LUẬN VĂN:TÌNH TRẠNG DINH DƯỠNG, NHIỄM GIUN VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN CỦA TRẺ EM 12-36 THÁNG TUỔI TẠI HUYỆN ĐAKRÔNG TỈNH QUẢNG TRỊ - Pdf 12


TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI
K  J

NGUYỄN HOÀNG LINH CHI TÌNH TRẠNG DINH DƯỠNG, NHIỄM GIUN VÀ
MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN CỦA TRẺ EM
12-36 THÁNG TUỔI TẠI HUYỆN ĐAKRÔNG
TỈNH QUẢNG TRỊ KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP BÁC SĨ Y KHOA
Khóa 2005-2011 Giáo viên hướng dẫn : TS LÊ THỊ HƯƠNG
HÀ NỘI_2011
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ 2
ĐẶT VẤN ĐỀ



3
Hướng Hóa vào tháng 12/2009 cho thấy rằng tỷ lệ suy dinh dưỡng của trẻ em
ở đây rất cao: 41.9% (thể nhẹ cân), 44.1% (thể thấp còi) và 13,4% (thể gầy
còm) [23]. Trẻ em dưới 36 tháng tuổi bị suy dinh dưỡng có nhiều nguyên
nhân, trong đó nhiễm giun đường ruột là một nguyên nhân cần được quan
tâm. Nhiễm giun gây nên chán ăn, hấp thu kém, tiêu hóa kém, viêm mạn tính
ống tiêu hóa, cạnh tranh sử dụng và làm tăng mất các chất dinh dưỡng:
protein, lipid, vitamin A Lâu dài, giun làm suy dinh dưỡng-thiếu máu, chậm
phát triể
n thể chất và tinh thần [24], [37]. Các nghiên cứu về tình trạng dinh
dưỡng và nhiễm giun của trẻ em dân tộc thiểu số còn rất ít, là lý do chúng tôi
thực hiện nghiên cứu này với 2 mục tiêu sau:

(1) Đánh giá tình trạng dinh dưỡng và nhiễm giun của trẻ em 12-36 tháng
tuổi tại vùng đồng bào dân tộc Pakoh và Vân Kiều của huyện
Đakrông tỉnh Quảng Trị.
(2) Mô tả một số yếu tố liên quan đến tình trạng dinh dưỡng và nhiễm
giun của trẻ
12-36 tháng tuổi tại vùng đồng bào dân tộc Pakoh và Vân
Kiều của huyện Đakrông tỉnh Quảng Trị.
5
1.1.2. Đặc điểm sinh học cơ bản của trẻ dưới 3 tuổi:
Lứa tuổi này tốc độ lớn có giảm so với lứa tuổi trước 12 tháng nhưng
vẫn còn cao đồng thời các hoạt động đã bắt đầu tăng lên cùng theo với tuổi
tập đi, tập nói do đó tiêu hao năng lượng so với cơ thể vẫn cao.
Trẻ từ 1-3 tuổi, cơ quan tiêu hóa ch
ưa phát triển hoàn chỉnh, do vậy các
thức ăn cho trẻ cần phải dễ tiêu hóa, giàu các chất dinh dưỡng có giá trị cao
và đủ các nhóm thực phẩm trong ô dinh dưỡng để đáp ứng nhu cầu các chất
dinh dưỡng. Đảm bảo tốt vệ sinh thực phẩm và ăn uống để phòng tránh nhiễm
khuẩn và các bệnh đường ruột ở trẻ.
Do tiếp xúc rộng rãi với môi trường nên trẻ dễ bị lây các bệnh truyền
nhiễm (sởi, ho gà, bạch hầu, uốn ván, viêm gan virus, sốt xuất huyết). Hệ
thống miễn dịch hoạt động tốt, các bệnh nhiễm trùng giảm, nhưng trẻ lại bị
các bệnh dị ứng như viêm cầu thận cấp, hen suyễn, nổi mề đay [30].
1.1.3. Nhu cầu dinh dưỡng của trẻ dưới 3 tuổi:
Nhu cầu năng lượng theo bảng khuyến nghị của Việt Nam cho trẻ t
ừ 1-3
tuổi là 1300 kcal (100 kcal/kg cân nặng), trong đó 50% đáp ứng cho chuyển
hóa cơ bản, 12% cho tăng trưởng, 25% cho hoạt động thể lực [14].
Trong chế độ ăn của trẻ dưới 3 tuổi, nhu cầu protein hàng ngày là
28g/ngày (2,5g-3g/kg cân nặng của trẻ). Trong đó, protein có nguồn gốc động
vật chiếm 50-60% tổng số protein [14].
Nhu cầu lipid ở trẻ đảm bảo cho nhu cầu về năng lượng (1g chất béo
cung cấp 9 kcal), cung cấp các acid béo cần thi

nước đang phát triển cho thấy tỷ lệ SDD là 35,8%, tỷ lệ trẻ em còi cọc là
42,7% và tỷ lệ trẻ em gầy còm là 9,2 %. Châu Á có tỷ lệ SDD cao nhất so với
các châu lụ
c khác: 42% trẻ em SDD, 47,1% trẻ em còi cọc và 10,8% trẻ gầy
còm. Châu Úc có 29,1% trẻ em SDD, 41,9% trẻ em còi cọc, 7,2% trẻ em gầy
còm. Châu Phi có 27,4% trẻ em SDD, 38,6% trẻ em còi cọc và 7,2% trẻ em 7
gầy còm. Có ít nhất 2/3 số trẻ em châu Á và 1 nửa số trẻ em SDD trên thế giới
sống ở khu vực Nam Á [45].
Tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng ở Việt Nam tuy đã giảm nhiều, nhưng vẫn
còn ở mức cao so với trung bình các nước trong khu vực và các nước đang
phát triển có thu nhập đầu người tương tự.
Bảng 1.1. Suy dinh dưỡng trẻ em Việt Nam so với khu vực và Thế giới -
Năm 2000 [9]
SDD
Khu vực
Thể nhẹ cân
(%)
Thể thấp còi
(%)
Thể gầy còm
(%)
Banglades 56 55 18
Việt nam 34 36 8
Thái Lan 19 16 6
Philippin 28 30 6
Indonesia 34 42 13
Lào 40 47 11

Diễn biến su
y
dinh dưỡn
g
trẻ em d
ư
ới 5 tuổi trên toàn
q
uốc
(
1999

2010
)
36,7
33,8 31,9
30,1

28,4
26,6 25,2
23
,
4
21,2
19
,
9
18
,
9

45
1999 2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008 2009 2010
%
Thể nh

cân Thể thấ
p
còi
hướng giảm, nhưng vẫn còn khoảng 1/3 trẻ em cơ thể trong tình trạng kém
phát triển. Con số này đặt nước ta vào số 36 nước có tỷ lệ trẻ em bị suy dinh
dưỡng cao nhất thế giới, và đó là một vấn đề y tế công cộng rất lớn.
1.2.1 Tình hình SDD protein năng lượng trẻ em tại Việt Nam
Suy dinh dưỡng protein năng lượng ở trẻ em Việt Nam còn là một thách
thức quan trọng đối với sứ
c khỏe cộng đồng và phát triển kinh tế xã hội. Các
kết quả nghiên cứu của Viện Dinh dưỡng Việt Nam từ năm 1999 đến năm
2010 cho thấy tình tỷ lệ suy dinh dưỡng trẻ em trong cộng đồng đã giảm,
nhưng vẫn là một mức cao theo tiêu chuẩn đánh giá của WHO [12]. Suy dinh
dưỡng trẻ em làm ảnh hưởng lâu dài và nghiêm trọng đến sự phát triển của
kinh tế-xã hội, làm tăng nguy cơ mắc bệ
nh và tử vong ở trẻ em lên 2,5-2,8 lần
so với trẻ bình thường.
12 . 9
19
6
36.3
41.8
12 . 2
40.9
38.6
9.2
40.2
43
8.5
41.7
44.8
8.8
0
5
10
15
20
25
30
35
40
45
%
≤12
tháng
13-24
tháng

Đông Bắc 22,3 34,8 7,0
Bắc Trung Bộ 22,9 34,3 6,9
Nam Trung Bộ 19,3 31,8 7,1
Tây Nguyên 28,5 39,2 7,3
Đông Nam Bộ 16,4 18,1 6,8
Đồng bằng sông Cửu Long 18,7 19,1 6,7

Có sự khác biệt khá lớn về tỷ lệ SDD trẻ em ở thành thị và nông thôn.
Điều này lý giải bởi sự bất cập trong việc tiếp cận dịch vụ Y tế, trình độ dân
trí và khoảng cách giàu nghèo giữa khu vực nông thôn, miền núi so với các
thành phố lớn và các khu đô thị.
11
Bảng 1.3. Tỷ lệ SDD trẻ em theo khu vực - Năm 2005 [7]
Tỷ lệ %
Khu vực
Nhẹ cân Thấp còi Gày còm
Thành thị 19,6 21,9 4,7
Nông thôn 29,3 34,1 7,5
Chung 25,2 29,6 6,9

1.3. Phương pháp đánh giá tình trạng SDD trẻ em :
1.3.1. Khái niệm :
Suy dinh dưỡng là tình trạng cơ thể thiếu protein, năng lượng và các vi
chất dinh dưỡng. Bệnh hay gặp ở trẻ em dưới 5 tuổi, biểu hiện ở nhiều mức

• Cân nặng theo chiều cao:
Là chỉ số đánh giá tình trạng dinh dưỡng hiện tại. Chỉ số này phản ánh
tình trạng SDD cấp hay còn gọi “Wasting”. Cân nặng theo chiều cao thấp
phản ánh sự không tăng cân hay giảm cân nếu so sánh với trẻ có cùng chiều
cao, chính là phản ánh mức độ thi
ếu ăn và nhiễm khuẩn là hai nguyên nhân
chính dẫn đến tình trạng này.
1.3.3. Cách phân loại suy dinh dưỡng
1.3.3.1. Phân loại theo Gomez (1956)
Là phân loại được dùng sớm nhất, nó chỉ dựa trên chỉ só cân nặng theo
tuổi và sử dụng quần thể tham khảo
Tiêu chuẩn Mức độ SDD
Từ 70%-90% của cân nặng chuẩn SDD độ I
Từ 60%-75% của cân nặng chuẩn SDD độ II
Từ dưới 60% của cân nặng chuẩn SDD độ III

Cách phân loại này không phân biệt giữa SDD cấp hay mãn cũng như
giữa Marasmus và Kwashiorkor bởi vì cách phân loại này không đánh giá tới
chiều cao.
13
1.3.3.2. Phân loại theo Wellcome (1970)
Cân nặng (%) so với chuẩn Phù
Có Không
60%-80% Kwashiorkor SDD I, II
<60% Marasmus +
Kwashiorkor
Marasmus

chỉ tiêu nhân trắc: tuổi, giới, cân nặng, chiều cao đo được và s
ố trung bình của
quần thể tham chiếu WHO 2005 để tính toán các chỉ số Z–score cân nặng
theo tuổi (WAZ), Z–score chiều cao theo tuổi (HAZ), Z–score cân nặng theo
chiều cao (WHZ). WHO đề nghị lấy điểm ngưỡng dưới 2 độ lệch chuẩn (< -
2SD) so với quần thể tham chiếu WHO 2005 để đánh giá trẻ bị suy dinh
dưỡng.:
Công thức tính độ lệch chuẩn Z-score ( SD score ):

- SDD thể nhẹ cân: CN/T Z-score (WAZ) < - 2SD;
- SDD thể thấp còi: CC/T Z-score (HAZ) < - 2SD
- SDD th
ể gày còm: CN/CC Z-score (WHZ) < - 2SD.
WHO cũng đưa ra các mức phân loại sau đây để nhận định ý nghĩa sức
khỏe cộng đồng [48].
Bảng 1.4. Phân loại mức suy dinh dưỡng cộng đồng trẻ dưới 5 tuổi [48] Mức độ suy dinh dưỡng theo tỷ lệ %
Thấp T/bình Cao Rất cao
Thấp còi ( Stunting ) < 20 20-29 30-39 ≥ 40
Nhẹ cân ( Underweight) < 10 10-19 20-29 ≥ 30
Gầy còm ( Wasting ) < 5 5-9 10-15 ≥ 15

Kích thước đo được - Số trung bình của quần thể tham chiếu
Z-score hay SD score =
Độ lệch chuẩn của quần thể tham chiếu

16
1.4. Tình hình nhiễm giun của trẻ em trên Thế giới và ở Việt Nam
1.4.1. Tình hình nhiễm giun của trẻ em trên thế giới
Nhiễm giun là bệnh thường gặp nhất ở người, hay gặp ở các nước nhiệt
đới, phần lớn các nước đang phát triển là vùng nhiễm kí sinh trùng. Theo
thống kê của WHO 2002, có đến 230 triệu trẻ em từ 0-4 tuổi bị nhiễm giun,
vùng bị nhiễm nhiều nhất là vùng châu Á, Trung quốc, Ấn độ
và sa mạc
Sahara [18].
Năm 1997 tại Ấn Độ, Awashi. S và cộng sự nghiên cứu 1061 trẻ em từ
18-42 tháng tuổi thấy tỷ lệ nhiễm kí sinh trùng đường ruột là 17,5%, trong đó
nhiễm giun đũa chiếm 68,1% [34]. Tại Kenya, Olsen A và cộng sự cho thấy
16% trẻ nhiễm giun đũa, 63% nhiễm giun móc và 24% nhiễm giun tóc [25].
Bệnh giun đũa rất phổ biến trên thế giới, có mặt hầu hết các châu lục,
Châu Á có tỷ lệ nhiễm giun đũa cao nhất, khoả
ng 70%; Châu Phi là 32,32%;
các nước Châu Mỹ có tỷ lệ nhiễm khoảng 8%. Tình trạng nhiễm giun đũa ở
trẻ em tại một số nước Đông Nam Á: Thủ đô Kuala Lumpur có tỷ lệ nhiễm
giun 15,5%, ở Sulawesi có tỷ lệ nhiễm 59,8%, Sukaraja có tỷ lệ nhiễm 44%,
Philippin có tỷ lệ nhiễm 70,6%
Do tính chất sinh thái giống nhau giữa giun tóc và giun đũa nên các vùng
có bệnh giun đũa đều có bệnh giun tóc. Bệnh giun tóc phổ biến ở các vùng
nhiệt đới Châu Phi và vùng Đông Nam Á [1]. Ở
Jamaicar, tỷ lệ trẻ em nhiễm

trứng giun Đũa, 264 giun Tóc [26].
Theo nghiên cứu c
ủa Đỗ Dương Thái và cộng sự, tỷ lệ nhiễm giun đũa ở
trẻ từ 2 - 5 tuổi là 42,8% - 66% [36]. Hoàng Thị Kim và cộng sự nghiên cứu ở
trẻ 1 - 4 tuổi vùng đồng bằng tỷ lệ nhiễm giun móc là 1,4% [27]; Trần Minh
Hậu và cộng sự cho thấy, trẻ em dưới 5 tuổi tại Thái Bình tỷ lệ nhiễm giun
đũa là 77,4%, giun tóc 30,1%, giun móc 1,07% [18] ; Đỗ Thị Đáng nghiên
cứu ở huyện Kiến Xương tỉnh Thái Bình thấy tỷ
lệ nhiễm giun đũa ở trẻ 6
tháng đến 15 tuổi là 87% - 89%, giun tóc 78% - 80% và giun móc 20% [5]. 18
1.4.3. Đặc điểm sinh học, tác hại đối với sức khỏe và bệnh tật trẻ em của
một số loại giun thường gặp

1.4.3.1. Đặc điểm sinh học của một số loại giun thường gặp
Giun đũa (Ascaris Lumbricoides) là một loại giun lớn, có hình thể dài và
to như chiếc đũa [32]. Bệnh giun đũa gây tác hại tiềm tàng do khả năng chiếm
thức ăn của chúng ở ruột non. Ngoài việc chiếm protein của cơ thể, giun đũa
còn gây ra rối loạn các chức năng về tiêu hóa và dinh dưỡng. Do đó ảnh
hưởng đến thể lự
c, tuổi thọ của mỗi người, đặc biệt làm giảm khả năng phát
triển thể lực và trí tuệ của trẻ em [32]
Giun móc/mỏ gây bệnh ở người chủ yếu do hai loài giun tròn nhỏ thuộc
họ Ancylostomide là giun móc (Ancylostoma duoenalae) và giun mỏ (Necator
americanus) gây ra. Hai loại giun này tuy có khác nhau về hình thể nhưng có
đặc điểm dịch tễ học, bệnh học và các tác hại tương tự nhau nên thường được
gọi chung là giun móc [32]. Giun móc sống
ở tá tràng và phần đầu ruột non,

ệu chứng gì rõ rệt, đôi khi thấy buồn nôn, ăn không tiêu, hay
đau bụng, đi ngoài phân nát. Ở trẻ em hay gặp các triệu chứng như: gầy còm,
bụng chướng, biếng ăn, co giật, ứa nước bọt, đó là những triệu chứng nhiễm
độc thần kinh do độc tố của giun gây ra. Biểu hiện suy dinh dưỡng ở trẻ em
nhiễm giun thường kéo dài, cân nặng và tốc độ phát triển thể lực của trẻ
em
nhiều khi rất thấp [32], [37].
Giun móc không những gây ra tình trạng thiếu máu mà còn làm giảm
Vitamin A, B1, C và giảm protein. Kết quả nghiên cứu bằng đồng vị phóng
xạ cho thấy: hiện tượng giảm protein trong bệnh giun móc vừa do mất máu
vừa do rối loạn hấp thu [2]. Như vậy hậu quả nghiêm trọng nhất của nhiễm
giun móc là sự mất máu mãn tính từ tá tràng đến ruột non làm giảm dự trữ sắt
của cơ thể và phát sinh bệ
nh thiếu máu, thiếu sắt và cũng có thể mất protein
huyết thanh dẫn đến giảm Albumin nghiêm trọng. Ở trẻ em nhiễm giun móc
nhiều và kéo dài có thể làm ảnh hưởng đến sự phát triển của cơ thể như: chậm
lớn, còi cọc, chậm phát triển về tinh thần và trí tuệ [32].
Giun tóc ký sinh ở đại tràng, manh tràng, phần đầu của giun tóc cắm sâu
vào niêm mạc ruột gây tổn thương tế bào, làm rối loạn chức nă
ng ruột và 20
viêm ruột. Hậu quả gây ra những triệu chứng rối loạn tiêu hóa, đau bụng, đi
ngoài Vì giun tóc hút máu nên những trường hợp nhiễm nặng thường bị
thiếu máu nhược sắc, hồng cầu giảm [21], [31].
Theo WHO, số dân của Việt Nam là 70 triệu, tỷ lệ nhiễm trong dân là
80% nhiễm giun đũa, 52% nhiễm giun Tóc và 32% giun Móc. Mỗi người Việt
Nam trung bình có 8 con giun đũa, 22 con giun tóc và 17 con giun móc. Như
vậy, trong một năm tác hại do giun như sau: giun đũa tiêu thụ

trường hợp nào nhiễm giun tóc; nhiễm phối hợp 2 loại giun (đũa+móc) là
2,91%. Trẻ em từ 12 đến 24 tháng tuổi nhiễm giun đường ruột là 47,54%, trẻ
em từ 25 đến 36 tháng tuổi nhiễ
m giun đường ruột là 57,36%, đồng thời kết
quả điều tra cho thấy tỷ lệ suy dinh dưỡng trong nhóm trẻ em nhiễm giun là
72,00% [19].
1.5. Nguyên nhân và các yếu tố liên quan đến tình trạng dinh dưỡng và
nhiễm giun của trẻ em
1.5.1. Nguyên nhân, yếu tố liên quan đến tình trạng dinh dưỡng
Năm 1998, UNICEF đã phát triển mô hình nguyên nhân suy dinh dưỡng.
Một số tổ chức khác cũng đã có những mô hình nguyên nhân - hậu quả SDD
riêng, hoặc phát triển mô hình mới dựa trên mô hình của UNICEF.
Mô hình nguyên nhân củ
a SDD thiếu protein, năng lượng ở trẻ em dưới
5 tuổi cho thấy, suy dinh dưỡng là do tác động của nhiều yếu tố, có mối quan
hệ chặt chẽ với vấn đề y tế, lương thực-thực phẩm và thực hành chăm sóc trẻ
tại hộ gia đình. Mô hình chỉ ra các nguyên nhân ở các cấp độ khác nhau:
nguyên nhân trực tiếp, nguyên nhân cơ bản, nguyên nhân sâu xa và các yếu tố
ở cấp độ này ảnh hưởng đến c
ấp độ khác.
Nguyên nhân trực tiếp của SDD trẻ em gồm ăn uống không hợp lý và
bệnh tật:
- Các yếu tố về dinh dưỡng/chế độ ăn :
Các số liệu điều tra riêng về khẩu phần ăn của người lớn và trẻ em cho
thấy chế độ ăn đóng vai trò quan trọng dẫn tới tình trạng suy dinh dưỡng ở
Việt Nam. Nhìn chung, khẩu phần ăn ở cả
người lớn và trẻ em nước ta còn ở 22

Nguyên nhân sâu xa (tiềm tàng) của SDD do sự bất cập trong dịch vụ
chăm sóc bà mẹ, tr
ẻ em, kiến thức của người chăm sóc trẻ, yếu tố chăm sóc 23
của gia đình, các vấn đề nước sạch, vệ sinh môi trường và tình trạng nhà ở
không đảm bảo, mất vệ sinh. Tỷ lệ SDD ở trẻ có mối quan hệ mật thiết với
trình độ giáo dục và tình trạng SDD mạn tính của người mẹ. Những phụ nữ bị
thiếu năng lượng trường diễn hoặc chiều cao thấp thường dễ đẻ con nhỏ yếu,
cân nặng sơ sinh thấp [44]. Những đứa trẻ được nuôi dưỡng bởi những người
phụ nữ có học thức cao hơn thì thường được chăm sóc dinh dưỡng tốt hơn.
Theo kết quả nghiên cứu của Đặng Oanh, Vũ Đức Bảo, Nguyễn Thanh Quế
cùng cộng sự (1997) cho thấy, trẻ của những bà mẹ có trình độ văn hóa từ cấp
1 trở xuống hoặc mù chữ có tỷ l
ệ SDD cao hơn những bà mẹ có trình độ văn
hóa từ cấp 2 trở lên [33].
Nguyên nhân gốc rễ (cơ bản) của SDD trẻ em đó là nghèo đói và thiếu
kiến thức. Đói nghèo chủ yếu rơi vào những hộ gia đình có trình độ học vấn
thấp, khó có cơ hội tiếp xúc với thông tin và với các dịch vụ chăm sóc sức
khoẻ. Mặt khác, phần lớn các hộ gia đình nghèo, nhất là vùng nông thôn và
miề
n núi lại thường sinh nhiều con. Vì gia đình đông con nên chế độ dinh
dưỡng, khẩu phần ăn của trẻ không được đảm bảo. Chính điều này lại tạo nên
vòng luẩn quẩn của đói nghèo khó giải quyết.
1.5.2. Nguyên nhân, yếu tố liên quan đến tình trạng nhiễm giun của trẻ
em
Các nước khí hậu nhiệt đới rất thuận tiện cho sự sinh trưởng và phát triển
của giun truyền qua đất và các nước có n
ền kinh tế chậm phát triển, điều kiện


25
CHƯƠNG 2:
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Địa điểm nghiên cứu
Nghiên cứu được thực hiện tại 4 xã (ABung, Tà Rụt, Đakrông và xã
Hướng Hiệp) thuộc huyện Đakrông tỉnh Quảng Trị.
Đakrông là một huyện miền núi biên giới phía Tây Nam của tỉnh
Quảng Trị, có 13 xã và 1 thị trấn, với 102 thôn. Về vị trí địa lý: diện tích tự
nhiên là 1123,32 km
2
; phía bắc giáp huyện Hướng Hóa, phía nam giáp tỉnh
Thừa Thiên - Huế, phía tây là nước bạn Lào, phía đông giáp các huyện Hải
Lăng, Triệu Phong, Cam Lộ, Gio Linh. Theo Chi cục thống kê huyện, dân số
của huyện tính tới tháng 12/2003 là 34.869 người, trong đó 82% là đồng bào
dân tộc thiểu số Vân Kiều và Pakoh.Về kinh tế, Đakrông là huyện nghèo của
tỉnh, giao thông khó khăn, điều kiện phát triển kinh tế thấp kém kéo theo tình
trạng y tế chưa được đảm bảo t
ốt gây khó khăn cho ngành Y tế trong việc
đảm bảo chỉ tiêu giảm tình trạng SDD trên địa bàn. Tính tới tháng 12/2008,


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status