Thực trạng loãng xương và một số yếu tố liên quan ở phụ nữ mãn kinh trên 5 năm trong độ tuổi 50-70 tuổi tại xã tam hưng huyện thanh oai hà nội năm 2012 - Pdf 19

MỤC LỤC

TÓM TẮT NGHIÊN CỨU 1
ĐẶT VẤN ĐỀ 2
Chƣơng 1: TỔNG QUAN 5
1.1. Sơ lược về cấu trúc, chức năng và chu chuyển xương 5
1.1.1. Cấu trúc và chức năng 5
1.1.2. Chu chuyển của xương 5
1.2. Khái niệm và phân loại loãng xương 7
1.2.1. Khái niệm 7
1.2.2. Phân loại 8
1.3. Nguyên nhân, các yếu tố nguy cơ của loãng xương nguyên phát 9
1.4. Tình hình loãng xương trên thế giới và Việt Nam 15
1.4.1. Tình hình loãng xương trên thế giới 15
1.4.2. Tình hình loãng xương tại Việt Nam 17
1.5. Hậu quả của loãng xương. 19
1.5.1. Hậu quả đối với cá nhân người bệnh 19
1.5.2. Hậu quả đối với gia đình bệnh nhân 20
1.5.3. Hậu quả đối với xã hội 20
1.6. Các phương pháp chẩn đoán loãng xương và đo mật độ xương 20
1.7. Một vài nét về vấn đề phòng ngừa và điều trị loãng xương hiện nay 25

Chƣơng 2: PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 26
2.1. Thời gian và địa điểm nghiên cứu 26
2.2. Đối tượng nghiên cứu 26
2.3. Phương pháp nghiên cứu 27
2.3.1. Thiết kế nghiên cứu 27
2.3.2. Phương pháp chọn mẫu 27
2.4. Tổ chức thu thập số liệu 28
2.4.1. Thời gian, địa điểm và nhân lực 28
2.4.2. Chuẩn bị trước buổi thu thập số liệu 29

3.3.14. Mối liên quan giữa tình trạng loãng xương và tiền sử gãy xương 53
3.3.15. Mối liên quan giữa tình trạng loãng xương và hoàn cảnh gãy xương 53
3.3.16. Mô hình hồi quy logistic tiên lượng ảnh hưởng của một số yếu tố đối với tình
trạng loãng xương của đối tượng nghiên cứu 54

Chƣơng 4: BÀN LUẬN 56
4.1. Đặc trưng cơ bản về thông tin chung của đối tượng nghiên cứu 56
4.2. Bàn luận về thực trạng loãng xương 57
4.2.1. Bàn luận về tỷ lệ loãng xương chung 57
4.2.2. Bàn luận về tỷ lệ loãng xương theo tuổi 58
4.2.3. Bàn luận về tỷ lệ loãng xương theo cân nặng 59
4.2.4. Bàn luận về tỷ lệ loãng xương theo chiều cao 59
4.2.5. Bàn luận về tỷ lệ loãng xương theo tiền sử kinh nguyệt và số con của ĐTNC 60
4.3. Bàn luận về các yếu tố liên quan đến tình trạng loãng xương của phụ nữ mãn kinh
trên 5 năm trong độ tuổi 50-70 tại xã Tam Hưng – Huyện Thanh oai – Hà Nội 60
4.3.1. Bàn luận về mối liên quan giữa tình trạng, loãng xương với tuổi 61
4.3.2. Mối liên quan giữa tình trạng loãng xương với chiều cao 62
4.3.3. Mối liên quan giữa tình trạng loãng xương với cân nặng 62
4.3.4. Bàn luận về tỷ lệ loãng xương theo chỉ số BMI 63
4.3.5. Mối liên quan giữa tình trạng loãng xương với tiền sử kinh nguyệt và số con
sinh ra của ĐTNC 64
4.3.6. Mối liên quan giữa tình trạng loãng xương với khẩu phần calci 66
4.3.7. Mối liên quan giữa tình trạng loãng xương với thời gian tiếp xúc trực tiếp với
ánh nắng mặt trời. 67
4.3.8. Mối liên quan giữa tình trạng loãng xương với hoạt động thể lực, tập luyện 68
4.3.9. Bàn luận về tỷ lệ loãng xương theo tiền sử gãy xương, loãng xương 69
4.4. Hạn chế của nghiên cứu 70
KẾT LUẬN 72
KIẾN NGHỊ 74
TÀI LIỆU THAM KHẢO

64 DANH MỤC BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 3.1. Tình trạng dinh dưỡng của đối tượng nghiên cứu 40
Biểu đồ 3.2. Phân bố nhóm tuổi của đối tượng nghiên cứu 41
Biểu đồ 3.3. Phân bố nghề nghiệp trước đây và hiện tại 41
Biểu đồ 3.4. Tỷ lệ loãng xương chung 42
Biểu đồ 3.5. Tỷ lệ loãng xương theo nhóm tuổi 43
Biểu đồ 3.6. Tỷ lệ loãng xương theo cân nặng 44
Biểu đồ 3.7. Tỷ lệ loãng xương theo chiều cao 44
Biểu đồ 3.8. Tỷ lệ loãng xương theo năm mãn kinh 45
Biểu đồ 3.9: Mối liên quan giữa tỷ trọng xương và khẩu phần calci 49
Biểu đồ 3.10: Mối liên quan giữa tình trạng loãng xương và thời gian tiếp xúc
trực tiếp với ánh nắng mặt trời 51

DANH MỤC HÌNH VẼ

Hình 1.1. Sơ đồ chu kỳ đổi mới xương 6
Hình 1.2. Cấu trúc xương bình thường và cấu trúc xương loãng 7
Hình 1.3. Hình ảnh hậu quả gãy xương do loãng xương 19
Hình 2.1. Máy Sonost 3000 31
Hình 2.2. Hình ảnh đo mật độ xương gót chân 31 1
TÓM TẮT NGHIÊN CỨU

Nghiên cứu được tiến hành từ tháng 11 năm 2011 đến tháng 8 năm 2012 với

thường đứng thứ 2 sau bệnh lý tim mạch . Loãng xương và thoái hóa khớp là biểu
hiện hay thường gặp nhất ở lứa tuổi 50 trở lên .
Vào những năm đầu của thế kỷ 21, theo báo cáo của Hiệp hội loãng xương
Quốc tế, mỗi năm trên Thế giới có khoảng 200 triệu người bị loãng xương, trong đó
có khoảng 1/4 số phụ nữ trên 60 tuổi bị gãy xương do loãng xương . Tỷ lệ loãng
xương ở phụ nữ Bỉ trên 65 tuổi là 15%, tỷ lệ này lên tới > 30% ở phụ nữ Anh trên
50 tuổi [58]. Người ta thấy ở Châu Âu, cứ 30 giõy cú một người bị gãy xương do
loãng xương [82]. Dự báo tới năm 2050, toàn thế giới sẽ có khoảng 6,3 triệu trường
hợp người gãy cổ xương đùi do loãng xương và 51% số này sẽ ở các nước Châu Á [4].
Tỷ lệ loãng xương của phụ nữ Châu Á sau mãn kinh là từ 17 đến 21% [4]. Tỷ lệ gãy
xương do loãng xương ở Đông Nam Á chiếm 17,4% toàn thế giới [4]. Ở Việt Nam,
theo thống kê về tình hình bệnh khớp tại Bệnh viện Bạch Mai trong 3 năm 1983-1985
thì khoảng 10,4% số bệnh nhân đến khám và điều trị vì thoái hóa khớp và tỷ lệ loãng
xương ở phụ nữ sau mãn kinh chiếm khoảng 13-15% [8].
Gãy xương do loãng xương không những để lại hậu quả nghiêm trọng cho
sức khỏe mà chi phí điều trị rất tốn kém và lâu dài. Hàng năm, chính phủ Anh phải
tiêu tốn 2,7 triệu đồng Euro cho điều trị gãy xương do loãng xương, còn ở Mỹ chi
phí này lên tới 3,8 tỷ USD [2]. Chi phí cho loãng xương tương đương với chi phí
cho bệnh tiểu đường và lớn hơn chi phí cho cả hai bệnh ung thư thường gặp nhất ở
phụ nữ cộng lại (ung thư vú và ung thư tử cung) [31], [82]. Tại Việt Nam hiện nay
mỗi ca gãy cổ xương đùi điều trị tại bệnh viện cũng chi phí hết khoảng hơn 30 triệu
đồng [36]. Tuy chi phí cho điều trị biến chứng của loãng xương rất lớn nhưng hiệu
quả điều trị lại không cao: 20% trường hợp gãy cổ xương đùi do loãng xương có thể
tử vong trong vòng một năm sau đó, 30% bị tàn phế hoàn toàn, 40% phụ thuộc vào
người khác và 80% không thể tái hòa nhập với cộng đồng [32], [40]. Gãy xương do
loóng xương đang thực sự trở thành một gánh nặng cho chương trình chăm sóc sức

3
khỏe của mỗi quốc gia. Đây là một thách thức lớn với sức khỏe cộng đồng, đặc biệt ở
các nước Châu Á, nơi mà đa phần là các nước đang phát triển, đông dân và còn nhiều

1. Mục tiêu chung
Mô tả thực trạng loãng xương và một số yếu tố liên quan ở phụ nữ mãn kinh
trên 5 năm trong độ tuổi 50-70 tại xã Tam Hưng - huyện Thanh Oai, Hà Nội năm 2012.
2. Mục tiêu cụ thể
2.1. Mô tả thực trạng loãng xương ở phụ nữ mãn kinh trên 5 năm trong độ tuổi
50-70 tại xã Tam Hưng - huyện Thanh Oai - Hà Nội, năm 2012.
2.2. Xác định một số yếu tố liên quan đến tình trạng loãng xương ở đối tượng
nghiên cứu.
5
Chƣơng 1
TỔNG QUAN

1.1. Sơ lƣợc về cấu trúc, chức năng và chu chuyển xƣơng
1.1.1. Cấu trúc và chức năng
Bộ xương chiếm khoảng 15 – 17% trọng lượng cơ thể và được coi là ngân

Quỏ trình phát triển cơ thể, khối lượng xương trải qua 3 giai đoạn:
- Giai đoạn đầu: khối lượng xương tăng dần để đạt đến giá trị tối đa (gọi là
khối lượng xương đỉnh), Peak Bone Mass – PBM. PBM được định nghĩa là khối
lượng mô xương lúc kết thúc giai đoạn trưởng thành. Thời điểm đạt được PBM
khác nhau giữa nam và nữ. Tuy nhiên, đạt mức cao nhất ở tuổi trưởng thành vào
khoảng 25 tuổi và duy trì khoảng 10 năm sau đó [1]. Đỉnh của khối xương chịu ảnh
hưởng của nhiều yếu tố trong đó có yếu tố dinh dưỡng [82].
- Giai đoạn hai là giai đoạn mất xương chậm: giai đoạn này phụ thuộc vào
tuổi và giới, nữ thường ở tuổi mãn kinh và nam khoảng 52 tuổi.
- Giai đoạn ba là giai đoạn mất xương nhanh: giai đoạn này xuất hiện ở nữ
sau mãn kinh. Theo Riggs, trong toàn bộ cuộc đời một phụ nữ sẽ mất khoảng 35%
xương đặc và 50% xương xốp, nam giới mất khoảng 2/3 số này [82], [30].
Lining cells
Kích hoạt
osteoclast
Kích hoạt
osteoblast
Tạo xương
mới
Khởi đầu
Hủy xương

7
1.2. Khái niệm và phân loại loãng xƣơng
1.2.1. Khái niệm
Lịch sử nghiên cứu về loãng xương (LX) đã được nhiều tác giả nói đến, khái
niệm về LX được nhắc đến ở nửa đầu thế kỷ 18 do Jean Georges Chretien Fediric
Martin Lostein (1777 – 1835) nêu lên, từ đó những hiểu biết về LX có nhiều thay
đổi. Vào những năm 1939 – 1940, Albright là người đầu tiên đưa ra khái niệm
loãng xương là sự calci hóa không đầy đủ [30]. Sau đó, nhờ sự tiến bộ trong kỹ

heparin kéo dài [35].
Loãng xương nguyờn phỏt: là loại loãng xương không tìm thấy căn nguyên
nào khác ngoài tuổi tác và/ hoặc tình trạng mãn kinh ở phụ nữ. Loãng xương
nguyờn phát chia làm 2 loại: 1) Type I: xuất hiện ở phụ nữ trong vòng 5-15 năm sau
mãn kinh, gây ra tình trạng loãng xương ở các xương xốp nhất là cột sống gây nên tình
trạng cong, gù vẹo và đau lưng. 2) Type II : xuất hiện ở cả nam và nữ với tỷ số nữ: nam
là 2:1. Loãng xương thường xuất hiện sau tuổi 75, đó là hậu quả của sự mất xương
chậm trong vòng vài chục năm, biểu hiện chính là gãy cổ xương đùi, góy lỳn cỏc đốt
sống do tổn thương xuất hiện đồng đều trên cả xương đặc và xương xốp [30].
Giai đoạn tắt kinh và chứng loãng xƣơng nguyờn phỏt
Với sự phát triển sinh lý, mật độ xương tăng nhanh trong thời kỳ niên thiếu, đạt
mức độ tối đa vào độ tuổi 20-30, sau đó quân bình. Sau thời gian quân bình, xương
bắt đầu giảm dần. Đặc biệt từ thời điểm mãn kinh, estrogen ở người phụ nữ bắt đầu
suy thoái và tác động tích cực của hormon đó tới bộ xương bắt đầu biến mất đồng
thời mật độ xương giảm nhanh [19].
Giai đoạn tắt kinh là khoảng thời gian người phụ nữ có kinh lần cuối. Mãn
kinh là tình trạng ngừng chu kỳ kinh nguyệt ở nữ giới do suy giảm chức năng buồng

9
trứng theo sinh lý, tuổi mãn kinh trung bình là 51 tuổi . Quá trình lão hóa của sự
sinh sản được chia thành các thời kỳ như: thời kỳ sinh sản (reproductive), thời kỳ
tiền mãn kinh (menopausal transition - premenopuase), thời kỳ xung quanh mãn
kinh (perimenopause), thời kỳ mãn kinh (menopause) và hậu mãn kinh
(postmenopause) [19].
1.3. Nguyên nhân, các yếu tố nguy cơ của loãng xƣơng nguyờn phỏt
Mặc dù sự giảm sút khối lượng chất xương là một hiện tượng sinh lý bình
thường trong cơ thể, song có rất nhiều yếu tố nội sinh và yếu tố ngoại sinh tác động
làm cho tình trạng mất xương ở một số đối tượng trở lên nhanh hơn, mạnh mẽ hơn
và họ có nguy cơ bị loãng xương cũng như gãy xương cao hơn. Những yếu tố đã
được nhiều tác giả thừa nhận bao gồm:

giảm mật độ xương nhanh hơn so với những phụ nữ có chiều cao trên 145cm [33].
Kết quả nghiên cứu của các tác giả Vũ Thị Thu Hiền, Nguyễn Công Khẩn [57],
Dequeker [64] cũng cho thấy những người có tầm vóc nhỏ có khối xương thấp hơn
nên dễ có nguy cơ loãng xương.
Cân nặng: Ở những phụ nữ nhẹ cân, sự mất xương xảy ra nhanh hơn và tần
suất gãy cổ xương đùi và xẹp đốt sống do loãng xương cao hơn [9]. Ngược lại, cân
nặng cao là một yếu tố bảo vệ cơ thể khỏi tình trạng mất xương thông qua việc tăng
tạo xương và tăng chuyển hóa androgen của tuyến thượng thận thành estron ở mô
mỡ. Yếu tố cân nặng có ảnh hưởng tốt trên khối xương, những người béo có mật độ
xương cao hơn so với những người gầy.
Năm 1986, Viện quốc gia về sức khỏe của Đan Mạch đã thông báo rằng
trọng lượng cơ thể thấp là một yếu tố nguy cơ đối với sự phát triển của loãng xương
[71]. Năm 2003, theo báo cáo của nhóm chuyên gia tư vấn phối hợp WHO/ FAO
cũng cho thấy rằng cân nặng cơ thể thấp làm tăng nguy cơ gãy xương do loãng
xương cho nam và nữ trên 50 tuổi [82].

11
Nghiên cứu của Pongchaiyakul C, Panichkul S. và cộng sự cũng cho thấy
cân nặng cơ thể là yếu tố nguy cơ gây loãng xương với OR = 1,9; 95%CI=1,4-2,7
[68]. Nghiên cứu của Kroger H. và cộng sự ở 1.600 phụ nữ cho thấy cứ tăng thêm
mỗi cân nặng thì MĐX ở cột sống tăng thêm 0,004g/cm
3
và MĐX ở cổ xương đùi
tăng thêm 0,005g/cm
3
(p<0,001) [75]. Nghiên cứu của tác giả Ninh Thị Nhung và
Phạm Ngọc Khái [26] cho thấy những phụ nữ có cân nặng <40kg có mật độ xương
thấp hơn so với những phụ nữ thừa cân béo phì. Nghiên cứu của Vũ Thị Thanh Thủy,
Trần Thị Tụ Chõu cũng cho thấy cân nặng dưới 42kg là yếu tố nguy cơ góy lỳn đốt
sống do loãng xương ở phụ nữ sau mãn kinh [8]. Nghiên cứu bệnh chứng của Mai

xương/giảm mật độ xương. Những người ăn đậu phụ, rau muống chỉ 1-4 lần/thỏng
cú nguy cơ bị loãng xương/giảm mật độ xương cao hơn 76 và 27 lần so với những
người ăn đậu phụ và rau muống hàng ngày [13]. Nghiên cứu của Phạm Thu Hương
và cộng sự cũng thấy việc sử dụng ớt cỏc thực phẩm giàu calci hoặc các thực phẩm
tăng cường calci là một yếu tố nguy cơ đối với tình trạng loãng xương của phụ nữ [20].
Trên thực tế phần lớn khẩu phần ăn của người Việt Nam thường không cung cấp đủ
lượng calci cần thiết [26]. Đõy chính là nguyên nhân khiến cho thanh niên nước ta luụn
cú chiều cao khiêm tốn so với thanh niên các nước trong khu vực kèm theo đó là tỷ lệ
loãng xương khi về già cũng cao hơn, đặc biệt là phụ nữ nông thôn [21].
Vitamin D (1,25 hydroxy vitamin D3): Vitamin D là một chất dinh dưỡng
quan trọng trong việc duy trì sức khỏe của xương. Các chức năng chính của vitamin
D là quy định của sự hấp thụ canxi ở ruột và sự kích thích tiêu xương dẫn đến việc
duy trì nồng độ calci huyết thanh [80]. Kết quả nghiên cứu của John chỉ ra rằng sự
thiếu hụt vitamin D làm giảm sự hấp thu calci của cơ thể từ ruột từ đó làm gia tăng
sản xuất tế bào hủy xương, cơ thể không được cung cấp đủ vitamin D có thể dẫn
đến nguy cơ cao loãng xương [79]. Ánh sáng mặt trời là nguồn phổ biến nhất của
vitamin D. Một đề nghị cho đủ lượng vitamin D từ ánh sáng mặt trời là sự tiếp xúc
trực tiếp của da trên khuôn mặt, cánh tay, bàn tay hoặc lưng với ánh nắng mặt trời
trong khoảng 15 phút từ trước 10 giờ sáng hoặc sau 3 giờ chiều vào mùa xuân, mùa
hè, và mùa thu ít nhất hai lần mỗi tuần [80]. Người cao tuổi đặc biệt dễ bị thiếu
vitamin D vì họ thường ít ra khỏi nhà, ít tiếp xúc với ánh nắng mặt trời, và bởi vì từ
60 tuổi trở đi khả năng tổng hợp vitamin D trong da của họ giảm [80]. Theo kết quả
của một nghiên cứu cắt ngang trên 93 phụ nữ lớn tuổi người Thái của Kruavit A và
cộng sự, một quốc gia năm gần xích đạo là Thái Lan có tỷ lệ thiếu vitamin D là
38,7% (95% CI: 28,8%, 49,4%) và tỷ lệ loãng xương của họ là 47,3%, (95% CI:
36,9%, 57,9%) [43].

13
Theo một nghiên cứu cắt ngang mô tả, thực hiện trên 95 bệnh nhân loãng
xương từ 60 tuổi trở lên, được điều trị tại khoa Nội Cơ Xương Khớp Bệnh viện Chợ

nhóm không tập [44].
Theo nghiên cứu mới đây của tác giả Lưu Ngọc Giang và Nguyễn Thị Trỳc
thỡ không vận động thể lực là một yếu tố nguy cơ của loãng xương và gãy xương,
chẩn đoán theo T-score với p<0,05. Tiêu chuẩn vận động trong nghiên cứu là đi bộ
khoảng 30 phút, 2-3 lần mỗi tuần, liên tục ≥ 1 năm [15]. Dalsky G.P và cộng sự đã
ghi nhận rằng một chương trình luyện tập 40 tuần làm tăng đáng kể mật độ xương ở
cột sống thắt lưng của những người luyện tập so với những người không luyện tập
[55]. Trong một nghiên cứu dài 4 năm, Smith E.L và cộng sự đã so sánh 2 nhóm đối
tượng, một nhóm có luyện tập aerobic có chịu tải 45 phỳt/lần, 3 lần/tuần và một
nhóm không luyện tập [51]. Kết quả cho thấy tỷ lệ mất xương ở nhóm luyện tập
giảm hơn so với nhóm không luyện tập.
Ở Việt Nam, nghiên cứu của các tác giả Vũ Thị Thu Hiền, Vũ Thị Thanh
Thủy, Nguyễn Thị Kim Dung cho thấy rằng những phụ nữ tập thể dục đều đặn ít
nhất 3 lần/tuần sẽ giảm được nguy cơ loãng xương so với nhóm không tập thể dục
[57], [35], [13].
Tiền sử kinh nguyệt và sinh đẻ: Mối liên quan giữa mãn kinh và loãng
xương cũng đã được biết đến từ lâu. Vào năm 1940-1941, cùng với Bloomberg ,
Smith và Richardson, Albright đã trình bày một nghiên cứu trên 42 trường hợp
loãng xương, trong đó 40 ca là phụ nữ sau mãn kinh; tìm hiểu những ảnh hưởng của
estrogen trên cân bằng calci ở những phụ nữ này ụng cú nhận xét rằng sau mãn kinh
người phụ nữ có xu hướng bị mất xương của cột sống và xương chậu và ông gọi
tình trạng này là loãng xương sau mãn kinh [52]. Nghiên cứu của Ho S.C cho thấy
số năm mãn kinh đóng góp vào nguy cơ MĐX giảm ở cột sống thắt lưng và cổ
xương đùi [47]. Nghiên cứu của Phạm Thị Thu Hương và cộng sự cũng cho thấy tỷ
lệ loãng xương tăng dần theo thời gian đã mãn kinh với 11% (nhóm mãn kinh dưới
5 năm), và 38,5% ( nhóm mãn kinh 16-20 năm) [20].
Theo tài liệu của Nordin, quá trình mang thai và cho con bú có thể làm hao
tổn calci, góp phần làm tăng tỷ lệ loãng xương [45]. Nghiờn cứu trên 200 người để

15

16
Bảng 1.1: Tỷ lệ loãng xƣơng trên thế giới
TT
Tác giả
Năm
Địa điểm
Đối tƣợng
Kết quả loãng xƣơng
1
Liao, E.Y [68]
2002
Trung Quốc
Phụ nữ
nông thôn
- Từ 30-39 tuổi: 0,5%
- Từ 40-49 tuổi: 4,4%
- Từ 50-59 tuổi: 23,9%
- Từ 60-69 tuổi: 56,3%
- Từ 70-79 tuổi: 71,8%
- Từ 80 tuổi: > 83%
3
Chan,W.P
[49]
2003
Đài Loan
Cả nam và
nữ từ 17-89
tuổi tại
thành phố
- Tỷ lệ loãng xương ở phụ nữ:

trên 60 tuổi
- Tỷ lệ ở nam giới: 28,7%
- Tỷ lệ ở nữ giới: 32,3%
6
International
Osteoporosis
Foundation
[62]
2010
Liên Bang
Nga
Cả nam và
nữ > 50
- Ở phụ nữ: 33,8%
- Ở nam giới: 26,9%
Belarus
Cả nam và
nữ từ 50 trở
lên
- Tỷ lệ loãng xương: 30%
- Cứ 5 người > 55 tuổi có 1
người bị loãng xương
Ba lan
Phụ nữ
> 55 tuổi
- Tỷ lệ bệnh: 18,5%
- Tỷ lệ thiểu sản xương là
40,7%
7
International

- Những người sống ở nông
thôn: 19,1%
- Những người sống ở thành
thị: 13,3%

17
Năm 2000, đó cú khoảng 9 triệu ca gãy xương do loãng xương, trong đó có
1,6 triệu người gãy xương hông, 1,7 triệu là ở cẳng tay và 1,4 triệu bị gãy xương cột
sống, trong đó Châu Âu và châu Mỹ chiếm 51% các ca gãy xương và hầu hết số còn
lại xảy ra ở khu vực Tây Thái Bình Dương và Đông Nam Á [65]. Tại Hoa Kỳ, có
hơn 40 triệu người hoặc đã bị loãng xương hoặc có nguy cơ cao do khối lượng
xương thấp [72]. Dự báo tới năm 2050, toàn thế giới sẽ có 6,3 triệu trường hợp gãy
cổ xương đùi do LX và 51% số này sẽ ở các nước châu Á [4]. Tỷ lệ LX của phụ nữ
châu Á sau mãn kinh là từ 17 đến 21% [4]. Tỷ lệ gãy xương do LX ở Đông Nam Á
chiếm 17,4% toàn thế giới. Tỷ lệ lún xẹp đốt sống ở phụ nữ châu Á: 14% tại Đài
Loan, 30% tại Hồng Kụng; trong khi đó tại châu Âu tỷ lệ này chỉ chiếm 12% [4].
Theo WHO nữ giới là những người có nguy cơ mắc bệnh cao hơn gấp
khoảng 3 lần so với nam giới. Từ 45 tuổi trở lên, cứ 3 người phụ nữ sẽ có 1 người
mắc loãng xương, tuy nhiên con số này ở nam giới chỉ là 1/5 [84].
Hiện nay, loãng xương đang được coi là một “bệnh dịch âm thầm”, ngày
càng gia tăng và có xu hướng lan rộng khắp thế giới, đặc biệt ở các nước Châu Á
[69] Trước đây, loãng xương thường gặp ở những phụ nữ da trắng sống ở vùng khí
hậu ôn đới, phụ nữ Châu Á, phụ nữ Mỹ gốc Phi có nguy cơ bị loãng xương thấp
hơn. Tuy nhiên hiện nay nhiều dự báo cho rằng phần lớn loãng xương tự phát sẽ
xảy ra ở khu vực Châu Á và những nước kém phát triển. vấn đề loãng xương đặc
biệt nghiêm trọng ở các khu vực nông thôn [69]. Tuy nhiên việc phát hiện sớm
loãng xương không phải việc dễ dàng bởi thiết bị đo loãng xương không phải là phổ
biến rộng rãi trong hầu hết các nước đang phát triển ở Châu Á, đặc biệt là ở cỏc
vựng nông thôn.
1.4.2. Tình hình loãng xương tại Việt Nam

một số loại thực phẩm giàu calci và chế độ luyện tập thể dục thể thao với mức ý nghĩa
p < 0,05. Tuy nhiên thì cũng như nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thị Hoài Châu,
nghiên cứu này cũng mới chỉ ra được tần suất sử dụng một số loại thực phẩm giàu calci
mà chưa mô tả được khẩu phần calci trung bình/ ngày của đối tượng.
Nghiên cứu năm 2011 của 2 tác giả Ninh Thị Nhung và Phạm Ngọc Khái là:
Xác định nguy cơ mắc bệnh loãng xương ở phụ nữ 40-65 tuổi qua đánh giá chỉ số

19
khối cơ thể và mức tiêu thụ thực phẩm cho kết quả là những phụ nữ có tần suất tiêu
thụ cỏ, tụm, tộp ở mức không thường xuyên thì nguy cơ loãng xương cao hơn phụ
nữ tiêu thụ cỏ, tụm, tộp ở mức thường xuyên (OR>1; p< 0,05). Tuy vậy, nghiên
cứu cũng chỉ đề cập đến mức tiêu thụ thực phẩm ở một số loại thực phẩm, chưa
đánh giá được khẩu phần calci của đối tượng trong 1 ngày.
Các yếu tố nguy cơ đã được đề cập trong các đề tài trên bao gồm các yếu tố
khó có thể thay đổi như: tuổi tác, chiều cao, BMI, thời gian mãn kinh, tuổi mãn
kinh, tiền sử gãy xương,… thì việc tìm hiểu các yếu tố nguy cơ có thể thay đổi được
như khẩu phần calci và vitamin D chưa được đề cập đến. Việc cần thiết là đưa ra
một bức tranh rộng hơn về mối liên quan của các yếu tố nguy cơ có thể thay đổi
được đối với bệnh loãng xương và kết quả của đề tài sẽ gợi ý cho việc xây dựng các
chương trình dự phòng bệnh trong cộng đồng có tính khả thi cao.
1.5. Hậu quả của loãng xƣơng.
1.5.1. Hậu quả đối với cá nhân người bệnh

Hình 1.3. Hình ảnh hậu quả gãy xƣơng do loãng xƣơng
Hậu quả lớn nhất của loãng xương là làm gia tăng nguy cơ gãy xương. Gãy
xương do loãng xương (gãy xương đùi; gãy xương sống; gãy xương cẳng tay) để
lại những đau đớn và hậu quả không kể xiết cho bệnh nhân như: tàn tật suốt đời;
chất lượng cuộc sống bị hạ thấp thậm chí có thể dẫn đến tử vong. Đối với những
người cao tuổi sống sót sau gãy xương do loãng xương thỡ chớ cú 1 người trong 3
người có thể sống mà không phụ thuộc vào người khác. Đối với những người đã bị

QCT); sinh hóa, chụp X – quang quy ước, siêu âm, sóng quang phổ cộng hưởng
từ…Mỗi phương pháp đều có ưu nhược điểm như sau:

21
Phương pháp sinh hóa
Nói chung chẩn đoán loãng xương dựa trên X - quang và kết quả đo khối
lượng xương được nhiều nhà khoa học sử dụng. Các xét nghiệm sinh húa, mỏu và
nước tiểu thường ít thay đổi và không đặc hiệu ở những người có loãng xương so
với những đối tượng bình thường. Những năm gần đây các nhà nghiên cứu đã đi sâu
phát hiện và tìm hiểu vai trò của những chất đánh dấu nhạy cảm và đặc hiệu cho
việc khám phá bệnh chuyển hóa xương.
Bảng 1.2. Một số chất đánh dấu sinh học của quá trình tạo xƣơng và hủy xƣơng
(theo P.Braillon và P.D. Delmas)
Tạo xƣơng
Hủy xƣơng
Huyết thanh
 Osteocalcine (Gla proteine osseuse)
 Phosphotase kiềm
 Các peptide của procollagene
Huyết thanh
 Phosphatase axit kháng axit tartric
(TRAP)
Nước tiểu
 Pyridinoline (Pyr) và
deoxypyridinoline (D-Pyr)
 Hydroxyproline
 Calci
 Glycosides hydroxylysine

Đây là phương pháp không xâm nhập, có thể lặp lại nhiều lần, có thể kết hợp


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status