THỰC TRẠNG LOÃNG XƯƠNG và một số yếu tố LIÊN QUAN ở PHỤ nữ mãn KINH TRÊN 5 năm TRONG độ TUỔI 50 70 TUỔI tại xã TAM HƯNG - Pdf 35

Kho tài liệu miễn phí của diễn đàn Ketnooi.com
1

TÓM TẮT NGHIÊN CỨU

Nghiên cứu được tiến hành từ tháng 11 năm 2011 đến tháng 8 năm 2012 với
hai mục tiêu: i) Mô tả thực trạng loãng xương của phụ nữ mãn kinh trên 5 năm
trong độ tuổi 50-70 tại xã Tam Hưng - Huyện Thanh Oai – Hà Nội năm 2012. ii)
Xác định một số yếu tố liên quan đến loãng xương ở phụ nữ mãn kinh trên 5 năm
trong độ tuổi 50-70 tại xã Tam Hưng - Huyện Thanh Oai – Hà Nội.
Nghiên cứu được tiến hành theo phương pháp mô tả cắt ngang có phân tích
trên 379 phụ nữ mãn kinh trên 5 năm trong độ tuổi 50-70, không mắc các bệnh liên
quan đến rối loạn chuyển hóa xương, chọn mẫu theo phương pháp chọn mẫu ngẫu
nhiên hệ thống. Điều tra viên đã tiến hành phỏng vấn đối tượng nghiên cứu bằng bộ
câu hỏi có cấu trúc đã được thiết kế sẵn. Các chỉ số cân nặng, chiều cao được thu
thập bằng cân, đo. Tỷ trọng xương được đo bằng phương pháp siêu âm định lượng
tại gót chân (ký hiệu: SOS, đơn vị: m/s). Chẩn đoán loãng xương khi giá trị T-score
≤ -2,5 (SOS ≤ 1480 m/s), giảm mật độ xương khi -2,5 ≤ T-score ≤ -1. Phân tích kết
quả các mối liên quan đơn biến và đa biến qua kiểm định χ2 và mô hình hồi qui với
mức ý nghĩa p
loóng xương đang thực sự trở thành một gánh nặng cho chương trình chăm sóc sức


Kho tài liệu miễn phí của diễn đàn Ketnooi.com
3

khỏe của mỗi quốc gia. Đây là một thách thức lớn với sức khỏe cộng đồng, đặc biệt ở
các nước Châu Á, nơi mà đa phần là các nước đang phát triển, đông dân và còn nhiều
khó khăn về kinh tế, trong đó có nước ta. Bên cạnh đó, cùng với sự phát triển của nền
kinh tế, tuổi thọ của con người ngày càng tăng lên, dự báo một sự gia tăng tỷ lệ loãng
xương vì tuổi càng cao thì nguy cơ loãng xương càng nhiều [9], [8], [38].
Ngoài ra, cho đến nay điều trị loãng xương và gãy xương do loãng xương
mới chỉ đạt được hiệu quả là làm giảm sự mất chất xương, tăng khối xương, chưa
có biện pháp điều trị nào hồi phục lại được cấu trúc xương. Do đó, phát hiện sớm và
điều trị dự phòng đối với loãng xương là vấn đề chủ yếu và cần thiết.
Phụ nữ sau mãn kinh là đối tượng có nguy cơ cao bị loãng xương vì hàm
lượng estrogen trong máu giảm gây ảnh hưởng đến sự mất chất xương [30]. Tuy
nhiên, theo các nghiên cứu trước đây cho thấy lối sống, sinh hoạt, vận động thể lực,
chế độ dinh dưỡng của phụ nữ sau mãn kinh, đặc biệt phụ nữ nông thôn chưa được
quan tâm, chú trọng [18], [13]. Với câu hỏi nghiên cứu: Tỷ lệ loãng xương của phụ
nữ mãn kinh ở nông thôn hiện nay như thế nào? mối liên quan giữa tình trạng loãng
xương và một số yếu tố nguy cơ ở đối tượng này ra sao? Chúng tôi lựa chọn địa bàn
Huyện Thanh Oai là một huyện đồng bằng thuần nông, nằm ở cửa ngõ phía Tây
Nam thành phố Hà Nội, có diện tích gần 142km 2, với khoảng 161.400 người vào
năm 2009 [42]. Tỷ lệ các hộ gia đình làm nghề nông nghiệp chiếm 60%, trong đó
lao động nữ chiếm đa số. Chưa có thống kê về các trường hợp gãy xương của phụ
nữ mãn kinh trên 5 năm trong độ tuổi 50-70 song trong thực tế qua các đợt khám
sức khỏe của Phòng Y tế, Trung tâm Y tế huyện tổ chức số phụ nữ lớn tuổi bị đau
xương, đau khớp đến khám chiếm tỷ lệ không nhỏ. Xuất phát từ những lý do trên
chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Thực trạng loãng xương và một số yếu tố

1.1. Sơ lược về cấu trúc, chức năng và chu chuyển xương
1.1.1. Cấu trúc và chức năng
Bộ xương chiếm khoảng 15 – 17% trọng lượng cơ thể và được coi là ngân
hàng khoáng chất của cơ thể. Xương là một mô liên kết đặc biệt có nhiều chức năng
quan trọng như góp phần tạo nên dáng dấp cơ thể, nâng đỡ trọng lượng cơ thể, bảo
vệ các bộ phận quan trọng trong cơ thể, và cùng với hệ thống cơ giúp cho chúng ta
di chuyển dễ dàng. Xương còn là một “kho” lưu trữ chất khoáng như calci và
phospho [19]. Cũng như cỏc mụ khỏc trong cơ thể, xương có những thành phần cơ
bản bao gồm các tế bào xương (tạo cốt bào, huỷ cốt bào, tế bào dây), chất khuôn
xương (bone matrix) với thành phần chủ yếu là chất keo Collagen (chiếm 90%) và
các chất khoáng như calci,phosphat, cacbonat, Kali [19].
Dựa vào đặc điểm sinh lý, xương có thể chia làm hai loại: xương xốp
(trabecular hay cancellous bones) và xương đặc (cortical bones). Tính chung, xương
xốp chiếm khoảng 20% tổng khối lượng xương, và phần 80% còn lại là xương đặc.
Xương xốp được cấu tạo bởi một mạng tế bào rất phức tạp và tinh vi. Do đó, xương
xốp có độ chuyển hóa cao, có diện tích rộng hơn, và dễ bị gãy hơn xương đặc.
1.1.2. Chu chuyển của xương
Xương không phải là mô chết, thực tế xương là một mô liên tục có chuyển
hóa (metabolism) và đổi mới (remodeling). Cả hai quá trình này được điều hòa bởi
các yếu tố tại chỗ và toàn thân. Một chu kỳ đổi mới xương bao gồm 3 giai đoạn: giai
đoạn hủy xương (resorption), giai đoạn chuyển đổi (reversal) và giai đoạn tạo xương
mới (formation). Để hoàn thành quá trình tái tạo xương cần mất 3-4 tháng, sau đó là
giai đoạn nghỉ dài trước khi bắt đầu một chu kỳ đổi mới xương tiếp theo [40].


Kho tài liệu miễn phí của diễn đàn Ketnooi.com
6

Lining cells
Khởi đầu

tuổi và giới, nữ thường ở tuổi mãn kinh và nam khoảng 52 tuổi.
-

Giai đoạn ba là giai đoạn mất xương nhanh: giai đoạn này xuất hiện ở nữ

sau mãn kinh. Theo Riggs, trong toàn bộ cuộc đời một phụ nữ sẽ mất khoảng 35%
xương đặc và 50% xương xốp, nam giới mất khoảng 2/3 số này [82], [30].


Kho tài liệu miễn phí của diễn đàn Ketnooi.com
7

1.2. Khái niệm và phân loại loãng xương
1.2.1. Khái niệm
Lịch sử nghiên cứu về loãng xương (LX) đã được nhiều tác giả nói đến, khái
niệm về LX được nhắc đến ở nửa đầu thế kỷ 18 do Jean Georges Chretien Fediric
Martin Lostein (1777 – 1835) nêu lên, từ đó những hiểu biết về LX có nhiều thay
đổi. Vào những năm 1939 – 1940, Albright là người đầu tiên đưa ra khái niệm
loãng xương là sự calci hóa không đầy đủ [30]. Sau đó, nhờ sự tiến bộ trong kỹ
thuật thăm dò hình thái và tổ chức học của xương, các công trình nghiên cứu của
Bordier và Meunier đưa ra định nghĩa: loãng xương là sự giảm toàn bộ khối lượng
xương [30]. Sau đó, định nghĩa loãng xương chính thức được Tổ chức Y tế thế giới
(WHO) thống nhất năm 1993 và sửa đổi năm 2001. Các khái niệm về loãng xương
ban đầu chỉ nờu cỏc loãng xương liên quan tới tình trạng mãn kinh ở phụ nữ, sau đó
các nguyên nhân gây loãng xương sinh lý và bệnh lý, các yếu tố nguy cơ đã được
nghiên cứu [30].
- Định nghĩa của WHO năm 2001 [72]: loãng xương đựoc đặc trưng bởi sự
thay đổi sức mạnh của xương. Sức mạnh này được đặc trưng bởi mật độ xương và
chất lượng của xương. Chất lượng xương được đánh giá bởi các thông số: cấu trúc
của xương, chu chuyển xương (turmove rate), độ khoỏng húa, tổn thương tích lũy

sống do tổn thương xuất hiện đồng đều trên cả xương đặc và xương xốp [30].
Giai đoạn tắt kinh và chứng loãng xương nguyờn phỏt
Với sự phát triển sinh lý, mật độ xương tăng nhanh trong thời kỳ niên thiếu, đạt
mức độ tối đa vào độ tuổi 20-30, sau đó quân bình. Sau thời gian quân bình, xương
bắt đầu giảm dần. Đặc biệt từ thời điểm mãn kinh, estrogen ở người phụ nữ bắt đầu
suy thoái và tác động tích cực của hormon đó tới bộ xương bắt đầu biến mất đồng
thời mật độ xương giảm nhanh [19].
Giai đoạn tắt kinh là khoảng thời gian người phụ nữ có kinh lần cuối. Mãn
kinh là tình trạng ngừng chu kỳ kinh nguyệt ở nữ giới do suy giảm chức năng buồng


Kho tài liệu miễn phí của diễn đàn Ketnooi.com
9

trứng theo sinh lý, tuổi mãn kinh trung bình là 51 tuổi . Quá trình lão hóa của sự
sinh sản được chia thành các thời kỳ như: thời kỳ sinh sản (reproductive), thời kỳ
tiền mãn kinh (menopausal transition - premenopuase), thời kỳ xung quanh mãn
kinh (perimenopause), thời kỳ mãn kinh (menopause) và hậu mãn kinh
(postmenopause) [19].

1.3. Nguyên nhân, các yếu tố nguy cơ của loãng xương nguyờn phỏt
Mặc dù sự giảm sút khối lượng chất xương là một hiện tượng sinh lý bình
thường trong cơ thể, song có rất nhiều yếu tố nội sinh và yếu tố ngoại sinh tác động
làm cho tình trạng mất xương ở một số đối tượng trở lên nhanh hơn, mạnh mẽ hơn
và họ có nguy cơ bị loãng xương cũng như gãy xương cao hơn. Những yếu tố đã
được nhiều tác giả thừa nhận bao gồm:
Giới: Phụ nữ có nguy cơ xuất hiện loãng xương nguyên phát cao hơn nam
giới gấp 4 lần do khối lượng xương của họ thấp hơn và có một quá trình mất xương
nhanh hơn sau mãn kinh [81]. Sự mất xương ở phụ nữ xuất hiện sớm hơn nam giới
từ 15 – 20 năm do hậu quả của sự suy giảm chức năng buồng trứng một cách nhanh

Kết quả nghiên cứu của các tác giả Vũ Thị Thu Hiền, Nguyễn Công Khẩn [57],
Dequeker [64] cũng cho thấy những người có tầm vóc nhỏ có khối xương thấp hơn
nên dễ có nguy cơ loãng xương.
Cân nặng: Ở những phụ nữ nhẹ cân, sự mất xương xảy ra nhanh hơn và tần
suất gãy cổ xương đùi và xẹp đốt sống do loãng xương cao hơn [9]. Ngược lại, cân
nặng cao là một yếu tố bảo vệ cơ thể khỏi tình trạng mất xương thông qua việc tăng
tạo xương và tăng chuyển hóa androgen của tuyến thượng thận thành estron ở mô
mỡ. Yếu tố cân nặng có ảnh hưởng tốt trên khối xương, những người béo có mật độ
xương cao hơn so với những người gầy.
Năm 1986, Viện quốc gia về sức khỏe của Đan Mạch đã thông báo rằng
trọng lượng cơ thể thấp là một yếu tố nguy cơ đối với sự phát triển của loãng xương
[71]. Năm 2003, theo báo cáo của nhóm chuyên gia tư vấn phối hợp WHO/ FAO
cũng cho thấy rằng cân nặng cơ thể thấp làm tăng nguy cơ gãy xương do loãng
xương cho nam và nữ trên 50 tuổi [82].


Kho tài liệu miễn phí của diễn đàn Ketnooi.com
11

Nghiên cứu của Pongchaiyakul C, Panichkul S. và cộng sự cũng cho thấy
cân nặng cơ thể là yếu tố nguy cơ gây loãng xương với OR = 1,9; 95%CI=1,4-2,7
[68]. Nghiên cứu của Kroger H. và cộng sự ở 1.600 phụ nữ cho thấy cứ tăng thêm
mỗi cân nặng thì MĐX ở cột sống tăng thêm 0,004g/cm 3 và MĐX ở cổ xương đùi
tăng thêm 0,005g/cm3 (p
suất sử dụng hàng ngày các thực phẩm giàu calci làm giảm tình trạng loãng
xương/giảm mật độ xương. Những người ăn đậu phụ, rau muống chỉ 1-4 lần/thỏng
cú nguy cơ bị loãng xương/giảm mật độ xương cao hơn 76 và 27 lần so với những
người ăn đậu phụ và rau muống hàng ngày [13]. Nghiên cứu của Phạm Thu Hương
và cộng sự cũng thấy việc sử dụng ớt cỏc thực phẩm giàu calci hoặc các thực phẩm
tăng cường calci là một yếu tố nguy cơ đối với tình trạng loãng xương của phụ nữ [20].
Trên thực tế phần lớn khẩu phần ăn của người Việt Nam thường không cung cấp đủ
lượng calci cần thiết [26]. Đõy chính là nguyên nhân khiến cho thanh niên nước ta luụn
cú chiều cao khiêm tốn so với thanh niên các nước trong khu vực kèm theo đó là tỷ lệ
loãng xương khi về già cũng cao hơn, đặc biệt là phụ nữ nông thôn [21].
Vitamin D (1,25 hydroxy vitamin D3): Vitamin D là một chất dinh dưỡng
quan trọng trong việc duy trì sức khỏe của xương. Các chức năng chính của vitamin
D là quy định của sự hấp thụ canxi ở ruột và sự kích thích tiêu xương dẫn đến việc
duy trì nồng độ calci huyết thanh [80]. Kết quả nghiên cứu của John chỉ ra rằng sự
thiếu hụt vitamin D làm giảm sự hấp thu calci của cơ thể từ ruột từ đó làm gia tăng
sản xuất tế bào hủy xương, cơ thể không được cung cấp đủ vitamin D có thể dẫn
đến nguy cơ cao loãng xương [79]. Ánh sáng mặt trời là nguồn phổ biến nhất của
vitamin D. Một đề nghị cho đủ lượng vitamin D từ ánh sáng mặt trời là sự tiếp xúc
trực tiếp của da trên khuôn mặt, cánh tay, bàn tay hoặc lưng với ánh nắng mặt trời
trong khoảng 15 phút từ trước 10 giờ sáng hoặc sau 3 giờ chiều vào mùa xuân, mùa
hè, và mùa thu ít nhất hai lần mỗi tuần [80]. Người cao tuổi đặc biệt dễ bị thiếu
vitamin D vì họ thường ít ra khỏi nhà, ít tiếp xúc với ánh nắng mặt trời, và bởi vì từ
60 tuổi trở đi khả năng tổng hợp vitamin D trong da của họ giảm [80]. Theo kết quả
của một nghiên cứu cắt ngang trên 93 phụ nữ lớn tuổi người Thái của Kruavit A và
cộng sự, một quốc gia năm gần xích đạo là Thái Lan có tỷ lệ thiếu vitamin D là
38,7% (95% CI: 28,8%, 49,4%) và tỷ lệ loãng xương của họ là 47,3%, (95% CI:
36,9%, 57,9%) [43].


Kho tài liệu miễn phí của diễn đàn Ketnooi.com

tuổi 40-80 và 4981 nam giới tuổi 60-80 ở cỏc vựng khác nhau của Italy cũng cho


Kho tài liệu miễn phí của diễn đàn Ketnooi.com
14

thấy những người đi bộ hoặc đạp xe mỗi ngày trên 30 phút sẽ làm tăng MĐX so với
nhóm không tập [44].
Theo nghiên cứu mới đây của tác giả Lưu Ngọc Giang và Nguyễn Thị Trỳc
thỡ không vận động thể lực là một yếu tố nguy cơ của loãng xương và gãy xương,
chẩn đoán theo T-score với p

1.4. Tình hình loãng xương trên thế giới và Việt Nam
1.4.1. Tình hình loãng xương trên thế giới
Loãng xương ngày càng trở thành một vấn đề sức khoẻ lớn của thế kỷ 21,
nhất là đối với phụ nữ sau mãn kinh [82]. Ngày nay, tuổi thọ trung bình của con
người đang tăng lên một cách nhanh chóng trên toàn thế giới. Tại các nước phát
triển, dân số độ tuổi từ 60 trở lên đang tăng trưởng với tốc độ nhanh nhất từ trước
đến nay (2% mỗi năm), dự kiến năm 2009 là 264 triệu sẽ tăng lên là 416 vào năm
2050 [4]. Tuổi thọ của con người tăng dự báo tỷ lệ loãng xương và gãy xương tự
phát sẽ tăng [82].


Kho tài liệu miễn phí của diễn đàn Ketnooi.com
16

Bảng 1.1: Tỷ lệ loãng xương trên thế giới
TT

Tác giả

Năm

Địa điểm

1

Liao, E.Y [68]

2002


tuổi

International
Osteoporosis
Foundation
[61]

2009

Philipin

International
Osteoporosis
Foundation
[62]

2010

5

6

Indonesia
Liên Bang
Nga
Belarus
Ba lan

7


Phụ nữ
> 55 tuổi
Cả nam và
nữ từ 20
tuổi trở lên
Cả nam và
nữ trên 50
tuổi
Phụ nữ từ
50-75 tuổi

Kết quả loãng xương
- Từ 30-39 tuổi: 0,5%
- Từ 40-49 tuổi: 4,4%
- Từ 50-59 tuổi: 23,9%
- Từ 60-69 tuổi: 56,3%
- Từ 70-79 tuổi: 71,8%
- Từ 80 tuổi: > 83%
- Tỷ lệ loãng xương ở phụ nữ:
25,5-31%
- Từ 60 tuổi, tỷ lệ loãng xương
ở nữ: 50%
- Tỷ lệ loãng xương ở nam >
70 tuổi: 5,1%
- Tỷ lệ loãng xương ở nam:
6,3%
- Tỷ lệ loãng xương ở nữ:
21,2%
- Tỷ lệ loãng xương là 19,8%
- Tỷ lệ ở nam giới: 28,7%

1,6 triệu người gãy xương hông, 1,7 triệu là ở cẳng tay và 1,4 triệu bị gãy xương cột
sống, trong đó Châu Âu và châu Mỹ chiếm 51% các ca gãy xương và hầu hết số còn
lại xảy ra ở khu vực Tây Thái Bình Dương và Đông Nam Á [65]. Tại Hoa Kỳ, có
hơn 40 triệu người hoặc đã bị loãng xương hoặc có nguy cơ cao do khối lượng
xương thấp [72]. Dự báo tới năm 2050, toàn thế giới sẽ có 6,3 triệu trường hợp gãy
cổ xương đùi do LX và 51% số này sẽ ở các nước châu Á [4]. Tỷ lệ LX của phụ nữ
châu Á sau mãn kinh là từ 17 đến 21% [4]. Tỷ lệ gãy xương do LX ở Đông Nam Á
chiếm 17,4% toàn thế giới. Tỷ lệ lún xẹp đốt sống ở phụ nữ châu Á: 14% tại Đài
Loan, 30% tại Hồng Kụng; trong khi đó tại châu Âu tỷ lệ này chỉ chiếm 12% [4].
Theo WHO nữ giới là những người có nguy cơ mắc bệnh cao hơn gấp
khoảng 3 lần so với nam giới. Từ 45 tuổi trở lên, cứ 3 người phụ nữ sẽ có 1 người
mắc loãng xương, tuy nhiên con số này ở nam giới chỉ là 1/5 [84].
Hiện nay, loãng xương đang được coi là một “bệnh dịch âm thầm”, ngày
càng gia tăng và có xu hướng lan rộng khắp thế giới, đặc biệt ở các nước Châu Á
[69] Trước đây, loãng xương thường gặp ở những phụ nữ da trắng sống ở vùng khí
hậu ôn đới, phụ nữ Châu Á, phụ nữ Mỹ gốc Phi có nguy cơ bị loãng xương thấp
hơn. Tuy nhiên hiện nay nhiều dự báo cho rằng phần lớn loãng xương tự phát sẽ
xảy ra ở khu vực Châu Á và những nước kém phát triển. vấn đề loãng xương đặc
biệt nghiêm trọng ở các khu vực nông thôn [69]. Tuy nhiên việc phát hiện sớm
loãng xương không phải việc dễ dàng bởi thiết bị đo loãng xương không phải là phổ
biến rộng rãi trong hầu hết các nước đang phát triển ở Châu Á, đặc biệt là ở cỏc
vựng nông thôn.
1.4.2. Tình hình loãng xương tại Việt Nam
Cho đến nay, vẫn chưa có một nghiên cứu dịch tễ đầy đủ nào về bệnh loãng
xương trên qui mô toàn quốc. Đa số bệnh nhân loãng xương chưa được điều trị và theo
dõi có hệ thống. Chẩn đoán loãng xương đa số muộn, vào lúc đó cú biến chứng: đau
kéo dài do chèn ép rễ thần kinh, góy lỳn đốt sống, gãy xương,…[34]. Tuy nhiên một số


Kho tài liệu miễn phí của diễn đàn Ketnooi.com

Nghiên cứu năm 2011 của 2 tác giả Ninh Thị Nhung và Phạm Ngọc Khái là:
Xác định nguy cơ mắc bệnh loãng xương ở phụ nữ 40-65 tuổi qua đánh giá chỉ số


Kho tài liệu miễn phí của diễn đàn Ketnooi.com
19

khối cơ thể và mức tiêu thụ thực phẩm cho kết quả là những phụ nữ có tần suất tiêu
thụ cỏ, tụm, tộp ở mức không thường xuyên thì nguy cơ loãng xương cao hơn phụ
nữ tiêu thụ cỏ, tụm, tộp ở mức thường xuyên (OR>1; p< 0,05). Tuy vậy, nghiên
cứu cũng chỉ đề cập đến mức tiêu thụ thực phẩm ở một số loại thực phẩm, chưa
đánh giá được khẩu phần calci của đối tượng trong 1 ngày.
Các yếu tố nguy cơ đã được đề cập trong các đề tài trên bao gồm các yếu tố
khó có thể thay đổi như: tuổi tác, chiều cao, BMI, thời gian mãn kinh, tuổi mãn
kinh, tiền sử gãy xương,… thì việc tìm hiểu các yếu tố nguy cơ có thể thay đổi được
như khẩu phần calci và vitamin D chưa được đề cập đến. Việc cần thiết là đưa ra
một bức tranh rộng hơn về mối liên quan của các yếu tố nguy cơ có thể thay đổi
được đối với bệnh loãng xương và kết quả của đề tài sẽ gợi ý cho việc xây dựng các
chương trình dự phòng bệnh trong cộng đồng có tính khả thi cao.

1.5. Hậu quả của loãng xương.
1.5.1. Hậu quả đối với cá nhân người bệnh

Hình 1.3. Hình ảnh hậu quả gãy xương do loãng xương
Hậu quả lớn nhất của loãng xương là làm gia tăng nguy cơ gãy xương. Gãy
xương do loãng xương (gãy xương đùi; gãy xương sống; gãy xương cẳng tay) để
lại những đau đớn và hậu quả không kể xiết cho bệnh nhân như: tàn tật suốt đời;
chất lượng cuộc sống bị hạ thấp thậm chí có thể dẫn đến tử vong. Đối với những
người cao tuổi sống sót sau gãy xương do loãng xương thỡ chớ cú 1 người trong 3
người có thể sống mà không phụ thuộc vào người khác. Đối với những người đã bị

xương như: phương pháp đo hấp thụ photon đơn (Single photon absorptimetry –
SPA); đo hấp thụ photon kép (Dual photon absorptimetry – DPA); đo hấp thụ tia X
năng lượng đơn và kép (Single energy X ray absorptimetry – SXA); đo tỷ trọng chất
khoáng xương bằng chụp cắt lớp vi tính (Quantitative computed tomography –
QCT); sinh hóa, chụp X – quang quy ước, siêu âm, sóng quang phổ cộng hưởng
từ…Mỗi phương pháp đều có ưu nhược điểm như sau:


Kho tài liệu miễn phí của diễn đàn Ketnooi.com
21

Phương pháp sinh hóa
Nói chung chẩn đoán loãng xương dựa trên X - quang và kết quả đo khối
lượng xương được nhiều nhà khoa học sử dụng. Các xét nghiệm sinh húa, mỏu và
nước tiểu thường ít thay đổi và không đặc hiệu ở những người có loãng xương so
với những đối tượng bình thường. Những năm gần đây các nhà nghiên cứu đã đi sâu
phát hiện và tìm hiểu vai trò của những chất đánh dấu nhạy cảm và đặc hiệu cho
việc khám phá bệnh chuyển hóa xương.
Bảng 1.2. Một số chất đánh dấu sinh học của quá trình tạo xương và hủy xương
(theo P.Braillon và P.D. Delmas)
Tạo xương
Huyết thanh
 Osteocalcine (Gla proteine osseuse)

Hủy xương
Huyết thanh
 Phosphatase axit kháng axit tartric

 Phosphotase kiềm
 Các peptide của procollagene

y tế do đó có giá trị trong các nghiên cứu dịch tễ học về loãng xương. Tuy nhiên
phương pháp này cũng có độ nhạy thấp, thường chỉ chẩn đoán được loãng xương
muộn khi lượng chất khoáng giảm từ 30 – 50%.
Đo hấp thụ photon đơn (SPA – Single photon absorptiometry)
Phương pháp này dựa trên nguyên lý là nghiên cứu các thay đổi của sự giảm
tia gamma phát ra từ nguồn phóng xạ Iode 125 qua một vùng định nghiên cứu của
xương. Phương pháp có ưu điểm là máy gọn nhẹ, liều tia xạ thấp ( 5 – 10 mrem)
nhưng cũng có nhược điểm là chịu ảnh hưởng bởi tổ chức phần mềm bao quanh nên
chỉ giới hạn trong việc nghiên cứu các xương ở nông, chỉ áp dụng ở những vị trí
xương ngoại vi mà không đo được xương đùi, xương cột sống. Tỷ lệ sai số khoảng
4 – 5% [81].
Đo hấp thụ photon kép (DPA – Dual photon absorptiometry)
Phương pháp sử dụng 2 nguồn photon có mức năng lượng khác nhau (44 và
100 Kev), nguồn phát xạ là Gadilinium 153, cho phép đo tỉ trọng khoáng xương ở
những vị trí trung tâm như đầu trên xương đùi, cột sống và tất cả bộ xương của cơ
thể. Hệ số hấp thụ của xương và mô mềm khác nhau cho phép đánh giá chính xác
khối lượng xương. Tỷ lệ sai lầm là 3 – 6%, tùy vị trí đo [81].
Ưu điểm của phương pháp là cho phép nghiên cứu bất kỳ vị trí nào của
xương. Nhược điểm là không thể dùng để nghiên cứu tách biệt giữa phần xương đặc
hay xương xốp. Ngoài ra đây là một phương pháp đắt tiền, thời gian thăm dò dài


Kho tài liệu miễn phí của diễn đàn Ketnooi.com
23

trên 20 phút, có thể bị sai số bởi các lồi xương cạnh khớp và cũng khó thực hiện tại
cộng đồng.
Đo khối lượng xương bằng chụp cắt lớp vi tính (QCT)
QCT là phương pháp đo mật độ xương mới có nhiều triển vọng. Phương pháp
này dựa vào đặc tính hấp thu khác nhau của các tổ chức calci ion hóa với nguồn tia xạ

siêu âm cũng giảm đi. QUS sử dụng 2 đầu dò, một đầu do truyền xung siêu âm và
một đầu dò nhận xung siêu âm ở bên đối diện của xương. Trong quá trình truyền
xung siêu âm, đầu dò sẽ di chuyển dọc theo xương của bệnh nhân và truyền xung
siêu âm có tần số từ 160 – 600 KHz xuyên qua mô. Bằng cách tính toán tốc độ
truyền của những xung siêu âm và những biến đổi của xung sau khi đã qua mô
người ta đánh giá được thực trạng của xương. QUS có thể được đánh giá qua nhiều
vị trí khác nhau của xương nhưng do tính dễ khả thi và do cấu tạo, xương gót vẫn
thường được dùng để đánh giá tình trạng của những xương ở ngoại biên. QUS có 2
kỹ thuật chính là đo tốc độ truyền âm và hấp thụ siêu âm dải rộng. Ưu điểm của
phương pháp là không liên quan tới tia xạ, chi phí thấp, thể tích máy gọn nhẹ do đó
có giá trị trong các nghiên cứu điều tra sàng lọc loãng xương tại cộng đồng.Nhược
điểm là độ chính xác bị ảnh hưởng bởi phần mềm bao quanh xương .
Còn rất nhiều phương pháp thăm dò khối lượng xương khác như: đồng vị
phóng xạ, cộng hưởng từ. Tuy nhiờn, trên thực tế chúng cũng ít được sử dụng hoặc
do liều tia xạ quá cao hoặc còn đang nghiên cứu. Sự lựa chọn một phương pháp đòi
hỏi cân nhắc nhiều yếu tố như: độ chính xác, chi phí, khả năng sẵn có và những tính
năng khác.
Phương pháp siêu âm định lượng đã được sử dụng khá nhiều đặc biệt là
nghiên cứu điều tra cộng đồng. Với ưu điểm là giá thành rẻ, tính khả thi cao khi mang
máy di chuyển tại cộng đồng, và độ tin cậy có thể chấp nhận đuợc. Máy Achilles của
hãng GE Medical system được sản xuất tại Mỹ có thể tích gọn nhẹ, giá thành thấp, độ
chính xác cao, đã được hiệu chỉnh với phương pháp DEXA (đây là tiêu chuẩn vàng
để chẩn đoán loãng xương hiện nay). Vì vậy, trong nghiên cứu này tôi chọn sử dụng
phương pháp siêu âm định lượng với máy siêu âm với máy Sonost 3000 Sonost
3000, của hãng Osteosys - Korea sản xuất để siêu âm xương gót chân. Kỹ thuật đo
là SOS, kết quả được tính bằng m/s.


Kho tài liệu miễn phí của diễn đàn Ketnooi.com
25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status