Nghiên cứu thực trạng và kết quả can thiệp phòng chống suy dinh dưỡng trẻ em dưới 5 tuổi người dân tộc thiểu số tại huyện bắc trà my tỉnh quảng nam - Pdf 14

ĐẠI HỌC HUẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC
ĐINH ĐẠO
NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG VÀ KẾT QUẢ
CAN THIỆP PHÒNG CHỐNG SUY DINH DƯỠNG
TRẺ EM DƯỚI 5 TUỔI NGƯỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ
TẠI HUYỆN BẮC TRÀ MY TỈNH QUẢNG NAM
LUẬN ÁN TIẾN SĨ Y HỌC
HUẾ - 2014
ĐẠI HỌC HUẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC
ĐINH ĐẠO
NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG VÀ KẾT QUẢ
CAN THIỆP PHÒNG CHỐNG SUY DINH DƯỠNG
TRẺ EM DƯỚI 5 TUỔI NGƯỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ
TẠI HUYỆN BẮC TRÀ MY TỈNH QUẢNG NAM
Chuyên ngành: Y TẾ CÔNG CỘNG
Mã số: 62 72 03 01
LUẬN ÁN TIẾN SĨ Y HỌC
Người hướng dẫn khoa học:
1. PGS.TS. ĐỖ THỊ HÒA
2. PGS.TS. VÕ VĂN THẮNG
HUẾ - 2014
LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình hoàn thành luận án này, tôi đã nhận được sự giúp đỡ
chân tình, hiệu quả của nhiều cá nhân, tập thể, của quý cô giáo, thầy giáo,
các đồng nghiệp cùng bạn bè và gia đình.
Trước tiên, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới Bộ Giáo dục và Đào
tạo, lãnh đạo Đại học Huế, Trường Đại học Y Dược Huế, Bệnh viện đa
khoa Trung ương Quảng Nam đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi học tập,
nghiên cứu.

Ngày 22 tháng 5 năm 2014
Tác giả
Đinh Đạo
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu do chính tôi thực hiện,
được tiến hành công phu, nghiêm túc.
Các số liệu, kết quả trong luận án này là trung thực và chưa được ai
công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào khác.
Người viết luận án
Đinh Đạo
MỤC LỤC
HUẾ - 2014 2
LỜI CẢM ƠN i
LỜI CAM ĐOAN iii
MỤC LỤC iv
DANH MỤC CÁC BẢNG vi
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ, SƠ ĐỒ viii
BIỂU ĐỒ viii
SƠ ĐỒ viii
viii
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
Chương 1 TỔNG QUAN 3
Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 28
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 52
Chương 4 BÀN LUẬN 80
KẾT LUẬN 111
KIẾN NGHỊ 113
DANH MỤC CÔNG TRÌNH CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN
114
TÀI LIỆU THAM KHẢO 115

SƠ ĐỒ viii
viii
Bảng 1.1. Phân loại suy dinh dưỡng theo mức độ của WHO-1997 39
Bảng 3.1. Tỷ lệ hiện mắc suy dinh dưỡng theo thể 52
Bảng 3.2. Tỷ lệ trẻ nhẹ cân theo mức độ 52
Bảng 3.3. Tỷ lệ trẻ thấp còi theo mức độ 52
Bảng 3.4. Tỷ lệ trẻ thấp còi theo nhóm tuổi 52
Bảng 3.5. Liên quan giữa các đặc điểm chung với trẻ nhẹ cân 54
Bảng 3.6. Liên quan giữa bệnh tật trẻ với thể nhẹ cân 55
Bảng 3.7. Liên quan giữa kiến thức nuôi con của bà mẹ với trẻ nhẹ cân 56
Bảng 3.8. Liên quan giữa thực hành bà mẹ nuôi con với trẻ nhẹ cân 56
Bảng 3.9. Liên quan giữa niềm tin người có uy tín của bà mẹ với SDDTE
58
Bảng 3.10. Các yếu tố liên quan suy dinh dưỡng trẻ em qua phân tích hồi
quy logistic đa biến 59
Bảng 3.11. Thống nhất kế hoạch can thiệp phòng chống SDDTE 60
Bảng 3.12. Các hoạt động can thiệp phòng chống SDDTE đã triển khai 62
Bảng 3.14. Đặc điểm các yếu tố giữa 2 nhóm trước can thiệp 64
Bảng 3.15. NCT cải thiện hiểu biết về chất béo của bà mẹ 64
Bảng 3.16. NĐC cải thiện hiểu biết về chất béo của bà mẹ 65
Bảng 3.17. Cải thiện hiểu biết về chất béo của bà mẹ sau can thiệp 65
Bảng 3.18. Cải thiện hiểu biết của bà mẹ về nhóm rau quả 66
Bảng 3.19. NCT cải thiện hiểu biết nuôi con của bà mẹ 66
Bảng 3.20. NĐC cải thiện hiểu biết nuôi con của bà mẹ 67
Bảng 3.21. Cải thiện hiểu biết nuôi con của bà mẹ sau can thiệp 67
Bảng 3.22. NCT cải thiện thực hành nuôi con của bà mẹ 68
Bảng 3.23. NĐC cải thiện thực hành nuôi con của bà mẹ 68
Bảng 3.24. Cải thiện thực hành nuôi con của bà mẹ sau can thiệp 68
Bảng 3.25. Thực hành nuôi con ăn bổ sung sai của bà mẹ ở 2 nhóm 69
Bảng 3.26. NCT cải thiện niềm tin của bà mẹ với trưởng thôn, già làng 71

Biểu đồ 3.5. Tỷ lệ trẻ ăn bổ sung thiếu thực phẩm sẵn có giàu đạm hàng
ngày ở 2 nhóm 69
Biểu đồ 3.6. Tỷ lệ trẻ ăn bổ sung thiếu thực phẩm sẵn có giàu chất béo
hàng ngày 70
Biểu đồ 3.8. Tỷ lệ bà mẹ có niềm tin hội phụ nữ ở 2 nhóm 72
75
Biểu đồ 3.9. Tỷ lệ thiếu máu lâm sàng trẻ em ở 2 nhóm 75
Biểu đồ 3.10. Tỷ lệ trẻ thấp còi theo nhóm tuổi trước và sau can thiệp 78
SƠ ĐỒ
Sơ đồ 1.1: Khung lý thuyết nghiên cứu dựa vào mô hình chẩn đoán hành vi
16
Sơ đồ 2.1. Sơ đồ thiết kế các bước tiến hành nghiên cứu 29
Sơ đồ 3.1. Tổ chức mạng lưới hoạt động can thiệp 61

ĐẶT VẤN ĐỀ
Suy dinh dưỡng trẻ em là tình trạng bệnh lý mang tính cộng đồng ở
nhiều nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam. Phân bố suy dinh dưỡng
trẻ em khác biệt rõ nét giữa các châu lục, các vùng miền trên thế giới. Theo
số liệu của Tổ chức Y tế thế giới, suy dinh dưỡng trẻ em dưới 5 tuổi tập
trung chủ yếu ở châu Á và châu Phi. Các vùng Nam Trung Á, Đông Nam Á,
Đông Phi, Tây Phi và Trung Phi có trẻ em suy dinh dưỡng luôn cao, nhất là
Ấn Độ, Bangladesk, Đông Timor, Lào, Niger, Somalia, Burnika [140].
Ở nước ta trong những năm qua nhờ triển khai Chương trình quốc
gia phòng chống suy dinh dưỡng đạt hiệu quả, tình trạng suy dinh dưỡng
chung ở trẻ em dưới 5 tuổi đã giảm đáng kể, từ 43,9% năm 1995 [2] còn
16,8% năm 2012 [69]. Tuy nhiên, mức độ giảm xuống không đồng đều
giữa các vùng, khu vực, suy dinh dưỡng trẻ em dưới 5 tuổi vẫn còn cao và
rất cao ở vùng miền núi cao, đồng bào dân tộc thiểu số [29], [59]. Các khu
vực Tây Nguyên, Tây Bắc, Đông Bắc, Bắc Trung bộ, Nam Trung bộ là
những nơi có tỷ lệ suy dinh dưỡng trẻ em dưới 5 tuổi cao hơn so với các

thiện hành vi nuôi con của bà mẹ, qua đó cải thiện tình trạng suy dinh
dưỡng và bệnh tật trẻ em, chúng tôi tiến hành đề tài: “Nghiên cứu thực
trạng và kết quả can thiệp phòng chống suy dinh dưỡng trẻ em dưới 5
tuổi người dân tộc thiểu số huyện Bắc Trà My tỉnh Quảng Nam”, với các
mục tiêu sau:
1. Mô tả tình trạng suy dinh dưỡng và các yếu tố liên quan ở trẻ
dưới 5 tuổi người dân tộc thiểu số huyện Bắc Trà My tỉnh Quảng Nam.
2. Đánh giá kết quả can thiệp phòng chống suy dinh dưỡng trẻ em
dưới 5 tuổi người dân tộc thiểu số tại địa bàn nghiên cứu.
2
Chương 1
TỔNG QUAN
1.1. THỰC TRẠNG SUY DINH DƯỠNG TRẺ EM DƯỚI 5 TUỔI
1.1.1. Tình hình thiếu dinh dưỡng trẻ em dưới 5 tuổi
1.1.1.1. Tình hình thiếu dinh dưỡng trẻ em dưới 5 tuổi trên thế giới
Theo kết quả điều tra suy dinh dưỡng trẻ em (SDDTE) dưới 5 tuổi tại
79 nước đang phát triển giai đoạn từ 1980-1992 của Onis M. và cộng sự thấy
có 192,5 triệu trẻ nhẹ cân (35,8%); 229,9 triệu thấp còi (42,7%) và 49,5 triệu
gầy còm (9,2%). Các nước có tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng (SDD) cao và rất
cao như Bangladesh có 65,8% nhẹ cân, 64,6% thấp còi và 15,5% gầy còm;
Ấn Độ có 63,9% nhẹ cân, 62,1% thấp còi và 19,2% gầy còm; Guatemala với
33,5% nhẹ cân và 57,9% thấp còi [111]. Tại hội nghị thượng đỉnh về dinh
dưỡng tổ chức tại Roma tháng 12/1992, các chuyên gia đã đưa ra chương
trình hành động, có sự cam kết của các quốc gia nhằm làm giảm SDDTE
xuống còn một nửa vào năm 2000 so với năm 1990 [88].
Theo số liệu của Tổ chức Y tế thế giới (WHO) cho thấy các nước
thuộc châu Á, châu Phi từ trước cho đến nay vẫn có tỷ lệ SDDTE cao so
với các châu lục khác [133], [141]. Báo cáo của WHO năm 1995 trên toàn
cầu có 169,5 triệu trẻ nhẹ cân (27,8%); 213,1 triệu thấp còi (34,9%) và 50,2
triệu gầy còm (8,4%). Trong đó, các nước đang phát triển chiếm đại đa số

cao hơn cách biệt so với trẻ em không thuộc tộc người bản xứ, như ở
Ecuador (58,2% so với 24,2%); ở Peru (47,0%/22,5%) và Bolivia
(50,5%/23,7%) tương ứng [103]. Tổ chức xã hội học Hoa Kỳ đã tiến hành
nghiên cứu về mối liên quan giữa tình trạng sức khỏe với các yếu tố chủng
4
tộc, dân tộc tại chính quốc năm 2005 thấy có sự khác biệt về tỷ lệ tử vong
trẻ em ở năm đầu đời của người Mỹ gốc Phi cao gấp 2 lần trẻ em da trắng.
Trẻ em Mỹ gốc Nhật có tỷ lệ tử vong thấp hơn 8,2 lần so với tộc người
Hawaiians [77]. Tác giả Alessandra M. và cộng sự khảo sát tại Guatemala
năm 2003 thấy trẻ em tộc người bản xứ có tỷ lệ thấp còi (57,6%) và nhẹ
cân (27,8%) cao hơn tỷ lệ chung (44,2% và 22,3%) tương ứng; trong đó,
tộc người Mam (65,3% và 39,4%); người Mayan (62,5% và 31,9%) tương
ứng [75]. Nghiên cứu của Spencer N. về các tộc người châu Âu năm 2003
thấy trẻ em các tộc người bản xứ ở Trung và Đông Âu có tỷ lệ SDDTE, tỷ
lệ mắc bệnh và tử vong cao hơn nhiều lần trẻ em không thuộc tộc người
bản xứ [121]. Điều tra của Hatlekk M. năm 2012 thấy tỷ lệ thấp còi trẻ em
khác nhau giữa các tộc người vùng Nam Á: Tộc người Bà la môn
(Brahmin) 45,1%; Hill Dalits 56,1%; Yadav (70,7%); Newar 72,3% và Hồi
giáo (Muslim) 72,8% [92]. Nghiên cứu của UNICEF năm 2011 khu vực
châu Á-Thái Bình Dương cũng thấy sự chênh lệch lớn giữa các tộc người.
Tỷ lệ trẻ 18-23 tháng ở Campuchia bị thấp còi 50,0% và trẻ nhẹ cân 45,0%
chủ yếu ở trẻ em dân tộc thiểu số. Tương tự, tỷ lệ tương ứng ở Lào là
40,0% và 37,0%. Ở Phillippines, trẻ nhẹ cân sống vùng thủ đô 15,7%, thấp
hơn nhiều so với 36,1% trẻ sống ở vùng khó khăn Bitol [129].
Bên cạnh tình trạng thiếu dinh dưỡng protein-năng lượng, việc thiếu
hụt vi chất dinh dưỡng ảnh hưởng hơn hai tỷ người, khoảng một phần ba dân
số thế giới hiện nay. Bất cập về thiếu vi chất dinh dưỡng, đặc biệt là sắt, kẽm
đã được báo cáo ở nhiều nước đang phát triển [116], [122]. Thiếu vi chất dinh
dưỡng là một vấn đề toàn cầu lớn hơn nhiều so với nạn đói và gây phí tổn rất
lớn về xã hội, bệnh tật làm giảm năng suất lao động, chất lượng cuộc sống

6
vùng sinh thái: miền núi thường cao hơn đồng bằng [7], [27]; nông thôn
cao hơn thành thị [28], [40]. Những vùng có tỷ lệ trẻ nhẹ cân cao cũng là
những vùng có tỷ lệ trẻ thấp còi và gầy còm cao hơn tương ứng như Tây
Nguyên (25%, 36,8%, 8,1%); vùng miền núi phía Bắc (20,9%, 31,9%, 7,4%)
[69]. Ở các thành phố, SDDTE thấp hơn nhiều so với trung bình chung cả
nước, như tỷ lệ nhẹ cân, thấp còi và gầy còm tương ứng ở thành phố Hồ Chí
Minh (5,3%, 7,6%, 3,5%); Hà Nội (8,1%, 16,9%, 3,3%) [69]. Đến nay, các
tỉnh thuộc vùng khó khăn có tỷ lệ trẻ nhẹ cân, thấp còi và gầy còm cao tương
ứng như Kon Tum (26,3%, 40,6%, 9,2%); Hà Giang (23,1%, 35,0%, 7,9%)
[69]. Vùng miền núi cao, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, SDDTE luôn cao
hơn hẳn các vùng khác [19], [37]. Lê Danh Tuyên và cộng sự khảo sát năm
2011 tại huyện miền núi Tuyên Hóa, Quảng Bình thấy cả 3 thể đều rất cao:
nhẹ cân 57,7%, thấp còi 43,7% và gầy còm 19,2% [62]. Điều tra của
Nguyễn Hoàng Linh Chi năm 2011 ở trẻ em 12-36 tháng đồng bào dân tộc
Pakoh và Vân Kiều tại Quảng Trị thấy tỷ lệ SDD rất cao ở 3 thể: nhẹ cân
53,9%; thấp còi 67,1% và gầy còm 14,5% [5]. Khu vực duyên hải miền
Trung là một trong những vùng có tỷ lệ trẻ nhẹ cân, thấp còi và gầy còm
tương ứng còn trung bình và cao (19,5%, 31,2%, 7,5%), trong đó có Quảng
Nam (16,0%, 30,1%, 6,8%) [69]. Phân bố SDD ở Quảng Nam cũng không
đồng đều giữa các vùng: trẻ nhẹ cân (2007) ở Hội An 10,1%, Tam Kỳ 12,4
%; Nam Trà My 31,0% và Bắc Trà My cao nhất tỉnh 32,2% [66].
UNICEF khảo sát năm 2011 thấy sự thiếu hụt chăm sóc sức khỏe ở
người Kinh 31,6%; Mường 46,5%; Thái 77,6% [129]. Báo cáo năm 2011của
Tổng cục Thống kê cho thấy tỷ lệ trẻ nhẹ cân, thấp còi, gầy còm của nhóm
đồng bào Kinh và Hoa (10,0%, 19,6%, 3,8%), thấp hơn hẳn so với tỷ lệ
tương ứng của trẻ em dân tộc thiểu số (22,0%, 40,9%, 5,7%) [89].
7
Sự thiếu hụt vi chất dinh dưỡng là một vấn đề có ý nghĩa sức khỏe
cộng đồng ở trẻ em Việt Nam dưới 5 tuổi [45], [109]. Nghiên cứu của

chưa thể hấp thu tốt được. Thời kỳ khi được 6 tháng tuổi trở đi, trẻ ăn bổ
sung với chế độ ăn không đảm bảo đủ năng lượng, protein. Ăn quá kiêng
khem trong thời gian trẻ bị bệnh, nhất là khi bị ỉa chảy. Nguyên nhân sâu xa
là do bà mẹ thiếu kiến thức và hạn chế về thực hành nuôi dưỡng, chăm sóc
trẻ [1], [9], [99]. Nghiên cứu của Lê Thị Hợp, Hà Huy Khôi thấy khi thiếu ăn
tạm thời cơ thể tăng trưởng chậm lại nhưng tình trạng đó có thể được phục
hồi khi ăn đầy đủ. Tuy nhiên trong trường hợp dinh dưỡng không hợp lý kéo
dài có thể cản trở quá trình phục hồi đó. Vì thế cần quan tâm đặc biệt đến
dinh dưỡng trẻ em [22]. Theo UNICEF, khác biệt về sự phát triển của trẻ em
đến năm tuổi có nhiều ảnh hưởng bởi dinh dưỡng, cách nuôi dưỡng, môi
trường và chăm sóc sức khỏe hơn so với yếu tố di truyền hoặc dân tộc [126].
- Nhiễm trùng
Từ lâu, người ta đã thừa nhận các bệnh nhiễm khuẩn và ký sinh trùng
là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến SDDTE, đặc biệt là tiêu chảy, nhiễm giun,
nhiễm khuẩn hô hấp cấp là các bệnh thường gặp ở trẻ nhỏ. Nhiều tác giả đã
mô tả mối tác động qua lại giữa nhiễm trùng và SDD như một vòng xoắn
bịnh lý [85], [86]. Khi các vi sinh vật gây bệnh xâm nhập vào cơ thể, với sức
đề kháng còn yếu, trẻ em dễ bị SDD do nhiễm trùng làm mất các chất dinh
dưỡng và tác động gián tiếp làm trẻ em chán ăn. Mặt khác, trẻ SDD có hệ
thống miễn dịch bị giảm sút, dễ mắc bệnh nhiễm trùng và hậu quả SDD
ngày một nặng thêm [133]. SDD làm tăng khả năng nhiễm khuẩn hô hấp,
tiêu chảy và kéo dài thời gian tiêu chảy ở trẻ em [72], [136]. Nghiên cứu của
Caulfield L. E.và cộng sự năm 2004 cho thấy SDDTE liên quan đến 1 triệu
9
ca viêm phổi, 8 trăm nghìn ca tiêu chảy hàng năm ở các nước đang phát triển
[83]. Tình hình nhiễm giun cũng là vấn đề sức khỏe cộng đồng nổi cộm với
khoảng 2 tỷ người bị nhiễm các loại giun truyền qua đất (giun đũa, giun
móc, giun tóc, giun kim), trong đó trẻ em dưới 5 tuổi chiếm từ 10-20% theo
nghiên cứu của Albonico M. và cộng sự năm 2008 [73]. Nhiễm giun truyền
qua đất là nhiễm trùng mạn tính ảnh hưởng đến phát triển thể chất, tinh thần,

rào cản của các tập quán lạc hậu, đặc biệt khi trẻ bị ốm, bà mẹ thường
kiêng khem như kiêng nước, kiêng ăn lúc trẻ bị sởi [8]; cúng bái khi trẻ ốm
[9]. Các yếu tố liên quan khác như: điều kiện kinh tế xã hội thấp, đầu tư
cho y tế còn hạn chế [4]; dịch bệnh, thiên tai, chiến tranh [88]; sự quan tâm
của lãnh đạo địa phương và năng lực hoạt động của các cấp, các ngành hạn
chế [4]; chất lượng dịch vụ y tế kém hiệu quả [18], [29].
+ Nuôi con bằng sữa mẹ
UNICEF coi nuôi con bằng sữa mẹ là biện pháp hàng đầu bảo vệ sức
khoẻ trẻ em, do sữa mẹ là thức ăn tốt nhất cho trẻ [127]. Theo khuyến cáo
của chuyên gia dinh dưỡng, đứa trẻ cần được bú mẹ trong vòng giờ đầu sau
sinh và giúp làm giảm nguy cơ SDD [64], [134]. Thống kê năm 2009 của
WHO thấy có sự khác nhau rõ rệt giữa các nước về tỷ lệ trẻ bú mẹ trong
vòng giờ đầu sau sinh: Cuba 70,0%, Mozambique 63,1%, Việt Nam 57,8%,
Bangladesh 35,6%, Lào 29,8%, Yemen 29,6%, Cameroon 19,6% [141].
Trong 6 tháng đầu, trẻ cần được nuôi hoàn toàn bằng sữa mẹ mà
không cần thêm thức ăn nào khác [4]. Nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn trong
6 tháng đầu theo WHO công bố năm 2009, có sự khác biệt rất lớn ở nhiều
nước trên thế giới như Rwanda 88%, Srilanka 76%, Peru 73,0%, Triều Tiên
65%, Bolivia 60,0%; nhưng Belarus chỉ 9,0%, Nam Phi 7,0%, Thái Lan
5,0%, Djibouti 1,0%, Bỉ 1,0% [141] và ở Việt Nam, tỷ lệ này là 19,6% [4].
11
Với trẻ dưới 12 tháng tuổi, sữa mẹ là thức ăn quí giá nhất mà không
một thức ăn nhân tạo nào có thể so sánh được [2]. Nhiều nghiên cứu chỉ rõ tỉ
lệ SDD và mắc các bệnh nhiễm trùng hô hấp, tiêu chảy cao hơn một cách có
ý nghĩa ở nhóm trẻ mẹ bị thiếu sữa mẹ [38], [98], [121]. Nhiều nghiên cứu
có nhận định là ở vùng nông thôn tình hình nuôi con bằng sữa mẹ luôn có xu
hướng tích cực hơn so với ở thành thị [29], [118], [133], nhất là vùng nông
thôn ở các nước đang phát triển [133]. Trẻ cần được bú mẹ thường xuyên,
nên bú kéo dài từ 18 đến 24 tháng tuổi và không nên quá 24 tháng [64]. Tỷ
lệ bà mẹ cho trẻ bú mẹ đến 2 tuổi theo UNICEF khảo sát năm 2009 có sự

tinh thần và góp phần rất quan trọng vào việc đảm bảo phát triển thể chất trẻ
em toàn diện. Trẻ em cần được chăm sóc chu đáo về vệ sinh; tiêm chủng mở
rộng; theo dõi tăng trưởng; tình thương yêu; học hành và được chăm sóc dinh
dưỡng đúng khi ốm như tiêu chảy, nhiễm khuẩn hô hấp [19], [23].
1.1.2.2. Hậu quả suy dinh dưỡng trẻ em
Suy dinh dưỡng trẻ em mà chủ yếu suy dinh dưỡng protein năng
lượng đang còn là vấn đề thời sự ở các nước nghèo và đang phát triển [31],
[74]. SDDTE dưới 5 tuổi chiếm 54% trong số 11,6 triệu trẻ tử vong trên
toàn cầu hàng năm giai đoạn 1980-1995 [136] và là nguyên nhân sâu xa
của hơn 2,6 triệu trẻ em tử vong mỗi năm hiện nay [120]. Thể nhẹ cân, thấp
còi và gầy còm liên quan đến tử vong trẻ em dưới 5 tuổi lần lượt là 19%,
14,5% và 4,4% [120]. Thiếu vi chất dinh dưỡng liên quan với 10% tất cả
trường hợp tử vong trẻ em, hay khoảng một phần ba số trẻ em tử vong do
SDD [120]. Suy dinh duỡng làm cho trẻ em dễ bị cảm nhiễm với các bệnh
nhiễm trùng, nhất là các bệnh đường hô hấp, đường ruột và khi mắc thì
13
diễn biến xấu hơn, gia tăng tỉ lệ tử vong. SDD là điều kiện thuận lợi để các
bệnh lý này xảy ra và kéo dài, làm cho trẻ em ăn uống kém, nhu cầu năng
lượng gia tăng nên SDD ngày càng trở nên nặng nề hơn. SDD làm trẻ em
kém phát triển về thể chất. Mức độ chậm phát triển tăng song song với thời
gian kéo dài của bệnh và nhóm tuổi của trẻ. Các bằng chứng khoa học đã
cho thấy, giai đoạn đầu tiên của cuộc đời từ trong bụng mẹ đến 2 tuổi, nếu
trẻ em bị SDD có thể để lại những hậu quả về thể chất và tinh thần không
phục hồi được và kéo sang thế hệ sau. Nếu tình trạng SDD kéo dài đến thời
gian dậy thì, chiều cao của trẻ em sẽ càng bị ảnh hưởng trầm trọng hơn
[23]. SDD làm trẻ em chậm phát triển tâm thần, nhất là ảnh hưởng đến sự
phát triển bình thường của não bộ trong giai đoạn trẻ em dưới 6 tuổi. Trí
thông minh dễ dàng bị ảnh hưởng nếu trẻ bị SDD bào thai và dưới 12 tháng
tuổi [31]. Tác hại của SDD càng nặng, nếu bệnh xuất hiện lúc cơ quan chưa
trưởng thành. Ngoài ra, SDD tác động tiêu cực về mặt xã hội: Tầm vóc của

từng loại TPSC và sự cần thiết phải đa dạng hóa bữa ăn hàng ngày, cho đến
khâu giám sát và đánh giá kết quả thực hiện [88].
Khung lý thuyết chẩn đoán và can thiệp hành vi sức khỏe được trình
bày trên sơ đồ 1.1, trên cơ sở áp dụng mô hình PRECEDE (Predisposing
Reinforcing and Enable Constructs in Educational Diagnosis and
Evaluation) của Green L.W. [91]. Nghiên cứu đi theo trình tự từ dưới lên
bắt đầu ở bước 1 đến bước 5 được gọi là quá trình chẩn đoán hành vi. Sau
đó các nhóm can thiệp được thiết kế theo cách tiếp cận đi từ trên xuống, tác
động thay đổi hành vi theo 3 nhóm nguyên nhân hành vi: yếu tố tiền đề,
yếu tố làm dễ và yếu tố tăng cường [91].
15


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status