TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI
******
BÁO CÁO KẾT QUẢ
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CẤP CƠ SỞ Tên đề tài :
TÌNH TRẠNG DINH DƯỠNG VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN CỦA TRẺ EM
DƯỚI HAI TUỔI VÙNG DÂN TỘC THIỂU SỐ HUYỆN DARKRONG,
TỈNH QUẢNG TRỊ NĂM 2010
Chủ nhiệm đề tài: Ts.Lê Thị Hương
2.3.2. Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu: 8
2.3.3. Thu thập thông tin 9
2.3.4. Biến số và Chỉ số nghiên cứu 9
2.4. Sai số và khống chế sai số 11
2.5. Xử lý số liệu. 12
2.6. Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu. 12
CHƯƠNG III: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU … …………………………………13
3.1. Thông tin chung của đối tượng nghiên cứu. 13
3.2. Tình trạng dinh dưỡng trẻ em dưới 2 tuổi 14
3.3. KT và TH chăm sóc trẻ em. 16
3.3.1. KT và TH của bà mẹ về việc NCBSM. 16
3.3.2. KT và TH của các bà mẹ về việc cho trẻ ABS. 17
3.3.3. Chăm sóc trẻ khi trẻ bị bệnh. 19
3.4. Mối liên quan giữa TTDD và một số yếu tố ………………… ….20
2
CHƯƠNG IV: BÀN LUẬN 23
4.1. Tình trạng dinh dưỡng của trẻ 23
4.2. KT và TH về NCBSM. 23
4.3. KT và TH cho trẻ ABS 25
4.4. Mối liên quan giữa TTDD và một số yếu tố 25
CHƯƠNG V: KẾT LUẬN 27
1. Tình trạng dinh dưỡng của trẻ 27
2. Thực hành nuôi dưỡng trẻ. Error! Bookmark not defined.
3. Mối liên quan Error! Bookmark not defined.
CHƯƠNG VI: KHUYẾN NGHỊ 28
PHỤ LỤC 31
UNICFF: Quỹ nhi đồng Liên hợp quốc
WAZ: Z-Score cân nặng theo tuổi
WHO: World Health Oganization (Tổ chức Y tế thế giới)
WHZ:
Z-Score cân nặng theo chiều cao
4
ĐẶT VẤN ĐỀ
Hiện nay, SDD Protein-năng lượng vẫn là vấn đề có ý nghĩa sức khoẻ
cộng đồng ở các nước đang phát triển trong đó có Việt Nam [7], [12, [20].
SDD không chỉ ảnh hưởng đến sự phát triển thể chất mà còn ảnh hưởng đến
sự phát triển tinh thần, trí tuệ và để lại hậu quả nặng nề cho xã hội [7]. Do
vậy, vấn đề dinh dưỡng trẻ em được nhiều tổ chức quốc tế quan tâm nghiên
cứu để tìm các giải pháp nhằm cải thiện tình trạng dinh dưỡng (TTDD) của
trẻ em.
Nhiều vấn đề sức khỏe, bệnh tật của trẻ có thể phòng và cải thiện được
nếu được điều chỉnh đúng, kịp thời. Nếu các bà mẹ được trang bị những kiến
thức (KT) và kỹ năng nuôi trẻ có khoa học đứa trẻ sẽ được chăm sóc và phát
triển tốt cả về thể chất và tinh thần. Còn ngược lại khi bà mẹ thiếu KT và kỹ
năng chăm sóc trẻ sự phát triển của trẻ sẽ không được đầy đủ, không những
thế trẻ còn đối mặt với những nguy cơ không đáng có về sức khoẻ.
Dakrong là một huyện miền núi, vùng cao, biên giới nằm về phía tây của
tỉnh Quảng Trị, là vùng chủ yếu có người các dân tộc thiểu số sinh sống. Đây
là khu vực có tỷ lệ SDD cao của tỉnh Quảng Trị, tỷ lệ SDD tới tháng 6 năm
2009 của Dakrong là 36,6%. Các nghiên cứu về TTDD của trẻ em và KT, TH
dinh dưỡng của các bà mẹ dân tộc thiểu số còn rất ít, vì vậy, chúng tôi thực
hiện nghiên cứu này với mục tiêu như sau:
1.1.2. Phân loại SDD
Theo khuyến nghị của Tổ chức Y tế thế giới (WHO), các chỉ tiêu thường
dùng để đánh giá tình trạng dinh dưỡng là cân nặng theo tuổi (CN/T), chiều
cao theo tuổi (CC/T), cân nặng theo chiều cao (CN/CC).
WHO khuyến cáo sử dụng quần thể tham chiếu WHO 2005 để đánh giá
TTDD của trẻ. TTDD của trẻ được đánh giá bằng CN/T, CC/T, CN/CC dựa
vào số trung bình và độ lệch chuẩn của quần thể WHO 2005. Điểm ngưỡng
<2 độ lệch chuẩn (< -2SD) so với quần thể WHO 2005 để đánh giá trẻ bị
SDD.
6
Nếu dựa và Z- Score (điểm –Z), có thể tính theo công thức: Theo chỉ tiêu CN/T:
-Từ dưới -2SD đến -3SD là SDD thể nhẹ cân .
-Từ dưới -3SD là nhẹ cân trầm trọng
KÝch th−íc ®o ®−îc - sè trun
g
b×nh cña
q
uÇn thÓ tham chiÕu
§é lÖch chuÈn cña quÇn thÓ tham chiÕu
Z- Score =
Theo chỉ tiêu CN/CC: Dưới -2SD là gầy còm.
Theo chỉ tiêu CN/T: Dưới -2SD là còi cọc.
1.2. Tổ
ng hợp một số nghiên cứu liên quan
văn hóa mẹ, quyết định của mẹ trong việc cho con bú, cảm giác của bà mẹ khi
cho con bú trước người khác, nghề nghiệp của bố, thói quen nuôi dưỡng của
bố và có đủ lượng sữa là những yếu tố có ảnh hưởng đến TH NCBSM [16],
[17], [18].
Tác giả Lê Thị Hợp và cộng sự tiến hành nghiên cứu về liệu cho ABS
sớm có liên quan đến sự kém phát triển của trẻ em Việt Nam không? Kết quả
cho thấy mặc dù 87.1% bà mẹ NCBSM trong ít nhất một năm nhưng chỉ có
3.3% trẻ được BSMHT trong 4 tháng đầu. Tác giả cũng nhận thấy việc
NCBSM không hoàn toàn và trẻ cai sữa sớm sẽ lớn chậm hơn những trẻ được
NCBSM hoàn toàn. Từ 1-3 tháng, trẻ BSMHT sẽ phát triển tốt cả về cân nặng
và chiều cao. Từ 3-6 tháng, trẻ BSMHT cũng sẽ có sự phát triển về cân nặng
nhanh hơn và từ 6-12 tháng có sự phát triển về chiều cao nhanh hơn so với
nhóm bà mẹ không NCBSM hoàn toàn hoặc cai sữa sớm [19].
Các nghiên cứu của tác giả Lê Thị Hương được thực hiện tại Cẩm Thủy,
Lang Chánh, Thanh Hóa và Hải Lăng, Quảng Trị năm 2007 và 2008 cho thấy
tỷ lệ bà mẹ cho con bú sớm trong nửa giờ đầu sau khi sinh là khá cao (gần
90%). Tuy nhiên, tỷ lệ trẻ được BSMHT đến 4 tháng ở Cẩm Thủy là 23%,
Lang Chánh là 17.8% và Hải Lăng là 27.5% và đến 6 tháng là 19%, 8.6% và
18.3%. Trong số trẻ đã được ABS có 28.1%, 53.7% và 31.9% số trẻ tương
ứng tại ba địa phương được cho ABS sớm trước 4 tháng tuổi. Có mối liên
8
quan giữa SDD và trình độ học vấn của mẹ, và tỷ lệ mắc bệnh đường hô hấp
trong hai tuần qua [4], [5].
9
CHƯƠNG II: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Địa điểm nghiên cứu và thời gian nghiên cứu
2.1.1. Địa điểm nghiên cứu
α = 0,05 với độ tin
cậy là 95%.
10
Từ công thức trên ta tính được n = 355, cộng thêm 10
% dự phòng đối
tượng nghiên cứu sẽ
từ chối. Sau khi làm tròn cỡ mẫu cho nghiên cứu sẽ là
390 trẻ dưới 2 tuổi và các bà mẹ của trẻ.
Phương pháp chọn mẫu.
Theo phương pháp chọn mẫu nhiều giai đoạn:
- Giai đoạn I: Chọn chủ đích huyện Dakrong thuộc tỉnh Quảng Trị.
- Giai đoạn II: Trong 87 thôn ở 11 xã có người dân tộc thiểu số sinh sống
của huyện Dakrong chúng tôi lấy ngẫu nhiên 35 thôn.
- Giai đoạn III (chọn đối tượng nghiên cứu): T
ừ 35 thôn đã chọn danh
sách trẻ dưới 2 tuổi sẽ được lập với đầy đủ các thông tin về ngày tháng
năm sinh và
giới tính. Dựa trên danh sách trẻ dưới 2 tuổi (được lập trước
thời điểm điều tra) của các thôn được chọn, tiến hành chọn mẫu theo
phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên hệ thống với khoảng cách mẫu k =
N/n (k là khoảng cách mẫu; N là tổng số trẻ dưới 2 tuổi của các thôn đã
chọn; n là cỡ mẫu cho nghiên cứu). Tiến hành chọn mẫu cho tới khi đủ
số lượng trẻ là 390 trẻ thì thôi. Trường hợp nếu trẻ được lựa chọn không
đủ tiêu chuẩn, điều kiện tham gia nghiên cứu thì lấy trẻ kế tiếp ngay sau
trẻ được chọn trong bảng danh sách.
2.3.3. Thu thập thông tin
- Đo các chỉ số nhân trắc (cân nặng, chiều cao) của các trẻ dưới 24 tháng tuổi
đã được lựa chọn.
- Phỏng vấn trực tiếp các bà mẹ là mẹ của các trẻ đã được lựa chọn bằng bộ
Cân nặng trẻ. Đo
Các thông tin về trẻ.
Chiều cao trẻ. Đo
2. Mô tả các
yếu tố liên
KT và TH của bà mẹ
trong việc cho trẻ bú
sớm sau sinh và cho bú
sữa non.
Thời gian cho trẻ bú sau khi
sinh.
Phỏng
vấn
ằ
12
Cho trẻ bú sữa non sau khi
sinh.
Cho trẻ ăn thức ăn khác
trước khi cho trẻ bú sữa mẹ
lần đầu tiên.
Lý do cho ăn trước khi cho
bú.
KT và TH cho trẻ
BSMHT trong 6 tháng
tuổi với tình trạng dinh
dưỡng.
Thời gian cho trẻ BSMHT.
Thời gian bắt đầu cho ABS. KT và TH cho trẻ ABS
- Nhập số liệu bằng phần mềm EPI DATA và xử lý số liệu bằng phần
mềm STATA.
- Lập các bảng, biểu đồ để trình bày kết quả nghiên cứu.
- Test Chi-square (
χ
2
) để kiểm định sự khác biệt của hai tỷ lệ; T-test để
kiểm định sự khác biệt của hai giá trị trung bình.
2.6. Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu
Tất cả những người tham gia nghiên cứu là hoàn toàn tự nguyện và được
đọc bản thỏa thuận nghiên cứu được xây dựng theo hướng dẫn về đạo đức
trong nghiên cứu tuân thủ 3 nguyên tắc của đạo đức nghiên cứu là tôn trọng
con người, làm việc thiện và sự công bằng. 14
CHƯƠNG III: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1. Thông tin chung của đối tượng nghiên cứu
Tổng 391 100
Nam 192 49.1 (44.1;54.1)
Giới tính
Nữ 199 50.9 (45.9;55.9)
Dưới 2500(g) 41 16.6 (12.9;20.3)
CNSS (n = 247)
≥ 2500 (g) 206 83.4 (79.7;87.1)15
Phân bố nhóm tuổi nghiên cứu tương đối đồng đều, thấp nhất là nhóm 12-17
tháng (23.3%) và cao nhất là nhóm 0-5 (26.9%).
Tỷ lệ trẻ nam chiếm 49.1%, tỷ lệ trẻ nữ chiếm 50.9%.
Tỷ lệ trẻ em khi sinh ra có CNSS dưới 2500(g) chiếm 16.6%.
Bảng 3.3: Tình trạng kinh tế gia đình.
Tình trạng kinh tế gia đình (n=391) N (391) % (95%CI)
Hộ nghèo (Theo phân loại của địa phương) 136 34.8 (30.1;39.5)
Thiếu gạo ăn trong năm vừa qua 255 65.2 (60.3;69.7)
Tỷ lệ hộ gia đình thiếu gạo ăn trong năm qua rất cao, chiếm 65.2%. Tỷ lệ hộ
nghèo theo phân loại của địa phương là 34.8%.
3.2. Tình trạng dinh dưỡng trẻ em dưới 2 tuổi
Bảng 3.4: Trung bình cân nặng, chiều cao và chỉ số Zscore của trẻ phân theo
giới.
Mean± SD Tổng
(n=391)
Nam (n=192) Nữ
(n=199)
p (t –test)
18.4
0
10
20
30
40
50
60
70
80
<6 tháng 6-11 tháng 12-17tháng 18-24 tháng
Tỷ lệ %
Nhẹ cân
Thấp còi
Gầy còmBiểu đồ 3.2: Phân bố loại SDD theo nhóm tuổi
Biểu đồ 3.2 cho thấy là tỷ lệ SDD theo các thể có xu hướng tăng lên
theo các nhóm tuổi, đặc biệt là thể nhẹ cân và thể thấp còi. Với thể nhẹ cân, tỷ
lệ SDD ở nhóm tuổi dưới 6 tháng là 18.1%, tỷ lệ SDD ở nhóm tuổi 6 đến dưới
11 tháng là 32.3%, tỷ lệ này ở nhóm tuổi 12 đến dưới 17 tháng là 51.1%, ở
nhóm tuổi 18 đến 24 tháng là 52.7%. Với thể thấp còi, tỷ lệ SDD ở nhóm tuổi
dưới 6 tháng là 18.4% sau đó tăng dần lên, cao nhất ở độ tuổi 18 đến 24 tháng
tuổi là 67.5%.
17
3.3. Kiến thức và Thực hành chăm sóc trẻ em
3.3.1. Kiến thức và Thực hành của bà mẹ về việc NCBSM
Kiến thức
Thực hành
Biểu đồ 3.3: Kiến thức và Thự hành về thời gian cho trẻ bú lần đầu
sau khi sinh.
Biểu đồ 3.3 cho thấy cả KT và TH về thời gian cho trẻ bú lần đầu sau khi sinh
của các bà mẹ khá tốt. Số bà mẹ có KT và TH cho con bú sớm trong giờ đầu
sau khi sinh với tỷ lệ tương ứng là 74.1% và 80.1%. Lý do của việc bú muộn
là trẻ ngủ, không chịu bú chiếm 35.9%, tiếp đến là mẹ chưa có sữa về chiếm
28.2% còn lại là các lý do khác như mẹ mổ đẻ, mẹ mệt
Có 16.6% các bà mẹ vắt bỏ sữa non trước khi cho trẻ bú lần đầu tiên với các
lý do là: Vì nghĩ rằng sữa đó không tốt (33.9%); Vì sợ sữa sống, cũ, lạnh
(12.3%); Vì mẹ/người thân khuyên (7.7%); Sợ con đau bụng (29.2%) và lý do
khác (16.9%).
Bảng 3.5 cho thấy đa số các bà mẹ có KT đúng về thời gian cho trẻ BSMHT
(đến 6 tháng tuổi) chiếm 63.4%. Tuy nhiên TH của các bà mẹ rất khác so với
KT. Tỷ lệ bà mẹ cho con BSMHT dưới 1 tháng chiếm tới 33.8%, đến 4 tháng
chỉ là 8.7% đến 5 tháng là 5.0% và số bà mẹ cho con BSMHT đến 6 tháng là
15.7%.
18
Có 12.1% số trẻ đã được cai sữa với thời gian cai sữa trung bình là 12.0 ± 4.2
tháng.
Bảng 3.5: Kiến thức và Thực hành về thời gian bú sữa mẹ hoàn toàn
Kiến thức (n=391) Thực hành (n=299)
Thời gian BSMHT
N % (95%CI) N % (95%CI)
Dưới 1 tháng
0
33.8 (28.4;39.2)
14.7 (10.7;18.7)
14.1 (10.2;18.0)
8.0 (4.9;11.1)
8.7 (5.5;11.9)
5.0 (2.5;7.5)
15.7 (11.6;19.8)
0
3.3.2. Kiến thức Thức và Thực hành của các bà mẹ về việc cho trẻ ABS
Bảng 3.6: Kiến thức và Thực hành cho trẻ ABS.
Kiến thức
(n=389)
Thực hành
(n=341)
Ăn bổ sung
N % (95%CI) n % (95%CI)
Ăn càng sớm càng tốt
< 4 tháng
4-6 tháng
>6 tháng
Không biết/Không nhớ
1
38
32
253
65
0.3 (-0.2;0.8)
9.8 (6.8;12.8)
10
20
30
40
50
60
70
Mẹ phải đi
làm nên cho
con ăn sớm
Mẹ sợ con
đói vì trẻ
khóc nhiều
khác Sợ con khát Mẹ không
có/không đủ
sữa
Gia đình
hướng
dẫn/bắt
buộc cho trẻ
ăn thêm
Mẹ nghĩ
rằng ăn
thêm sẽ tốt
hơn
Thấy người
khác cho ăn
sớm
Tỷ lệ %
Tỷ lệ trẻ được ăn một loại thức ăn trong ngày hôm qua là 37.1%, hai loại là
20.6% và ba loại là 20.3%, bốn loại chỉ có 14.1%.
3.3.3. Chăm sóc trẻ khi trẻ bị bệnh
Bảng 3.9: Tình trạng tiêu chảy và việc bú mẹ khi bị tiêu chảy.
Chỉ số n (378) % (95%CI)
Tiêu chảy:
Từng bị tiêu chảy
Tiêu chảy trong hai tuần qua
288
119
73.7 (69.3; 78.1)
41.3 (35.6; 47.0)
Bú sữa mẹ khi bị tiêu chảy (n=288):
Như bình thường
Nhiều hơn bình thường
Ít hơn bình thường
Dừng bú
113
145
23
7
39.2 (33.6; 44.8)
50.4 (44.6; 56.2)
8.0 (4.9;11.1)
2.4 (0.6;4.2)21
Tỷ lệ trẻ từng bị tiêu chảy là 73.7%, và tỷ lệ trẻ bị tiêu chảy trong hai tuần qua
là 41.3%. Khi bị tiêu chảy, có tới 50.4% bà mẹ cho con bú nhiều hơn bình
Trước 1 giờ 34.6 65.4 Thời gian cho bú sau
sinh
37.7 62.3
p>0.05
Sau 1 giờ
Dưới 6 tháng 41.2 58.8
Thời gian BSMHT
27.7 72.3
p>0.05
Đến 6 tháng
Trước 6 tháng 35.4 64.6
ABS
34.4 65.6
p>0.05
Sau 6 tháng
Có đi học 29.7 70.3
Trình độ học vấn
40.6 59.4
P<0.05
Không đi học
Nghèo 40.9 59.1
Tình trạng kinh tế
Không nghèo 31.8 68.2
p>0.05
Từng bị tiêu chảy Có 37.6 62.4 p>0.05
22
TTDD
p của test
χ
CN/T), 41.7% thể thấp còi (theo CC/T) và thể gầy còm 12.8% (theo CN/CC).
Nếu so sánh với tỷ lệ SDD chung toàn quốc thì tỷ lệ SDD của vùng nghiên
cứu (theo tất cả các thể) đều cao hơn (tỷ lệ của toàn quốc lần lượt là 25.2%,
29.6% và 6.9%). Nếu so sánh với nghiên cứu của Lê Thị Hương ở huyện Hải
Lăng, tỉnh Quảng Trị (một huyện đồng bằng của tỉnh Quảng Trị) thì tỷ lệ
SDD trong nghiên cứu này cao hơn khá nhiều. Tỷ lệ SDD trong nghiên cứu ở
Hải Lăng lần lượt là 17.7% thể nhẹ cân, 14.9% thể thấp còi và 9.7% thể gầy
còm.
Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy, tỷ lệ SDD có xu hướng tăng dần theo
độ tuổi, đặc biệt là với thể nhẹ cân và thấp còi. Với thể nhẹ cân, tỷ lệ SDD ở
độ tuổi dưới 6 tháng là 18.1% sau đó tăng dần và cao nhất là 52.7% ở độ tuổi
18 đến dưới 24 tháng. Ở thể thấp còi thì tỷ lệ SDD cũng tăng dần từ độ tuổi
dưới 6 tháng là 18.4%, cao nhất là độ tuổi 18 đến dưới 24 tháng là 67.5%.
Phát hiện này cũng phù hợp với xu thế chung của điều tra toàn quốc năm
2006 [13] và một số nghiên cứu khác [3]. Theo điều tra toàn quốc năm 2006,
tỷ lệ SDD thể nhẹ cân ở trẻ dưới 6 tháng tuổi là 4.6%, tăng dần lên ở độ tuổi
6 đến dưới 12 tháng là 25.9% và độ tuổi 12 đến 24 tháng là 31.2% [13]. Điều
này có thể lý giải là do ở những độ tuổi này trẻ bắt đầu ABS và sau đó là giai
đoạn cai sữa, chế độ ăn hoàn toàn phụ thuộc vào việc TH cho trẻ ABS của bà
mẹ và người chăm sóc trẻ.
4.2. Kiến thức và Thực hành về NCBSM
Trong nghiên cứu của chúng tôi có tới 80.1% các bà mẹ cho trẻ bú ngay
trong giờ đầu sau khi sinh. Nghiên cứu của Nguyễn Đình Quang năm 1996
khi nghiên cứu trên 425 cặp mẹ và con ở nội và ngoại thành Hà Nội thì chỉ có
30.0% các bà mẹ ở nội thành cho trẻ bú sớm trong vòng 30 phút ngay sau khi
24
sinh [10], và nghiên cứu của Lê Thị Kim Chung năm 2000 về tập tính nuôi
con dưới 24 tháng tuổi của các bà mẹ tại phường Láng Hạ quận Đống Đa
thành phố Hà Nội thì tỷ lệ trẻ được bú mẹ sớm trong 30 phút sau khi sinh là