B GIO DC V O TO B Y T
TRNG I HC Y H NI
NGUYN TH MAI
TìNH TRạNG DINH DƯỡNG V MộT Số YếU Tố
LIÊN QUAN TớI TìNH TRạNG DINH DƯỡNG CủA SINH VIÊN
TRƯờNG ĐạI HọC Kỹ THUậT Y Tế HảI DƯƠNG NĂM 2011Chuyờn ngnh : DINH DNG CNG NG
Mó s : 60.7288
LUN VN THC S Y HC
Ngi hng dn: TS. PHM VN PH H Ni 2011
- Ban Giám hiệu, Phòng Đào tạo Sau đại học Trường Đại học Y Hà Nội đã
tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình học tập và hoàn thành luận văn.
- Ban Giám hiệu, Phòng Đạo tạo, Phòng Nghiên cứu khoa học Trường
Đại học Kỹ thuật Y tế Hải Dương đã hỗ trợ kinh phí và tạo mọi điều kiện thu
ận lợi
về thời gian giúp tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu.
- Các thầy, cô và cán bộ Viện Đào tạo Y học Dự phòng và Y tế Công cộng,
cùng các thầy cô Bộ môn Dinh dưỡng - An toàn thực phẩm Trường Đại học Y Hà
Nội đã truyền thụ những kiến thức vô cùng quý báu trong thời gian tôi học cao học
giúp tôi phục vụ tốt hơn trong lĩnh vực giảng dạy, nghiên cứu khoa học sau này.
Tôi xin bày tỏ s
ự biết ơn tới: Ts. Phạm Văn Phú, Phó trưởng Bộ môn Dinh
dưỡng - An toàn thực phẩm, Trường Đại học Y Hà Nội, đã hướng dẫn tôi thực
hiện nghiên cứu và hoàn thành luận văn tốt nghiệp.
Tôi cũng xin chân thành cảm ơn các em sinh viên Trường Đại học Kỹ thuật Y
tế Hải Dương đã nhiệt tình tham gia nghiên cứu và cung cấp số liệu đầy đủ và
trung thực.
Tôi xin cảm ơ
n những người thân yêu trong gia đình, đặc biệt là chồng và con tôi
đã luôn cổ vũ, khích lệ, tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình học tập.
Cảm ơn các bạn bè, đồng nghiệp đã giúp đỡ, động viên tôi trong quá trình
học tập và nghiên cứu.
Nguyễn Thị Mai
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi.
Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng
công bố trong bất kì lĩnh vực nào khác.
MỤC LỤC
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
Chương 1:
TỔNG QUAN 12
1.1. Vai trò của ăn uống với sức khoẻ và bệnh tật 12
1.2. Các phương pháp đánh giá TTDD 13
1.3. Khẩu phần ăn, tập quán ăn uống 16
1.4. Ảnh hưởng của thiếu năng lượng trường diễn đối với sức khoẻ và bệnh tật.18
1.5. Ảnh hưởng của thừa cân, béo phì đối với sức khoẻ. 21
1.6. Một số yếu tố ảnh hưởng đến TTDD 24
1.6.1. Tình trạng kinh tế-xã hội 24
1.6.2. Thời gian lao động 24
1.6.3. Khẩu phần ăn, tập quán ăn uống: 24
Chương 2:
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 26
2.1. Đối tượng nghiên cứu 26
2.2. Địa điểm và thời gian nghiên cứu 26
2.3. Phương pháp nghiên cứu 26
2.3.1. Thiết kế nghiên cứu 26
2.3.2. Các biến số và chỉ số cho nghiên cứu 26
2.4. Cỡ mẫu và cách chọn mẫu cho mỗi khối 27
2.5. Kỹ thuật, công cụ thu thập thông tin và đánh giá: 28
2.6. Xử lý số liệu 31
nhân nam
19
Bảng 1.2. Chỉ số BMI và số ngày nghỉ ốm của phụ nữ 19
Bảng 1.3. Mối liên quan giữa huyết áp và chỉ số BMI của sinh viên nam 23
Bảng 2.1. Các loại sai số thường gặp trong điều tra cắt ngang và cách khắc phục 22
Bảng 3.1. Phân bố đối tượng theo tuổi, giới 33
Bảng 3.2. Phân bố đối tượng theo địa dư, nơi ăn 33
Bảng 3.3. Mức chi tiêu hàng tháng theo giới 36
Bảng 3.4. Thời gian dành cho các hoạt động theo giới 36
Bảng 3.5. Tình trạng dinh dưỡng của sinh viên theo giới 37
Bảng 3.6. Tình trạng dinh dưỡng của sinh viên theo nhóm tuổi 38
Bảng 3.7. Tình trạng dinh dưỡng của sinh viên theo nhóm tuổi 40
Bảng 3.8. TTDD của sinh viên theo nơi ở hiện tại của gia đình. 41
Bảng 3.9. Mức chi tiêu hàng tháng của sinh viên theo nơi ở hiện tại của gia đình 42
Bảng 3.10. TTDD của sinh viên theo kinh tế gia đình 42
Bảng 3.11. Tổng mức chi hàng tháng, chi cho ăn uống theo kinh tế gia đình 43
Bảng 3.12. TTDD của sinh viên theo nơi ăn 44
Bảng 3.13. Tổng mức chi hàng tháng, chi cho ăn uống theo nơi ăn 45
Bảng 3.14. Mức tiêu thụ lương thực - thực phẩm theo giới 47
Bảng 3.15. Giá trị dinh dưỡng của khẩu phần theo giới 48
Bảng 3.16. Tính cân đối của khẩu phần theo giới 51
Bảng 3.17. Mức tiêu thụ lương thực - thực phẩm của sinh viên theo nơi ăn 52
Bảng 3.18. Giá trị dinh dưỡng của khẩu phần theo nơi ăn 54
Bảng 3.19. Tính cân đối của khẩu phần theo nơi ăn 57 DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 3.1. Nghề nghiệp của bố mẹ đối tượng được nghiên cứu 34
Biểu đồ 3.2. Trình độ văn hoá của bố, mẹ 35
giường bệnh cao hơn, tăng nguy cơ bệnh tật và tử vong, [24], [81]. Cũng nh
ư
vậy, béo phì là một trong những nguy cơ chính của các bệnh mạn tính không lây
như bệnh mạch vành, tăng huyết áp, đái tháo đường, bệnh sỏi mật, ung thư, [24],
[26], [55], [81]. Có nhiều nguyên nhân dẫn đến thiếu, thừa năng lượng; nhưng có
thể nói nguyên nhân chính là do khẩu phần ăn hàng ngày không đảm bảo đầy đủ
theo nhu cầu cơ thể.
Ở người trưởng thành, sinh viên là nguồn lao động trí óc tương lai của các
quốc gia. Trên thế
giới và ở Việt Nam nhiều tác giả đã nghiên cứu về TTDD của đối
tượng này. Nurul và Ruzita Ahmad (2010) đánh giá TTDD của 624 sinh viên có độ
11
tuổi từ 18-26, kết quả chỉ ra rằng: có một tỷ lệ cao thiếu năng lượng trường diễn
(27%), thừa cân, béo phì là 12%; thiếu cân ở nữ (33%) cao hơn nam (20%). Trong
đó, tỷ lệ thiếu năng lượng trường diễn của sinh viên đến từ Trung Quốc là 30%, cao
hơn nhóm sinh viên đền từ Ấn Độ (28%) và Malaysia (25%) [74].
Trần Đình Toán và cs (1994) nghiên cứu trên 674 sinh viên từ năm thứ nhất
đến năm thứ tư Trường Đạ
i học Văn hóa cho kết quả: chiều cao trung bình của sinh
viên nam là 164-165cm, nữ 154-155cm. Cân nặng trung bình nam là 49,5-52,4kg, nữ là
42,9-44,5kg. Chỉ số khối cơ thể trung bình ở nam là 18,2-19,4, nữ là 18,1-18,5 [44].
Hà Huy Khôi và cs (1997) nghiên cứu về TTDD của 1070 sinh viên Đại học Y
Hà Nội, Thái Bình và Bắc Thái cho thấy tỷ lệ thiếu năng lượng trường diễn ở nam
là 39,2%, ở nữ là 47,9% [12]. Gần đây, Hoàng Thu Soan và cs (2007) nghiên cứu
một số đặc điểm về hình thái thể lực và dinh dưỡng củ
a 630 sinh viên trường đại
học Y khoa Thái Nguyên cho thấy tỷ lệ thiếu năng lượng trường diễn là 16,0% [40].
Tuy vậy, chưa có nghiên cứu nào tìm hiểu một cách toàn diện TTDD kết hợp với
khẩu phần ăn và những yếu tố ảnh hưởng đến TTDD của đối tượng này.
kéo và thức ăn [24].
Từ lâu, con người
đã biết đến vai trò của ăn uống đối với sức khoẻ và bệnh tật.
Hypocrat (460-377 trước công nguyên) cho rằng cơ thể khi còn non cần nhiều nhiệt
hơn khi già. Hypocrat cũng là người đã khuyên dùng gan để chữa bệnh quáng gà
[6], [26]. Ăn uống đáp ứng đủ các nhu cầu dinh dưỡng thì thể lực và trí tuệ phát
triển tốt, giúp nhiều gia đình đạt được mơ ước là con cái khoẻ mạnh, thông minh,
học giỏi góp ph
ần tạo ra nguồn nhân lực có chất lượng, giúp bảo tồn tinh hoa của nòi giống
và xã hội phát triển [8].
Nhờ các phát hiện của dinh dưỡng học, người ta lần lượt biết trong thức ăn có
chứa các thành phần dinh dưỡng cần thiết đối với cơ thể, đó là các chất protein,
lipid, glucid, các vitamin, các chất khoáng và nước. Sự thiếu một trong các chất này
đều có thể gây ra nhiều bệnh tật thậm chí chết người thí dụ
như bệnh Scorbut do
thiếu vitamin C đã lấy đi sinh mạng 100 trong số 160 thuỷ thủ theo Vasco de Gama
tìm đường sang phương Đông, bệnh viêm da Pellagra hay gặp ở các vùng ăn toàn
ngô do thiếu vitamin PP, bệnh tê phù do thiếu vitamin B
1
, [6], [26].
Nhờ áp dụng kiến thức dinh dưỡng vào chăm sóc sức khoẻ, nhiều loại bệnh
hiện nay đã lui về quá khứ, tuy vậy ở các nước nghèo vẫn còn nổi trội lên các vấn
đề sức khoẻ do thiếu dinh dưỡng như thiếu protein năng lượng, thiếu vitamin A
(gây ra bệnh khô mắt), thiếu máu dinh dưỡng và thiếu Iod [26].
13
Ở Việt Nam, theo Đỗ Thị Kim Liên và cs (1997) tỷ lệ thiếu năng lượng trường
diễn (CED) ở phụ nữ nông thôn nhóm tuổi từ 20-24 là 29% [31]. Cùng với sự phát
triển về kinh tế, xã hội, đời sống của nhân dân ngày càng được cải thiện, đến năm 2000
tỷ lệ CED ở phụ nữ nông thôn lứa tuổi sinh đẻ tuổi từ 20-49 giảm còn 28,3% [9].
14
- Các kiểm nghiệm chức phận để xác định các rối loạn chức phận do thiếu hụt
dinh dưỡng.
- Điều tra tỷ lệ bệnh tật và tử vong.
- Đánh giá các yếu tố sinh thái liên quan đến TTDD và sức khoẻ [6], [23].
Nhân trắc học dinh dưỡng có mục đích đo các biến đổi về kích thước và cấu
trúc cơ thể theo tuổi và TTDD. Trước đây có một số công thức để
phân loại TTDD
ở người lớn dựa vào cân nặng và chiều cao như công thức Broca, công thức
Lorentz, công thức Bongard. Các công thức này có giá trị riêng của chúng nhưng có
nhược điểm là ở cùng một người nhất định, chúng cho những trị số khác nhau về
cân nặng, do đó khi dùng phải nhất quán [23].
Gần đây, Tổ chức y tế thế giới khuyên dùng “chỉ số khối cơ thể” (Body Mass Index,
BMI) trước đây gọi là chỉ số
Quetelet (*) để nhận định về tình trạng dinh duỡng [77]:
Cân nặng (kg)
BMI =
(Chiều cao)
2
(m)
Chỉ số BMI có liên quan chặt với tỷ lệ khối mỡ trong cơ thể, do đó là một chỉ
số được Tổ chức Y tế thế giới khuyến nghị để đánh giá mức độ gầy, béo [77], [81].
Ghi chú : Quetelet Adolphe (1796- 1876) là nhà toán học, thống kê học và
thiên văn học, người Bỉ.
Năm 1988, James WP, Ferro- Luzzi A và Waterlow JC đã đề nghị một bảng
phân loại để đánh giá các mức độ củ
a thiếu năng lượng trường diễn (chronic energy
deficiency: CED) dựa vào BMI như sau [65]:
CED độ 3 : BMI dưới 16
cứu lâm sàng. Các kỹ thuật nhân trắc (tỷ số vòng thắt lưng/vòng mông và vòng thắt
lưng) cũng có giá trị để đánh giá sự phân bố của mỡ. Tỷ số vòng thắt lưng/vòng
mông (>1,0 ở nam và 0,85 ở nữ) được dùng để xác định các đối tượng béo bụng
[24], [64]. Người ta còn thấy vòng thắt lưng, thườ
ng không liên quan đến chiếu cao
mà có liên quan chặt chẽ với chỉ số BMI và tỷ số vòng thắt lưng/vòng mông, do đó
thường được coi như là chỉ tiêu đơn giản để đánh giá khối lượng mỡ bụng và mỡ
toàn bộ cơ thể. Người ta thấy các nguy cơ tăng lên khi vòng thắt lưng ≥ 90cm đối
với nam, ≥ 80cm đối với nữ [24], [64] và tăng lên rõ khi các trị số này tương ứng là
≥ 102 cm và ≥ 88cm [85]. Wahrenberg và cs (2005) ti
ến hành đo chiều cao, cân
16
nặng, chu vi vòng thắt lưng và chu vi vòng mông trên 2746 đối tượng tuổi từ 18 đến
72 ở Thụy Điển kết luận rằng: chu vi vòng thắt lưng < 100cm ngăn chặn tình trạng
kháng insulin ở cả hai giới. Chu vi vòng thắt lưng thay thế chỉ số khối cơ thể (BMI),
tỷ số vòng thắt lưng/vòng mông và các phép đo lường khác về tổng lượng mỡ cơ
thể, như là một phương pháp dự đ
oán trước sự kháng insulin. Các khuyến nghị hiện
nay gợi ý chu vi vòng thắt lưng ≥ 102 cm ở nam, ≥ 88 cm ở nữ là một yếu tố nguy
cơ quan trọng của các bệnh chuyển hoá [79]. Đối với cư dân châu Á, Tổ chức Y tế Thế
giới khuyến nghị ngưỡng vòng thắt lưng 90 cm (nam) và 80 cm (nữ) [64], còn tỷ số
vòng thắt lưng/vòng mông ngưỡng thích hợp là ≥ 0,90 ở nam và ≥ 0,85 ở nữ [85].
1.3. Khẩu ph
ần ăn, tập quán ăn uống
Điều tra khẩu phần là bộ phận thiết yếu trong các cuộc điều tra dinh dưỡng.
Thông qua việc thu thập số liệu về tiêu thụ thực phẩm và tập quán ăn uống, nó cho phép
rút ra các kết luận về mối quan hệ giữa ăn uống và tình trạng sức khoẻ [7], [8], [23].
Điều tra khẩu phần có thể tiến hành cho cá nhân hoặc tập thể. Hi
ện nay có một
là 16 :38 :46, khẩu phần ăn này có mối liên quan đến chứng tắc động mạch [63].
Theo quá trình tiến hoá của lịch sử, nạn đói ngày càng bị
đẩy lùi, bữa ăn của
con người ngày càng được cải thiện. Theo dõi tình hình tiêu thụ thực phẩm trong
200 năm qua ở nước Pháp người ta nhận thấy lượng lương thực giảm dần nhưng
lượng thịt và chất béo tăng lên. Năng lượng do chất béo trong khẩu phần tăng dần
trong khoảng năm 1800-1900 là 18%, từ năm 1920-1939 là 28%, năm 1980 là 42%
tổng số năng lượng. Ở nhiều nước phát triển, năng l
ượng bình quân hàng ngày đạt
trên 3000 Kcal/người (châu Âu 3000, Bắc Mỹ 3100, Úc 3200) lượng chất béo sử
dụng hàng ngày trên 100g/người (Bắc Mỹ 146g, Tây Âu 118g, Úc 136g) chiếm
40% tổng số năng lượng ăn vào. Ở các nước này bệnh béo phì, vữa xơ động mạch,
bệnh tăng huyết áp và tim mạch, bệnh đái tháo đường, là những vấn đề xã hội
quan trọng [26].
Khẩu phần ở các nước nghèo có đặc điểm chung là thiếu năng lượng,
đơn
điệu, chủ yếu dựa vào các loại lương thực. Khi kinh tế phát triển, thu nhập tăng, xu
hướng chung là tăng nhanh thức ăn động vật, đặc biệt là thịt, chất béo, các nguồn
glucid tinh chế (đường, ngọt) và giảm sử dụng lương thực, khoai củ và các thực
phẩm có nhiều chất xơ [24], [25].
Ở Việt Nam, năm 1996, Lê Danh Tuyên nghiên cứu khẩu phần bình quân đầu
người tại một xã thu
ộc tỉnh Hà Tây cho thấy năng lượng là 2201 ± 445 Kcal/ngày,
18
lượng protein trong khẩu phần 62g, lipid 29,1g và glucid 408,9g. Năng lượng do
protein cung cấp 12,4%, năng lượng do lipid cung cấp chỉ đạt từ 12 đến 13%, còn
lại do glucid [48]. Đến năm 2000, tổng điều tra dinh dưỡng toàn quốc tiến hành trên
7600 hộ gia đình cho thấy mức tiêu thụ trung bình lương thực, khoai củ giảm từ
458g/ngày năm 1990 xuống 413g/ngày năm 2000. Mức tiêu thụ thức ăn động vật
1.60-1.70 2850 3250 3750
(BMI=16.5) (20.0) (23.0)
> 1.70 - 3325 -
(19.0)
Nghiên cứu tại vùng Rwanda, châu Phi, Francosis (1990) cho thấy số ngày
nghỉ ốm trong năm của phụ nữ có BMI thấp dưới 18,6 tăng lên rõ rệt. Nếu tính toán
kỹ lượng thời gian nằm nghỉ hàng ngày và quy ra số ngày (16 giờ tương đương 1
ngày) thì thấy rằng số ngày nghỉ của những người có BMI thấp là rất lớn [77], [81].
Bảng 1.2. Chỉ số BMI và số ngày nghỉ ốm của phụ nữ
BMI Số ngày nghỉ/năm
Số ngày n
ằm nghỉ
(đã quy đổi)/năm
≤17 77 40
17,1-17,5 58 40
17,6-18,6 29 12
18,7-23,8 14 7
23,9-26,1 14 7
Tại Bangladesh, Pryer (1990) cũng đã ủng hộ quan sát này khi nhận thấy có sự
liên quan giữa số ngày nghỉ việc vì lý do sức khoẻ với tỷ lệ nam giới có BMI thấp.
Còn ở Braxin, de Vasconcellos (1992) cho thấy nhóm ngày nghỉ ốm trên một năm
từ 8-14 ngày ở những người CED độ II là 2,9% cao hơn những người có BMI từ
20,0-24,9 (0,6%) [77], [81].
20
Chỉ số BMI của bà mẹ ảnh hưởng đến cân nặng sơ sinh của trẻ. Vì những bà
mẹ có BMI < 20 có nguy cơ đẻ non cao hơn gấp 1,3 lần so với những bà mẹ bình
thường [84]. Naidu và cs (1991) cho biết tại Ấn Độ, BMI của bà mẹ cao thì cân
nặng sơ sinh của trẻ cũng cao hơn, trong số 81 bà mẹ có CED độ III cân nặng của
16 – 16,99 18,9
< 16 32,5
21
Ở Việt Nam, Đỗ Thị Kim Liên và cs (1997) nghiên cứu ở phụ nữ nông thôn
lứa tuổi sinh đẻ (tuổi từ 15-49) cho thấy có mối liên quan giữa CED của bà mẹ với
tình trạng suy dinh dưỡng của con. Tỷ lệ suy dinh dưỡng của con các bà mẹ CED
(60,0%) cao hơn hẳn tỷ lệ suy dinh dưỡng của con các bà mẹ có tình trạng thể lực
bình thường (49,5%), sự khác biệt có ý nghĩa với p<0,05. Điều này cũng phù hợp vì
người mẹ
gầy yếu thường sinh ra những đứa trẻ yếu, nhẹ cân, có thể đó là tình trạng
suy dinh dưỡng từ trong bụng mẹ [31].
1.5. Ảnh hưởng của thừa cân, béo phì đối với sức khoẻ.
Béo phì là tình trạng tích luỹ thái quá và không bình thường của lipid trong
các tổ chức mỡ tới mức có ảnh hưởng xấu đến sức khoẻ. Thừa cân là tình trạng cân
nặng vượt quá cân nặng “nên có” so với chiều cao còn béo phì là lượng mỡ tă
ng
không bình thường một cách cục bộ hay toàn thể [24], [25].
Tình hình thừa cân và béo phì đang tăng lên ở mức báo động khắp nơi trên thế
giới, ở người lớn và cả trẻ em, đó thật sự là một mối đe doạ tiềm ẩn trong tương lai.
Ở các nước đang phát triển béo phì tồn tại song song với thiếu dinh dưỡng
(BMI<18,5), gặp nhiều ở đô thị hơn ở nông thôn. Tỷ lệ ng
ười trưởng thành béo phì
ở Hoa Kỳ là 20% ở nam, 25% ở nữ, ở Canada là 15% chung cho cả hai giới, ở Hà
Lan là 8%, ở Vương Quốc Anh là 16% [24], [25].
Thừa cân, béo phì ở lứa tuổi thanh thiếu niên đang nổi lên như một vấn đề
chính ở các nước phát triển và đang phát triển. P. Chhabra và cs (2006) cho thấy tỷ
lệ thừa cân và béo phì ở sinh viên Delhi Ấn Độ tương ứng là 11,7% và 2,0% [60]. K
Kiss và cs (2009) nghiên cứu về TTDD của nữ sinh viên Đại học Y ở Hungary cho
thấy tỷ
mmHg huyết áp tâm trương. Nếu cứ giảm được 10% cân nặng cơ thể thì sẽ giảm
được 20% nguy cơ mắc các bệnh mạch vành tim. Phụ nữ ở độ tuổi 20 có chỉ số
BMI từ 29-31 thì nguy cơ m
ắc bệnh đái tháo đường không phụ thuộc insulin cao
hơn so với BMI<22. Nguy cơ mắc bệnh này cũng cao hơn ở người trưởng thành
tăng 5kg trong vòng 8 năm [81].
P. Chhabra và cs (2006) cho thấy có mối liên quan giữa huyết áp với cân nặng
và BMI. Những sinh viên có BMI>25 thì có huyết áp tâm thu >130mmHg và huyết
áp tâm trương>85mmHg nhiều hơn so với sinh viên có BMI<25 [60]:
23
Bảng 1.3. Mối liên quan giữa huyết áp và chỉ số BMI của sinh viên nam.
BMI
(kg/m
2
)
HA tâm
thu
<130
mmHg
HA tâm
thu
>130
mmHg
HA tâm trương
<85
mmHg
HA tâm trương
>85
mmHg
1.6.1. Tình trạng kinh tế-xã hội
Có sự liên quan khá rõ rệt giữa BMI với mức thu nhập của đối tượng được
nghiên cứu. Garcia và Alderman (1989) nghiên cứu về 800 gia đình nông thôn
thuộc 4 tỉnh ở Pakistan cho thấy những gia đình có thu nhập thấp nhất cả nam và nữ
đều có BMI thấp hơn những gia đình có thu nhập cao nhất. Còn tại Brazil, những
người có thu nhập trên 2500 USD/năm thì có tỷ
lệ % BMI trên 27 cao hơn những
người có thu nhập dưới 160 USD/năm. Ngược lại, những người có thu nhập thấp
dưới 160 USD/năm có tỷ lệ % BMI dưới 18,5 cao hơn những người có thu nhập cao
trên 2500 USD/năm (Francois, 1989) [84].
Trong một nghiên cứu khác về 335 sinh viên có độ tuổi từ 17-21 ở Delhi, Ấn Độ
cho thấy tỷ lệ thiếu cân ở sinh viên thành phố thấp hơn nhiều so với nông thôn [60].
Mối liên quan giữa tuổi với TTDD cũ
ng được chứng minh, tỷ lệ sinh viên nữ
CED ở nhóm tuổi từ 18-21 (38%) cao hơn nhóm tuổi từ 22-25 (24%) [55].
1.6.2. Thời gian lao động
Có mối liên quan giữa thời gian làm việc trong ngày và tình trạng CED. Theo
Đỗ Thị Kim Liên và cs (1993), thời gian làm việc của nữ công nhân chiếm 56% quỹ
thời gian trong 24 giờ, tỷ lệ CED là 27%, còn thời gian nghỉ ngơi chỉ 6%. Trong
một nghiên cứu khác của Đỗ Thị Kim Liên và cs (1997), thời gian lao động của phụ
nữ nông thôn chiếm 50% quỹ thời gian trong 24 gi
ờ, thời gian nghỉ ngơi giải trí chỉ
có 8%, thì tỷ lệ CED là 37,2% [29], [31].
1.6.3. Khẩu phần ăn, tập quán ăn uống:
Cơ thể giữ được cân nặng ổn định là nhờ trạng thái cân bằng giữa năng lượng
do thức ăn cung cấp và năng lượng tiêu hao cho lao động và các hoạt động khác của
cơ thể. Cân nặng cơ thể tăng lên có thể do chế độ ăn vượt quá nhu cầu, ho
ặc do nếp
sống làm việc tĩnh tại ít tiêu hao năng lượng.
Vào cơ thể các chất protein, lipid, glucid đều có thể chuyển thành chất béo dự
m cân nặng và chu vi vòng thắt lưng so với tần
suất 0,1+/-0,0 lần/ngày. Khẩu phần ăn dùng sữa ít chất béo có liên quan với chất
lượng bữa ăn tốt hơn và quản lý cân nặng ở sinh viên. Sự can thiệp dinh dưỡng ở
người trẻ là nên thúc đẩy sử dụng sữa ít béo như là một phần của lối sống lành
mạnh [75].
Thói quen ăn uống không hợp lý cũng là nguy cơ của tình trạng thừa cân béo
phì nh
ư: sử dụng thịt mỡ, dầu mỡ, thức ăn xào rán hàng ngày, ăn phụ vào buổi tối, ít
hoạt động thể thao [46], [51].