MỤC LỤC
MỤC LỤC 1
CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN 2
CHƯƠNG 2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 9
CHƯƠNG 3. QUÁ TRÌNH NGHIÊN CỨU VÀ KẾT QỦA 11
3.1. Đặc điểm chung về đối tượng nghiên cứu 13
3.2. Tình trạng dinh dưỡng theo chỉ số BMI 13
CHƯƠNG 4. BÀN LUẬN 15
CHƯƠNG 5. KẾT LUẬN 17
KHUYẾN NGHỊ 18
LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Trong những năm gần đây, song song với sự phát triển của nền kinh tế, mô
hình về tình trạng dinh dưỡng của người Việt Nam cũng đang thay đổi theo hướng
dinh dưỡng chuyển tiếp. Trong dinh dưỡng chuyển tiếp, chúng ta phải gánh chịu
gánh nặng kép: vấn đề suy dinh dưỡng đã và đang ngày một được cải thiện nhưng
không đồng đều ở các vùng miền và chưa được giải quyết dứt điểm thì lại xuất
hiện vấn đề thừa cân béo phì. Vấn đề dinh dưỡng cho trẻ được đại đa số cộng
đồng quan tâm ngay từ khi trẻ ra đời, đó được coi là đầu tư cho thế hệ tương lai
của đất nước. Tại Việt Nam, tình trạng dinh dưỡng của trẻ em dưới 5 tuổi, trẻ em
lứa tuổi học đường (tiểu học, trung học cơ sở) đã được tiến hành nghiên cứu, tuy
nhiên, ở giai đoạn 15 – 18 tuổi - thế hệ kế cận nguồn lao động của đất nước lại
chưa được đề cập nhiều trong các nghiên cứu hiện nay. Vậy thực trạng dinh
dưỡng của đối tượng 15 – 18 tuổi hiện nay như thế nào, đặc biệt là ở các khu đô
thị - nơi được mệnh danh là thành phố của các nền văn hóa hiện đại, nơi được du
nhập nhiều nguồn thông tin đa chiều, ai ai cũng chú trọng làm đẹp, giữ đẹp thì
nhận thức của lứa tuổi học sinh từ 15 – 18 tuổi, đặc biệt là ở các học sinh gái trong
chế độ ăn uống hàng ngày nhằm đảm bảo vừa giữ “dáng” vừa giữ sức khỏe và học
tập tốt là hết sức cần thiết cho việc cải thiện một phần nào đó tình trạng sức khỏe
cũng như đảm bảo chất lượng về nguồn lao động kế cận cho Việt Nam.Bên cạnh
đó, 15 – 18 tuổi cũng là giai đoạn trẻ đã tự lập về cách ăn uống, có tư tưởng, quan
1
hấp thu thức ăn. Tình trạng dinh dưỡng tốt phản ánh sự cân bằng giữa thức ăn ăn
vào và tình trạng sức khỏe, khi cơ thể có tình trạng dinh dưỡng không tốt, (thiếu
hoặc thừa dinh dưỡng) là thể hiện có vấn đề sức khỏe hoặc dinh dưỡng hoặc cả
hai. Vấn đề thiếu dinh dưỡng hiện nay đang phổ biến tại các cộng đồng có điều
kiện kinh tế khó khăn, vùng sâu vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số (tỉ lệ suy
dinh dưỡng trẻ em dưới 5 tuổi ở Quảng Trị thể nhẹ cân: 16%; thấp còi: 29,8%;
gày còm: 6,6%; Quảng Nam, nhẹ cân: 14,8%; thấp còi: 28,6; gày còm: 5,8%).
Còn vấn đề thừa dinh dưỡng (thừa cân – béo phì) đang có xu hướng báo động tại
các vùng có điều kiện kinh tế. Đặc biệt là tại các đô thị, thành phố lớn (Tp.Hà
Nội: 7,5%; Tp.Hồ Chí Minh: 15,7%), tỉ lệ thừa dinh dưỡng không chỉ xảy ra ở lứa
tuổi 35 – 60, trẻ em dưới 5 tuổi (6,5%) mà hiện tại đang có xu hướng tăng ở lứa
tuổi học đường và lứa tuổi vị thành niên. Đây là thách thức đối với các gia đình và
nhà trường trong việc cân đối lại chế độ dinh dưỡng để trẻ có thể vừa đảm bảo
tình trạng dinh dưỡng tốt vừa đảm bảo sức khỏe để học tập.
Nhu cầu dinh dưỡng lứa tuổi 13 – 18:
Giới
tính
Nhóm tuổi Nhu cầu năng lượng (kcal)
Nam 13 – 15 2,650
16 – 18 2,980
Nữ 13 – 15 2,200
16 – 18 2,240
1.2. Thừa cân - béo phì
1.2.1. Định nghĩa thừa cân – béo phì
3
Theo tổ chức y tế thế giới, thừa cân – béo phì là tình trạng tích lũy mỡ quá
mức và không bình thường tại một số vùng cơ thể hay toàn thân đến mức ảnh
hưởng tới sức khỏe.
1.2.2. Cách xác định thừa cân – béo phì
Đánh giá tình trạng thừa cân, béo phì căn cứ vào chỉ số khối cơ thể (BMI).
1.2.5.1. Thế giới
Hiện nay tại một số nước phát triển, tỉ lệ trẻ thừa cân, béo phì đang là vấn đề
báo động cần can thiệp. Điển hình là tại Anh, năm 2004: tỉ lệ trẻ 11 – 15 tuổi bị
béo phì ở nam là 24% và nữ là 26%. Tỉ lệ này cũng tương ứng ở các nước phát
triển khác như Mexico, Brazil, Quatar…. Thông thường, các nghiên cứu trên thế
giới đều chỉ ra rằng tỉ lệ suy dinh dưỡng cao ở lứa tuổi dưới 5 tuổi, nhưng càng
về sau, đặc biệt là ở lứa tuổi vị thành niên thì tỉ lệ béo phì tăng dần theo nhóm tuổi
từ 12 đến 18 tuổi. Tỉ lệ béo phì ở gái cao hơn trai. Một nghiên cứu của Mohsen
A.F và Arjumand S.Warsy năm 2002 cho thấy kết quả như sau:
Nhóm tuổi Trai Gái
Thừa cân
(%)
Béo phì (%) Thừa cân
(%)
Béo phì (%)
12 – 18 14.5 5.8 15.6 6.9
12 – 13 13 4.4 12.3 4.4
13 – 14 13.3 5.2 13.2 4.9
14 – 15 16 3.9 15.8 7.1
15 – 16 16.3 7.3 16 7
17 – 18 13.2 6.3 16.2 7.8
1.2.5.2. Tại Việt Nam
Trong những năm qua, việc xã hội hóa trong các hoạt động nâng cao sức
khỏe người dân nói chung và trẻ em nói riêng đã góp phần cải thiện tình trạng
dinh dưỡng một cách đáng kể. (tỉ lệ trẻ dưới 5 tuổi bị suy dinh dưỡng nhẹ cân,
thấp còi, gày còm năm 2000 lần lượt là: 36,5%; 33,8%; 8,6%, năm 2012 tương
ứng là 26,7%; 16,2%, 6,7%). Song song với việc cải thiện tình trạng dinh dưỡng
nhờ sự phát triển của nền kinh tế thì Việt Nam lại đang phải đối phó với mô hình
dinh dưỡng chuyển tiếp, vừa tiếp tục công tác phòng chống suy dinh dưỡng, vừa
phảit đề ra các biện pháp dự phòng tình trạng thừa cân, béo phì ở trẻ em đang
thành thói quen.
6
1.3.2. Hành vi sức khỏe
Hành vi sức khỏe là những hành vi của con người có ảnh hưởng tốt hoặc
xấu đến sức khỏe của chính bản thân họ, của những người xung quanh và của
cộng đồng. Theo ảnh hưởng của hành vi đến sức khỏe, chia thành 3 loại hành vi
sức khỏe.
Những hành vi có lợi cho sức khỏe: đó là các hành vi lành mạnh được người dân
thực hành để phòng chống bệnh tật, tai nạn, bảo vệ và nâng cao sức khỏe hay các
hành động mà một người thực hiện để làm cho họ và những người khác khỏe
mạnh và phòng các bệnh tật. Ví dụ: tiêm chủng cho trẻ, tập thể dục, thực hành vệ
sinh môi trường.
Những hành vi có hại cho sức khỏe: là các hành vi có nguy cơ hoặc có tác động
xấu đến sức khỏe do một cá nhân, một nhóm người hay có thể cả một cộng đồng
thực hành. Một số hành vi có thể trở thành thói quen, phong tục tập quán gây ảnh
hưởng lớn đến sức khỏe của nhiều người. Ví dụ: sử dụng phân tươi bón ruộng, hút
thuốc lá, lạm dụng rượu bia….
Hành vi trung gian: là hành vi không có lợi và cũng không có hại cho sức khỏe.
Ví dụ một số bà mẹ đeo vòng bạc cho trẻ em để tránh gió, tránh bệnh. Với các loại
hành vi trung gian này thì không cần phải tác động để loại bỏ, đôi khi cần chú ý
khai thác những khía cạnh có lợi của các hành vi này đối với sức khỏe. Ví dụ:
hướng dẫn bà mẹ theo dõi độ chặt, lỏng của vòng cổ tay, cổ chân của trẻ để đánh
giá tỉnh trạng tăng trưởng của trẻ.
1.3.3. Các yếu tố liên quan đến hành vi ăn uống ở vị thành niên 15 – 18 tuổi
Hành vi ăn uống cũng là một trong những hành vi sức khỏe. Hành vi ăn
uống là các thực hành ăn uống hàng ngày của con người có ảnh hưởng tốt hoặc
xấu đến sức khỏe của chính bản thân họ, của những người xung quanh và của
cộng đồng. Ví dụ: một số bà mẹ tại vùng miền núi thực hành cho trẻ ăn cơm nhá
ngay khi trẻ mới chào đời từ 1 tuần đến 1 tháng tuổi – hành vi này có thể hiểu: do
7
dưỡng nói riêng và của ngành y tế nói chung trong việc cải thiện và nâng cao sức
khỏe của người dân.
Bên cạnh sự tác động do sự phát triển sinh lý, tâm lý của trẻ tới các hành vi ăn
uống của trẻ giai đoạn 13 – 18 tuổi thì các yếu tố như: thói quen ăn uống của gia
đình, bạn bè, kinh tế xã hội cũng góp phần không nhỏ ảnh hưởng tới hành vi ăn
uống của trẻ.
CHƯƠNG 2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Địa điểm và đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu được tiến hành tại trường THPT Hoàng Cầu, Q. Đống Đa, TP. Hà
Nội.
Đối tượng: các em học sinh đang học tập tại trường THPT Hoàng Cầu tự nguyện
tham gia nghiên cứu khi được cán bộ nghiên cứu giải thích đầy đủ về thông tin
nghiên cứu.
2.2. Phương pháp nghiên cứu
2.2.1. Thiết kế nghiên cứu
Sử dụng thiết kế nghiên cứu mô tả cắt ngăng, kết hợp nghiên cứu định
lượng và định tính.
2.2.2. Cỡ mẫu và cách chọn mẫu
Với nghiên cứu định lượng: Chọn toàn bộ học sinh từ lớp 10 đến lớp 12 tại
truờng.
Với nghiên cứu định tính: Phỏng vấn sâu ở 3 nhóm học sinh: học sinh được
xác định tình trạng dinh dưỡng bình thường, suy dinh dưỡng, béo phì. Mỗi nhóm
chọn 10 học sinh (5 nam, 5 nữ).
2.2.3. Biến số, chỉ số nghiên cứu
9
Biến số về đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu: họ tên, lớp, ngày
tháng năm sinh, giới tính.
Biến số cho mục tiêu 1: cân nặng, chiều cao, giới tính.
Biến số cho mục tiêu 2: các quan điểm, suy nghĩ về chế độ ăn uống, vận
động hàng ngày.
Lập các bảng biểu để trình bày kết quả.
- T-test để kiểm định sự khác biệt của 2 giá trị trung bình với số liệu phân bố
chuẩn và trong trường hợp số liệu phân bố không chuẩn thì được chuẩn hóa,
test khi bình phương để so sánh tìm sự khác biệt của các tỷ lệ % với tần số
mong đợi ở các ô đều lớn hơn 5.
Với nghiên cứu định lượng: số liệu được gỡ băng, sử dụng bảng ma trận để tổng
hợp và phân tích.
2.4. Thời gian nghiên cứu: Tiến hành từ tháng 04/2014 đến tháng 12/2014.
2.5. Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu
- Tất cả những người tham gia nghiên cứu là hoàn toàn tự nguyện và được
đọc và ký vào bản thoả thuận nghiên cứu được xây dựng theo hướng dẫn về
đạo đức trong nghiên cứu.
- Đối tượng điều tra có quyền từ chối trả lời phỏng vấn, chỉ điều tra những
người đồng ý tham gia nghiên cứu.
- Nghiên cứu này được thông báo cho chính quyền địa phương về quy mô và
thời gian tiến hành.
CHƯƠNG 3. QUÁ TRÌNH NGHIÊN CỨU VÀ KẾT QỦA
A. Qúa trình nghiên cứu
11
Nghiên cứu được tiến hành trong thời gian từ tháng 04/2014 đến 03/2015 với các
giai đoạn sau:
* Viết đề cương nghiên cứu, giai đoạn này có các hoạt động như sau:
- Hình thành ý tưởng, mục tiêu nghiên cứu
- Tìm hiểu tài liệu có liên quan tới vấn đề nghiên cứu
- Viết đề cương
- Thiết kế, xây dựng công cụ nghiên cứu: phiếu câu hỏi định lượng, phiếu phỏng
vấn/thảo luận định tính
* Bảo vệ đề cương nghiên cứu trước hội đồng nhà trường
* Triển khai thực hiện
- Thực hiện thu thập số liệu nhân trắc, định tính, định lượng.
Nhóm
tuổi
Khối 10 54,0 161,5
Khối 11 54,5 162,4
Khối 12 53,2 168,5
3.2. Tình trạng dinh dưỡng theo chỉ số BMI
Bảng 3.3. Phân loại tình trạng dinh dưỡng của học sinh
Chỉ số n Tỉ lệ (%)
Suy dinh dưỡng 325 30,3
Bình thường 612 57,0
Thừa cân – Béo phì 136 12,7
Bảng 3.4. Phân bố tình trạng dinh dưỡng của trẻ theo giới tính và nhóm lớp
Chỉ số SDD Bình thường Thừa cân – Béo
phì
n % n % n %
Khối 10
N=332
124 37,3 159 47,9 49 14,8
13
Khối 11
N= 310
90 29,0 186 60,0 34 11,0
Khối 12
N= 431
111 25,6 267 61,9 53 12,3
Nam
N=590
187 31,7 306 51,9 97 16,4
Nữ
N = 483