỡng và trình
độ học vấn của mẹ, và tỷ lệ mắc bệnh đường hô hấp trong hai tuần qua
[13],[14].
- Một nghiên cứu tại Lào Cai năm 2005 [2] cho thấy người mẹ các dân
tộc Hmông, Dao, Dáy ở đây cũng thiếu kiến thức cơ bản trong việc chăm sóc
nuôi dưỡng tr
ẻ như ABS hợp lý (30,5%), thời gian cai sữa đúng (23,3%).