ĐẶT VẤN ĐỀ
Từ thời xa xưa, răng mọc chen chúc không đều đã là mối bận tâm của
nhiều người, nhiều gia đình, những khiếm khuyết về hàm răng đó gõy tác
động xấu đến tâm lý cũng như sự mất tự tin trong giao tiếp xã hội.
Tại Mỹ: Theo thống kê chỉ 1/3 dân số có khớp cắn bình thường, còn 2/3
dân số bị sai khớp cắn ở một mức độ nào đó.[2].
Tại Việt Nam: Hiện đang phải đối mặt với những vấn đề sâu răng, mất
răng, viêm lợi, những diễn biến về lệch lạc khớp cắn ở tuổi học đường do
những bất thường tới sự phát triển của răng, thãi quen xấu về răng miệng,
răng sữa tồn tại lâu trên cung hàm hay răng sữa mất sớm, đang là những yếu
tè làm gia tăng các bệnh răng miệng và cũng đang là những nguy cơ tiềm Èn
gây rối loạn chức năng như khó cử động hàm, ăn nhai khó và làm xấu khuân
mặt.
Theo điều tra của nhiều tác giả cho thấy tỷ lệ người bị lệch lạc khớp cắn
trong cộng đồng là rất lớn chiếm từ 80% đến trên 90%.[1].[3]. [8]. Trẻ bị sai
lệch khớp cắn nếu không được can thiệp kịp thời sẽ gây ảnh hưởng xấu tới
chức năng, thẩm mỹ và sức khỏe răng miệng.
Những năm gần đây ở Việt Nam với sự quan tâm của các bác sỹ Răng-
Hàm- Mặt cũng như sự mong muốn của các bậc phụ huynh về điều trị dự
phòng lệch lạc răng cho trẻ ngày càng cao và chính sự quan tâm này đã
mang lại cho trẻ một hàm răng bền vững, khỏe đẹp. Ngày nay trẻ được tiếp
cận với những phương tiện, kỹ thuật chỉnh nha hiện đại hơn và loại hàm
gắn chặt chiếm rất nhiều ưu thế so với hàm tháo lắp, song đờ̉ có được
phương pháp điều trị dự phòng phù hợp với trẻ bị lệch lạc răng thì một
việc làm không thể thiếu đó là điờ̀u tra tình trạng khớp cắn của trẻ và từ đó
1
áp dụng những phương pháp can thiệp đơn giản, hữu hiệu, đỡ tốn kém.
Chính vì vậy chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài:
Nhận xét thực trạng khớp cắn và một số yếu tố liên quan tới lệch lạc
khớp cắn của trẻ 9 - 12 tuổi tại thành phố Hòa Bình.
Nhằm 2 mục tiêu sau:
Có sự phối hợp của nhiều yếu tố làm tăng chiều cao mặt Sự phát triển của
nền sọ cũng ảnh hưởng đến sự tăng trưởng của chiều cao mặt. Sự tăng
trưởng của vách mũi, các đường khớp xương, phần lớn là do sự tăng
trưởng của xương ổ răng về phía mặt nhai.
- Chiều trước sau
Sự đắp xương bề mặt nhất là sự đắp xương ở mặt sau của nền hàm để cung
cấp chỗ cho răng cối vĩnh viễn
1.1.3. Sự tăng trưởng của xương hàm dưới.
Mọc răng và tiêu xương ổ răng. Có thể nói xương hàm dưới bị dịch
chuyển xuống dưới và ra trước đồng thời tăng kích thước là do phát triển
ra sau và lên trên, quá trình bồi xương và tiêu xương tại xương hàm dưới.
Mặt khác hướng phát triển của nó còn bị ảnh hưởng bởi sự phát triển của ổ
chảo xương thái dương. Trong quá trình phát triển nếu vùng này di chuyển
ra trước thỡ nó sẽ đẩy xương hàm dưới ra trước. Ngược lại, nếu vùng này
di chuyển ra sau hoặc thẳng xuống dưới thỡ nó lại đẩy xương hàm dưới lùi
ra sau.
1.2. SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA BỘ RĂNG. [15],[18]. [31].
Quá trình hình thành và phát triển bộ răng sữa là giai đoạn đầu tiên
đóng vai trò quan trọng trong sự hình thành và phát triển của toàn bộ hệ thống
nhai sau này, khoảng 3 tuổi khớp cắn bộ răng sữa được thiết lập hoàn chỉnh.
Khớp cắn này được duy trì và phát triển liên tục cho đến khoảng 5 tuổi. Ở
thời điểm này các răng vĩnh viễn bắt đầu mọc, khoảng từ 3 đến 5 tuổi là giai
đoạn tương đối ổn định nhất của bộ răng sữa và đây cũng là giai đoạn có ý
nghĩa quan trọng đối với sự mọc và phát triển của các răng vĩnh viễn thay thế.
1.2.2 Giai đoạn từ 2,5 đến 6 tuổi
Đây là giai đoạn ổn định cửa hàm răng sữa
Lúc 3 tuổi, tất cả các răng sữa đã được hàn tất (kín cuống).
4
Thân RHL thứ nhất đã phát triển đầy đủ và chân răng đang được thành lập.
Giữa 3- 6 tuổi các răng vĩnh viễn tiếp tục phát triển nhất là các răng cửa.
Khoảng 9-10 tuổi, tất cả các răng vĩnh viễn trừ RHL thứ ba đã được
hình thành xong phần thân răng và lắng đọng canxi.Trong thời gian này,
cuống răng nanh sữa RHS bắt đầu tiêu, thông thường quá trình tiêu chân răng
này xảy ra ở bé gái sớm hơn bé trai từ 1-1,5 năm. Tổng kích thước theo chiều
gần xa của răng nanh sữa, RHS thứ nhất, thứ hai lớn hơn tống kích thước gần
xa của răng nanh vĩnh viễn, RHS thứ nhất, thứ hai khoáng 1.7mm ở HD,
0.9mm ở HT mỗi bên. Khoảng chênh lẹch này được Nance gọi là “ leeway”.
Khoảng sẵn có không phải là yếu tố duy nhất ảnh hưởng đến quá trình
mọc của các răng vĩnh viễn và sự tiêu của các răng nanh sữa. Bệnh thiểu năng
tuyến giáp cũng làm các chân răng sữa tiêu bất thường, chậm mọc răng, răng
sữa tồn tại lõu trờn cung hàm, hình dạng răng bất thường, các rối lợn ở lợi.
Bất thường áp lực cơ do yếu tố di truyền, do thúi quyờn mút môi , mút ngón
tay, đẩy lưỡi cũng làm ảnh hưởng đến sự phát triển của bộ răng.
1.2.4. Giai đoạn 10-12 tuổi:
Đây là giai đoạn răng hỗn hợp muộn .
Giai đoạn này hàm răng hỗn hợp chuyển sang răng vĩnh viễn.
Răng nanh sữa và răng hàm sữa thứ nhất HD thường rụng cựng lỳc,
ngay sau đó là RHS thứ nhất HT. Thông thường ở HD, răng nanh vĩnh viễn
mọc trước RHN thứ nhất và thứ hai. Ở HT răng hàm nhỏ thứ nhất mọc trước,
sau đó đến RHN thứ hai và răng nanh. Một quy tắc quan trong là duy trì sự
thay răng tương xứng ở hai bên cung hàm. Ví dụ, nếu RHS thứ nhất HT bên
trái rụng đi bình thường mà RHS bên phải vẫn tồn tại, chụp phim có thể thấy
6
chân gần hoặc chân xa của nó không tiêu hoặc tiêu rất ít, khi đú nờn nhổ răng
này đi.
Sau khi RHS thứ hai rụng, sảy ra sự điều chỉnh khớp cắn của RHL thứ
nhất. Múi ngoài gần của RHL thứ nhất HT cắn khớp với rãnh ngoài của RHL
thứ nhất HD. Khuynh hướng khớp cắn loại II ở hàm răng sữa và răng hỗn hợp
sẽ không còn tồn tại nữa. Ở giai đoạn này những biện pháp chỉnh nha dự
phòng hoặc can thiệp chỉnh nha rất có hiệu quả, có thể ngăn ngừa được sự
Hàm dưới
(tuổi)
6-7 7-8 9-11 10-11
11-
12
6-7 11-13 17-21
Thứ tự mọc răng (Mc Donal RE & AveryPor)
Số thứ tự
răng mọc
1 2 3 4 5 6 7 8
Hàm trên a 6 1 2 4 5 3 7 8
b 6 1 2 4 3 5 7 8
Hàm
dưới
a 1 6 2 4 3 5 7 8
b 1 6 2 3 4 5 7 8
a: Thường xảy ra
b: Đôi khi
1.2.6. Sự thay đổi của cung hàm trong quá trình răng vĩnh viễn thay răng
sữa theo chiều gần xa. [7].[9].[26].[27].[28].
* Sự thay đổi khi răng cửa sữa thay bằng răng cửa vĩnh viễn:
Do thay đổi kích thước giữa răng sữa và răng vĩnh viễn dẫn đến những
thay đổi về tình trạng răng, khớp cắn nhiều nhất. Sự biến đổi chiều hướng
mọc răng, sự loại bỏ khe hở giữa các răng, sự mòn răng theo thời gian và ảnh
hưởng của cơ trong giai đoạn từ 6 - 12 tuổi có nhiều thay đổi nhất. Sau 12 tuổi
thường rắt ít biến đổi, gần như là ổn định.
8
Sự khác biệt về kích thước răng sữa và răng vĩnh viễn (Meyers - 1976)
Răng cửa
(mm)
1.3. KHỚP CẮN BÌNH THƯỜNG.
1.3.1. Tương quan giữa các răng trong một hàm[15].
1.3.1.1. Chiều trước sau: Tất cả các răng đều tiếp xúc nhau ở cả mặt gần
và xa, trừ răng khôn chỉ có một điểm tiếp xúc.
1.3.1.2. Độ nghiêng ngoài trong của răng
+ Hàm trên: Các răng sau hơi nghiêng về phía ngoài
+ Hàm dưới: Các răng sau hơi nghiêng về phía trong
Đường cong Wilson: là đường cong lõm lên trên đi qua đỉnh múi ngoài
và trong các răng sau hàm dưới.
1.3.1.3. Độ nghiêng gần xa của răng
Đường cong SPEE: là đường cong lõm lên trên, đi qua đỉnh múi răng
nanh và đỉnh múi ngoài các răng hàm nhỏ, hàm lớn hàm dưới.
1.3.2. Tương quan giữa các răng hàm trên và hàm dưới.
1.3.2.1. Độ cắn chìa: là khoảng cách giữa bờ cắn răng của hàm trên và hàm
dưới theo chiều trước sau. Trung bình ở người Việt Nam là 2,79 ± 1,29 mm.
1.3.2.2. Độ cắn phủ: là khoảng cách giữa bờ cắn răng cửa hàm trên và
hàm dưới theo chiều đứng khi hai hàm cắn khớp. Trung bình ở người Việt
Nam là 2,89 ± 1,45 mm.
1.3.2.3. Đường cắn khớp: là đường nối cỏc mỳi ngoài của răng sau và
bờ cắn các răng trước hàm dưới hoặc là đường nối trũng giữa các răng sau và
cingulum các răng trước hàm trên. Đường cắn khớp là một đường cong đối
xứng, liên tục và đều đặn, khi hai hàm cắn khớp chúng chồng khớt lờn nhau
1.3.3. Quan niệm khớp cắn bình thường của ANDREWS:
Gồm 6 đặc tính và nó là mục tiêu của điều trị Chỉnh hình răng mặt [14].
10
1.3.3.1. Tương quan ở vùng răng hàm:
• Gờ bên xa múi ngoài răng 6 hàm trên tiếp xúc gờ bên gần múi ngoài
gần răng 7 hàm dưới.
• Múi ngoài gần răng 6 hàm trên tiếp xúc rãnh ngoài gần răng 6 hàm
dưới.
Tiểu loại 2: Các răng cửa giữa hàm trên quặp vào trong cũn cỏc răng
cửa bờn nghiờng ngoài. Độ cắn phủ tăng, cung răng trên thường rộng, loại này
thường do di truyền.
1.4.3.4. Khớp cắn loại III: Múi ngoài gần răng 6 hàm trên khớp về phía xa so
với rãnh ngoài gần răng 6 hàm dưới, các răng cửa dưới có thể ở phía ngoài các
răng cửa trên. Cần phân biệt sai khớp cắn loại III thật và giả.
12
Hình 1.4: Khớp cắn bình thường và các loại sai khớp cắn theo Angle
1.5. MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN LỆCH LẠC KHỚP CẮN VÀ
PHƯƠNG PHÁP CAN THIỆP. [19].[21].[22].[23]
1.5.1. Răng sữa tồn tại lõu trờn cung hàm.
Khi chân răng vĩnh viễn thành lập được ắ chiều dài, nên nhổ răng sữa
tương ứng dù răng sữa có bị tiờu chõn hay không. Nếu răng sữa vẫn tồn tại
khi chân răng vĩnh viễn tương ứng đã thành lập trên ắ chiều dài thì gọi là răng
sữa tồn tại lõu trờn cung hàm. Hầu hết răng cối sữa hàm trên có chân răng
trong hoặc chân răng ngoài không bị tiêu. Ngược lại răng cối sữa hàm dưới có
chân răng gần hoặc chân răng xa không tiêu.
Răng sữa tồn tại lõu trờn cung hàm làm mất chỗ của răng vĩnh viễn vì
vậy có thể gây lệch lạc hoặc cắn chéo răng vĩnh viễn. khi răng sữa tồn tại lõu
trờn cung hàm được nhổ và khoảng trống đủ và răng vĩnh viễn có vị trí và
hướng mọc thích hợp, răng này sẽ mọc đúng vào vị trí. Nếu răng vĩnh viễn
mọc lên bị lệch ngoài hoặc lệch trong nhẹ sẽ tự điều chỉnh nhờ thăng bằng cơ
mụi mỏ lưỡi, ở vùng răng cửa dưới, do mầm răng vĩnh viễn nằm phía trong
nên thường răng cửa vĩnh viễn sẽ mọc phía trong và di chuyển ra phía ngoài
khi răng sữa rụng. ở vùng răng cối nhỏ và răng nanh, răng vĩnh viễn có thể
mọc ra ngoài hoặc vào trong và sẽ có khuynh hướng di chuyển vào vị trí
13
đúng. Nếu các răng không tự điều chỉnh vào đúng vị trí trước khi đạt được độ
thời gian mọc của các răng bình thường khác. Răng dư nhiều múi thường
không mọc được. nên nhổ răng dư ngay khi có thể để không ảnh hưởng đến
những răng bình thường đang mọc. nhổ răng dư càng sớm, những răng bình
thường có thể mọc lên mà không cần điều trị gì. Ngược lại, răng dư để lâu
trên cung hàm sẽ cản trở những răng bình thường mọc lên. Do đó có khi cần
phẫu thuật bộc lộ và kéo răng bình thường vào cung hàm bằng lực chỉnh
hỡnh.
Lâm sàng.
– Có sự hiển diện của răng thừa.
– Các răng bên cạnh mọc lệch lạc, chen chúc hoặc có khe thưa
– Chụp QX có thể thấy răng thừa ngầm.
Hậu quả.
- Răng thừa vùng của gây mất thẩm mỹ.
- Gây lệch lạc, chen chúc răng kế cận.
- Răng thừa mọc ngầm gõy tiờu chân răng, mọc sai vị trí răng bên cạnh.
Chẩn đoán. Dựa vào lâm sàng hoặc chụp XQ.
Can thiệp:
Theo Phan Thị Xuân Lan, Hồ Thị Thùy Trang, nhổ răng dư càng sớm
những răng bình thường có thể mọc lên mà không cần điều trị gì.
Theo Lê Thị Phúc, nếu phát hiện sớm và loại trừ răng thừa sớm thì việc điều
trị chỉnh hình răng mặt có thể sẽ không cần thiết hoặc không phức tạp lắm.
15
1.5.4. Răng vĩnh viễn mọc sai vị trí.[19]
Khi mầm răng vĩnh viễn ở vị trí sai dẫn đến răng vĩnh viễn mọc sai vị
trí gây tình trạng chen chúc răng hoặc các răng vĩnh viễn mọc ở vị trí bất
thường.
Nhóm răng cửa mọc sai vị trí
Khi một răng nanh sữa bị mất, cần ngăn chặn lệch đường giữa bằng
cách nhổ răng nanh sữa bờn phớa đối diện hoặc dùng cung lưỡi hàn với thanh
chặn để giữ vị trí răng cửa bên. nếu đường giữa bị lệch, cần có kế hoạch điều
- Có khe răng, một khoảng mào ổ răng thấp xuống.
- Vắng mặt một số răng, răng khác mọc vào vị trí đó.
- Lệch lạc các răng kế cận hay trồi răng đối diện.
- Khớp cắn thay đổi tùy theo khoảng thiếu răng.
, Cắn ngược do thiếu nhiều răng ở hàm trên.
, Cắn sâu do thiếu răng cửa dưới hoặc răng sau hai bên.
Chẩn đoán. Dựa vào khám lâm sàng và chụp phim XQ.
Can thiệp
thiếu răng cối nhỏ hàm dưới.
Nếu bệnh nhân có khớp cắn tốt hoặc có thể chấp nhận được, kế hoạch điều trị
là nên giữ lại răng cối sữa cho đến lứa tuối 20, nhiều nghiên cứu cho thấy
răng cối sữa vẫn có thể được giữ lại trên cung răng ở bệnh nhân 40 đến 60
tuổi. Biện pháp tối ưu hơn là cắm ghép trong xương. Điều lưu ý là cắm ghép
chỉ nên thực hiện khi quá trình tăng trưởng hoàn tất,
Thiếu răng cửa bên hàm trên.
17
kế hoạch điều trị là không nên giữ lại răng cửa bên sữa lâu dài trên cung
hàm. Khi thiếu răng cửa bên vĩnh viễn, thường có hai trường hợp xảy ra:
Một số trường hợp, răng nanh vĩnh viễn mọc làm tiêu răng cửa bên sữa
và răng nanh vĩnh viễn tự thay thế vị trí răng cửa bên vĩnh viễn bị thiếu, điều
này có nghĩa là răng nanh sữa không có răng thay thế.
Nếu khoảng trống thích hợp nên đặt cắm ghép (implant).
Ngoài ra trường hợp này cần điều trị toàn diện với việc tạo lại hình dạng răng
trước để cải thiện thẩm mỹ, nhưng mức độ và thời gian điều trị sẽ giảm nhiều
do nhổ răng đúng thời gian.
Thiếu răng cửa hàm dưới.
Thường biểu hiện cung răng trờn nhụ nhiều ra trước hoặc chen chúc
trong khi cung răng hàm dưới điều đặn hoặc cung răng trên đều đặn trong khi
cung răng dưới thưa kẽ.
Nếu cung răng trên chen chúc nhiều hoặc nét mặt nhô, thường phải nhổ bớt
+ Đẩy răng cửa trên ra phía ngoài.
+ Đẩy răng cửa dưới vào trong.
+ Khớp cắn hở.
+ Hạn chế sự phát triển theo chiều đứng của các răng trước, các răng
hàm mọc thụ động do có khoảng trống lâu ngày dẫn tới thay đổi hướng phát
triển của XHD lên trên và ra sau quá mức tạo khớp cắn hở do xương.
+ Hàm trên bị hẹp dẫn tới khớp cắn chéo phía sau 1 hoặc 2 bên.
- Tác động gián tiếp:
+ Tăng trương lực cơ môi dưới.
19
+ Nuốt đẩy lưỡi, dẫn tới làm tăng khớp cắn hở do mút ngón tay gây ra.
+ Mức độ lệch lạc răng miệng do mút ngón tay gây ra còn phụ thuộc vào
vị trí đặt ngón tay do lực đòn bẩy của ngón tay chống lại răng và xương ổ
răng, và còn phụ thuộc vào sự phát triển của cơ môi, mức độ thường xuyên
cũng như sự kéo dài của thói quen xấu này.
Hầu như trẻ em có thói quen mút ngón tay kéo dài đều đưa đến sai khớp
cắn. Mút ngón tay trong thời kỳ răng sữa không có ảnh hưởng lâu dài đến
hàm răng, nhưng nếu kéo dài sang thời kỳ răng vĩnh viễn bắt đầu mọc dẫn đến
sai khớp cắn với các biểu hiện (Hình 1.5):
- Răng cửa trên thưa và nghiêng về phớa mụi.
- Răng cửa dưới nghiêng về phía lưỡi.
- Cắn hở vùng răng trước, hẹp cung răng trên (cung răng hình chữ V).
Răng di chuyển ít; nhiều phụ thuộc vào thời gian tác động của thói quen,
nếu trẻ mút ngón tay với áp lực mạnh nhưng không liên tục và thời gian
không đủ lõu thỡ cỏc răng di chuyển ít [30]. Ngược lại, trẻ mút ngón tay nhẹ
nhàng nhưng kéo dài hơn 6giờ/ngày, đặc biệt là những trẻ mút ngón tay suốt
đêm thì sẽ bị sai khớp cắn trầm trọng, mút ngón tay có thể gây sai khớp cắn
nếu thói quen này kéo dài đến thời kỳ răng hỗn hợp và nếu thói quen kéo dài
sau khi răng cửa vĩnh viễn đã mọc lên cần phải điều trị chỉnh hình để giải
quyết vấn đề sai vị trí của răng [21], [26], [28].
XHD. Khi lệch lạc tăng lên, hoạt động của cơ tăng theo tạo vòng xoắn bệnh lý
làm lệch lạc ngày càng tăng, thói quen xấu này thường dẫn đến tăng hoạt
động và tăng trương lực của cơ cằm dẫn đến cản trở sự phát triển của xương ổ
răng vùng răng cửa dưới nơi tiếp xúc trực tiếp với cơ và do đó ảnh hưởng cả
các răng cửa dưới. Mút môi dưới là thói quen thường gặp, biểu hiện lâm sàng
thường gặp là (Hình 1.6):
- Làm tăng độ cắn chùm.
- Rãnh môi cằm hằn rõ, tăng hoạt động cơ cằm, trên lâm sàng thấy nhiều
nếp nhăn ở vùng cằm khi bệnh nhân nuốt.
- Viền môi đỏ có thể phì đại nhỡn rừ ở tư thế nghỉ.
- Dấu các răng cửa trên môi dưới; ở một số bệnh nhân có thể thấy xuất
hiện các tổn thương mạn tính do virus tại những vựng mụi bị sang chấn hoặc
kích thích.
- Tăng trương lực cơ cằm.
- Cắn hở vùng răng trước, răng cửa dưới nghiờng phớa lưỡi, răng cửa
trên chen chúc và nghiờng phớa mụi.
- Thói quen mút môi dưới làm tăng độ cắn chìa [8], [22], [27].
Can thiệp. Loại bỏ thói quen xấu này bằng cách.
- Chỉnh hình làm giảm cắn chìa đến mức có thể chấp nhận được.
- Tấm chặn môi được mang ban đêm và 2 – 3 giờ vào ban ngày khi trẻ ở
nhà (Hình 1.10)
22
Hình 1.10: Tấm chặn môi [12].
1.5.8. Đẩy lưỡi:
Khái niệm đẩy lưỡi không có nghĩa là lưỡi tạo một lực đẩy ra phía trước
mà chỉ ngụ ý rằng lưỡi nằm quá về phía trước và ở giữa các răng cửa hàm
trên và răng cửa hàm dưới, có nhiều tác giả phân loại đẩy lưỡi theo các
cách khác nhau:
+ James và Townsend mô tả các loại đẩy lưỡi khác nhau dựa trên những
trước khi nuốt.
- Cắn hở vùng răng sau và cắn sâu: Do vị trí nghỉ của lưỡi nằm về phía
sau và tràn lên mặt nhai vùng răng sau, làm lỳn cỏc răng sau.
- Cắn đối đầu vùng răng trước và khớp cắn múi – múi vựng răng sau do
vị trí lưỡi nằm cả vùng răng trước và răng sau [18], [20].
- Dùng tấm chặn lưỡi tháo lắp; cố định để ngăn chặn vị trí bất thường
của lưỡi.
- Tấm chặn lưỡi được làm bằng thép không gỉ có ф o.8 mm.
24
- Có thể dựng thờm tấm chặn môi để ngăn chặn sự tiếp xúc giữa lưỡi và
môi trong trường hợp trẻ có kiểu nuốt đẩy lưỡi ra trước [8], [29].
Hình 1.11: Tấm chặn lưỡi [18].
1.5.9. Thở miệng:
Thật ra là thở “Mũi – Miệng” vì hiếm gặp thở miệng đơn thuần, dù là
thuật ngữ nào thì thói quen này cũng vẫn cần phải bàn luận. Thở miệng được
coi là thói quen xấu khi đường thở không còn bị tắc nghẽn nhưng việc thở vẫn
tiếp tục được thực hiện chủ yếu qua miệng, để xác định một người nào đó thở
qua miệng nhiều hơn là qua mũi, cần thiết phải có dụng cụ để đo lượng thông
khí qua miệng và qua mũi cùng một lúc, nếu lớn hơn 1/2 thì có thể khảng
định là người này có hiện tượng thở miệng.
Nguyên nhân:
+ Đường mũi bị cản trở: Vẹo vách ngăn, dị ứng.
+ Thói quen dù đường mũi không bị cản trở.
+ Cấu tạo giải phẫu: Trẻ thở bằng mũi nhưng do môi trên quá ngắn nên
miệng vẫn hở khi trẻ thở mũi.
Lâm sàng:
- Khuôn mặt dài, hẹp
- Răng cửa hàm trên nhô trước.
25