Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y – DƯỢC
==========
TRẦN ĐỨC DŨNG
NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG CẬN THỊ VÀ
MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN Ở HỌC SINH
THPT THÀNH PHỐ BẮC GIANG
TỈNH BẮC GIANG NĂM 2010 Chuyên ngành: Y học dự phòng
Mã số: 60.72.73
[15], [32].
Trên Thế giới, cận thị học đường chiếm tỷ lệ cao ở các quốc gia, nhất là
ở Châu Á. Tỷ lệ cận thị ở một số nước như Singapore, Hồng Kông, Đài Loan,
tỷ lệ lên tới 80 - 90% ở tuổi 17 -18 [35], [38].
Ở Việt Nam, một số nghiên cứu của các tác giả những năm gần đây cho
thấy tỷ lệ cận thị ở học sinh lớp 10 tại Hà Nội (2006) là 59,6% [25], tại Thái
Nguyên (2008) tỷ lệ cận thị ở học sinh THPT là 26,1% [8], tại Thành phố Hồ
Chí Minh (2009) tỷ lệ cận thị ở học sinh lớp 10 là 35,4% [28]. Đến nay, cận
thị học đường chiếm tỷ lệ cao ở học sinh và ngày càng gia tăng theo từng cấp
học nhất là ở các thành phố, trở thành một vấn đề đáng lo ngại, ảnh hưởng tới
sức khoẻ cộng đồng, có thể ảnh hưởng trực tiếp tới sức khoẻ và sự phát triển
của trẻ em [37].
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
2
Các yếu tố nguy cơ dẫn đến cận thị học đường bao gồm thời gian nhìn
gần kéo dài như cường độ học tập cao, đọc truyện, chơi điện tử, kết hợp với
điều kiện vệ sinh học tập không đảm bảo như tư thế ngồi học, ánh sáng không
đảm bảo quy định, bàn ghế không hợp vệ sinh, kích thước lớp học, diện tích
lớp học không đúng tiêu chuẩn [12].
Cận thị có thể gây ảnh hưởng tới sức khoẻ của mắt cũng như các chi phí
cao về mặt kinh tế xã hội. Cận thị có thể dẫn tới mù loà do làm tăng nguy cơ
mắc các bệnh đe dọa đến thị lực như thoái hóa võng mạc [49], bong võng mạc
[48], glôcôm [46] và đục thuỷ tinh thể [31]. Theo ước tính của Tổ chức Y tế
Thế giới chi phí cho việc điều trị các bệnh mắt hiện nay trên toàn thế giới
hàng năm lên đến 28 tỷ đô la. Đây thực sự là một gánh nặng cho xã hội.
Mặc dù vậy, tại Bắc Giang trong 5 năm trở lại đây chưa có nghiên cứu,
khảo sát nào về cận thị học đường, để góp phần vào việc chăm sóc và bảo vệ
sức khoẻ của học sinh tỉnh Bắc Giang trong những năm tới, chúng tôi tiến
+ Đường kính ngang : 24,1 mm.
+ Đường kính trước sau : 23 - 24 mm Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
4
Trẻ sơ sinh: Đường kính trước sau: 16 - 17,5 mm.
* Giác mạc ngăn cách giữa môi trường không khí ở ngoài và môi trường
nội nhãn ở bên trong gồm có thuỷ dịch, thuỷ tinh thể, thuỷ tinh dịch [2].
Trong các môi trường trong suốt của mắt, giác mạc có công suất hội tụ
lớn nhất. Thuỷ tinh thể rất quan trọng trong quang học của nhãn cầu, không
phải vì lực khúc xạ cao mà chính vì sự thay đổi của lực khúc xạ. Hình 1.2.Thiết đồ bổ dọc nhãn cầu [22]
Chỉ số khúc xạ của các môi trường trong suốt của mắt, so với không khí:
- Không khí: Chỉ số khúc xạ = 1
- Giác mạc: Chỉ số khúc xạ = 1,3
- Thuỷ dịch: Chỉ số khúc xạ = 1,33
- Thể thuỷ tinh: Chỉ số khúc xạ = 1,43
- Thuỷ tinh dịch: Chỉ số khúc xạ = 1,33 [6], [11].
* Sự tạo ảnh trên võng mạc: Sự tạo ảnh trên võng mạc phụ thuộc các
yếu tố:
+ Độ dài trục nhãn cầu
+ Công suất hội tụ của các môi trường trong suốt của mắt
+ Chỉ số khúc xạ của các môi trường trong suốt của mắt
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
6
cho rằng hiện tượng tăng áp lực nội nhãn khi mắt phải điều tiết quá lâu trong
điều kiện khi nhìn gần có thể làm trục nhãn cầu dài ra vĩnh viễn. Giả thuyết
này đã đặt nền móng cho các thử nghiệm lâm sàng làm giảm các cố gắng điều
tiết có thể làm giảm tiến triển của cận thị. Dùng kính viễn thị để làm giảm cố
gắng điều tiết khi nhìn gần là cách đang được các nhà Nhãn khoa trên thế giới
nghiên cứu thử nghiệm [8].
Độ cứng và tính đàn hồi của củng mạc cũng là nguyên nhân gây gia tăng
độ dài trục nhãn cầu, làm cho mắt trở thành cận thị. Khi thiếu các chất dinh
dưỡng, đặc biệt là thiếu Vitamin A,Vitamin E,Vitamin C cũng làm cho độ
cứng của củng mạc suy giảm [43].
Bán kính độ cong giác mạc thường tăng lên trong dị tật giác mạc hình
nón, trong bệnh glôcôm bẩm sinh. Khi độ cong giác mạc tăng lên, công suất
hội tụ của giác mạc sẽ gia tăng, có mối liên quan giữa cận thị với bệnh
glôcôm [55].
Những rối loạn làm cho trục nhãn cầu dài ra, độ cong giác mạc tăng và
củng mạc giảm độ cứng sẽ làm cho mắt trở thành cận thị [36], [41]. Cùng với
những nguyên nhân trên, di truyền cũng là một nguyên nhân của cận thị, đặc
biệt là cận thị nặng [51].
* Phân loại cận thị
- Cận thị đơn thuần: Là cận thị do sự mất cân xứng giữa chiều dài trục
nhãn cầu và công suất hội tụ của mắt nhưng chiều dài trục nhãn cầu và công
suất hội tụ của mắt còn trong giới hạn bình thường, không có thoái hoá ở hắc
mạc và võng mạc. Cận thị đơn thuần có thể gặp là cận thị trục hoặc cận thị
khúc xạ [2], [7].
- Cận thị bệnh lý: Là cận thị mà chiều dài trục nhãn cầu và độ hội tụ của
mắt vượt quá giới hạn bình thường [1], [6].
Có thể gặp các loại cận thị bệnh lý như:
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
8
trong nhóm bong võng mạc mắc cận thị, trong khi chỉ có 34.41% số mắt trong
nhóm không bong võng mạc mắc cận thị. Những số liệu thu thập trên 3654
bệnh nhân tuổi từ 49 trở lên sống ở vùng Blue Mountain, Australia cho thấy
tỷ lệ bệnh võng mạc tăng từ 1% ở mắt phải có cận thị dưới -3,0 đi ốp lên tới
50% ở mắt phải có cận thị ≥ -9,0 đi ốp.
* Cận thị và bệnh glôcôm (tăng nhãn áp)
Mối liên quan chặt chẽ giữa cận thị và bệnh glôcôm cũng đã được phát
hiện trong nhiều nghiên cứu. Cận thị được xác định là một yếu tố nguy cơ
quan trọng đối với bệnh glôcôm góc mở và glôcôm nhãn áp bình thường.
Trong một nghiên cứu dựa trên cộng đồng ở Malmo, Thuỵ Điển, tác giả
Grodum báo cáo có sự tương quan giữa sự gia tăng tỷ lệ bệnh glôcôm và tỷ lệ
bệnh cận thị [55]. Tỷ lệ bệnh glôcôm là 1,5% trong nhóm bị cận thị trung bình
và nặng so với 0,6% trong nhóm viễn thị và 0,9% trong nhóm chính thị. Một
nghiên cứu khác tại Blue Mountain, Australia cho thấy những người bị cận thị
có nguy cơ bị glôcôm cao hơn người bình thường 2-3 lần [54].
* Cận thị và đục thuỷ tinh thể
Cận thị cũng là một yếu tố nguy cơ tiềm tàng đối với đục thủy tinh thể
tuổi già. Mối liên quan giữa cận thị và đục thuỷ tinh thể đã được củng cố bởi
một nghiên cứu cắt ngang gần đây trên 3654 người tuổi từ 49 đến 97 [43]. Kết
quả của nghiên cứu này cho thấy những mắt bị cận thị trước tuổi 20 có nguy
cơ bị đục thuỷ tinh thể dưới bao cực sau cao nhất. Nguy cơ bị đục thuỷ tinh
thể tăng kèm với sự tăng của mức độ cận thị.
* Chi phí về kinh tế xã hội
Những chi phí để điều chỉnh kính và phẫu thuật khúc xạ cũng là một
gánh nặng cho xã hội. Chi phí về y tế liên quan đến cận thị bao gồm chi phí
cho khám mắt định kỳ, chi phí cho điều chỉnh kính và sử dụng các sản phẩm
12 năm 2004 đã đưa ra khuyến cáo là tiến hành nghiên cứu tật khúc xạ học
đường trên phạm vi toàn quốc, áp dụng một phương pháp nghiên cứu chung
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
10
theo tiêu chuẩn quốc tế. Theo tổ chức y tế thế giới 75% nguyên nhân gây mù
trên toàn cầu là các bệnh có thể phòng tránh được. Cùng với bệnh đục thể
thủy tinh, bệnh mắt hột, bệnh mắt do sâu bọ, bệnh mắt trẻ em, nhược thị và tật
khúc xạ là những bệnh mắt được quan tâm ưu tiên hàng đầu. Tật khúc xạ có
thể được điều chỉnh bằng việc chỉnh kính thích hợp, còn người nhược thị hỗ
trợ bằng các thiết bị tăng cường thị lực. Việc điều chỉnh tật khúc xạ sẽ ngăn
ngừa suy giảm thị lực ở trẻ em và tránh cho các em những mặc cảm khi đến
trường bởi vì khả năng hòa nhập cộng đồng của trẻ em nhược thị tại các
trường học phổ thông thấp hơn so với các trường đặc biệt dành cho trẻ khiếm thị,
còn ở người lớn việc điều chỉnh tật khúc xạ thích hợp sẽ giúp cho họ dễ dàng
hoàn thành các công việc cũng như nâng cao kiến thức và kỹ năng nghề nghiệp.
1.3. Tình hình nghiên cứu cận thị học đƣờng
1.3.1. Nghiên cứu cận thị học đường trên thế giới
Việc nghiên cứu vấn đề cận thị trên học sinh chỉ được bắt đầu vào
khoảng các năm 70 của thế kỷ XIX. Trước đó, cận thị được coi là một bệnh di
truyền, tiến triển và ác tính nên đối với cận thị, các nhà nghiên cứu coi như
một bệnh rất khó phòng và chữa được [14].
Những kết quả đầu tiên ở công trình nghiên cứu của Hermann Coba
(1876) về cận thị tại trường học ở các thành phố của Cộng hoà Liên bang Đức
được công bố với tổng số 10 060 học sinh được khám cho thấy tỷ lệ cận thị tại
trường cấp I là 6,7%; trường cấp II là 19,7% và trường cấp III là 26,2% [14].
Tại Nga, năm 1870, kết quả nghiên cứu của Erisman cho thấy: Tỷ lệ cận
thị ở các trường trung học Saint Petersburg là 30,2% [14].
Những kết quả nghiên cứu này đã làm cho các nhà nhãn khoa, các nhà vệ
nhiều tác giả cho rằng vì các em đi học mới bị cận thị, danh từ “cận thị học
đường" ra đời từ đó [14].
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
12
Kết quả nghiên cứu tại nhiều nước trên thế giới, sự phân bố của cận thị
rất phức tạp và luôn biến đổi.
* Tình hình cận thị tại một số khu vực và một số nước trên thế giới:
- Tại Châu Âu: Lindstrom (1995) đã khảo sát tình hình cận thị và công
bố: Hiện nay ở Châu Âu cận thị chiếm tỷ lệ 25%, trong đó 90% từ 1 - 6D, 5%
từ 6 - 8D, 5% trên 8D [8].
Ở Thuỵ Điển, tỷ lệ cận thị được ước tính vào khoảng 50% trong số 1045
trẻ lứa tuổi từ 13 -18. Ở Copenhagen, Đan Mạch, tỷ lệ cận thị trong 147 học
sinh y khoa tuổi 21 - 41 là 50% [17].
- Tại Mỹ: Từ 1988 - 1990 Qin Wang và cộng sự tại Đại học Wisconsis
(Mỹ), khám 4 926 người tuổi từ 43 đến 84, thấy tỷ lệ cận thị là 26,2% [8].
Năm 1997, Morgas K.S, Kenemer. J.C, khám 14 075 trẻ em tuổi từ nhà
trẻ đến học sinh lớp 4, của 70 trường, trong 5 bang phía Tây Nam nước Mỹ,
thấy tỷ lệ cận thị là 4,5% [10].
- Tại Australia: Trong chương trình khám sàng lọc cho 1007 học sinh lứa
tuổi 6 - 10 ở Queensland, Australia, Các em được khám phát hiện bệnh mắt
và đo khúc xạ bằng soi bóng đồng tử có nhỏ thuốc liệt điều tiết. Tỷ lệ cận thị
phát hiện là 13% [54]. Kết quả ban đầu từ nghiên cứu dựa trên cộng đồng,
nghiên cứu Cận thị Sydney, cho thấy tỷ lệ cận thị ở học sinh lứa tuổi 6 -7 là
rất thấp 1,3%. Đây là một nghiên cứu có thiết kế công phu theo tiêu chuẩn
quốc tế.
- Tại các nước Châu Á: Một số nghiên cứu ở Châu Á chỉ ra rằng tỷ lệ
cận thị rất cao từ 40% đến năm 50% dân số và 80% trong sinh viên, đặc biệt ở
các nước Nhật Bản, Đài Loan, Trung Quốc, Singapore [35], [42], [55]. Tác
và cấp học:
+ Điều tra cấp quốc gia tại Đài Loan (1983): Tỷ lệ cận thị tăng dần theo
cấp học:
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
14
Tiểu học : 13 - 27%.
Trung học cơ sở : 28 - 69%.
Phổ thông trung học : 79 - 89% [25].
- Theo giới tính: Theo kết quả nghiên cứu của các tác giả Mông cổ tỷ lệ
cận thị ở học sinh nữ giới cao hơn nam giới 8,3% [47]. Tác giả Bettina Kinge
nghiên cứu tại Na uy năm 2000 tỷ lệ cận ở nữ là 52%, nam là 48% [40]. Tác
giả Desmond Cheng nghiên cứu tại Trung Quốc và Canada (2007) tỷ lệ cận
nặng ở nữ 35%, nam 25% [32].
Ngày nay, việc nghiên cứu, điều tra về cận thị học đường được cả thế
giới quan tâm, đặc biệt vì sự gia tăng của cận thị học đường. Ở khu vực Đông
Nam Á, Tổ chức y tế thế giới phối hợp với Trường đại học Junten Do (Nhật
Bản) tổ chức 3 Hội nghị liên Quốc gia về phòng chống mù loà. Hội nghị lần
thứ 3 được tổ chức từ ngày 6 đến 10 tháng 03 năm 2000 tại Hà Nội với chủ đề
chính là tật khúc xạ, một vấn đề có tỷ lệ người mắc bệnh cao, đặc biệt ở lứa
tuổi thanh thiếu niên, nhưng hiện nay vẫn chưa được quan tâm đúng mức. Tại
Hội nghị này, các đại biểu đã được nghe nhiều báo cáo về tật khúc xạ, đặc
biệt là cận thị học đường, đã đi sâu thảo luận vấn đề cận thị học đường để đề
ra một tiêu chuẩn chẩn đoán, điều trị và phòng bệnh thống nhất [8].
1.3.2. Nghiên cứu cận thị học đường ở Việt Nam
Trước những năm sáu mươi của thế kỷ XX, vấn đề cận thị ở các trường
học chưa được nghiên cứu. Trong thời Pháp thuộc, số trường học rất ít và việc
nghiên cứu về vệ sinh trường học cũng không được để ý đến. Từ khi hoà bình
lập lại, dưới chế độ ta, số trường học và học sinh ngày càng tăng lên, Đảng và
Đoàn Cao Minh [10]
Hà Nội
1975
0,19
1,61
8,7
Trung tâm Mắt Hà Nội [15]
Hà Nội
1994
1,57
4,75
10,34
Trung tâm Mắt [28]
TP.Hồ Chí Minh
1994
9,75
18,4
Với kết quả nghiên cứu trên, tác giả đã có nhận xét: Tỷ lệ cận thị tăng
dần theo cấp học.
- Từ 1995 đến nay: Đã có rất nhiều tác giả nghiên cứu về cận thị học
đường, trong các nghiên cứu đều đã quan tâm đến vấn đề tỷ lệ cận thị tăng
dần, tăng theo tuổi, theo cấp học. Vấn đề cận thị với các yếu tố nguy cơ cũng
đã được đặt ra và quan tâm đặc biệt.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
+ Thừa Thiên Huế (1995): Tỷ lệ cận thị chung tại cộng đồng là 3,61% [16].
+ Điều tra của Hà Huy Tiến, Nguyễn Thị Nhung, Bạch Quốc Nam, Trịnh
Bích Ngọc (1999), tỷ lệ cận thị chung của học sinh nội thành Hà Nội là
31,95%, ngoại thành là 11,75% [19].
+ Nghiên cứu của Lê Thị Song Hương (2004) tại nội và ngoại thành Hải
Phòng cho thấy:
Tỷ lệ mắc tật khúc xạ của học sinh ở ngoại thành:
Tiểu học : 6,9%; THCS: 3,0%
Tỷ lệ mắc tật khúc xạ của học sinh ở nội thành:
Tiểu học : 13,3%; THCS: 43,3%
Kết quả điều tra tại các tỉnh thành trên cho thấy: Tỷ lệ cận thị ở học sinh
Hà Nội và ở nội thành Hải Phòng cao hơn hẳn so với Ninh Bình và Nam
Định. Tỷ lệ cận thị tăng dần theo cấp học, cận thị ở học sinh THPT cao gấp 2
đến 3 lần cấp tiểu học [8].
+ Nghiên cứu của Phan Văn Năng và Hoàng Ngọc Chương (2008) tại
tỉnh Thừa Thiên Huế: tỷ lệ cận thị chung của học sinh cả 3 cấp là 6,6%, tăng
dần theo cấp học. Trong đó:
Tiểu học : 4,7%.
THCS : 6,7%
THPT : 12,6%. [16]
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
17
+ Nghiên cứu của Trần Hải Yến và cộng sự (2009) cho thấy tỷ lệ cận thị
tăng dần ở học sinh đầu cấp tại Thành Phố Hồ Chí Minh:
Lớp 1: 4,3%
Lớp 6: 28,7%
Lớp 10: 35,4% [28]
Hội nghị toàn quốc tháng 12 năm 2004 tổ chức tại Ninh Thuận với
* Vai trò của các yếu tố môi trường và cận thị
- Vai trò của học tập và sử dụng mắt nhìn ở khoảng cách gần kéo dài:
Cường độ học tập cao, áp lực học tập ngày càng lớn làm cho mắt trẻ phải
làm việc quá nhiều, thời gian hoạt động ngoài trời và nghỉ ngơi thư giãn cho
mắt quá ít. Saw và CS thông báo tỷ lệ cận 2,0% ở tuổi 7-8 và gia tăng đến
22,0% ở tuổi 14-15. Tỷ lệ cận thị gia tăng, liên quan đến áp lực của hệ thống
giáo dục cùng những đòi hỏi cao đối với học sinh trong học tập ở Singapore
[45], [52].
- Các yếu tố khác:
+ Độ chiếu sáng tại lớp học không đạt tiêu chuẩn vệ sinh cho phép: hiện
nay các tiêu chuẩn về vệ sinh trường học đã được ban hành, nếu làm đúng tiêu
chuẩn thì sẽ không ảnh hưởng đến sức khỏe của học sinh. Khảo sát về chiếu
sáng học đường tại 27 trường học ở thành phố Hồ Chí Minh do nhóm nghiên
cứu ở trường Đại học Bách khoa, Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh
thực hiện. Kết quả về chiếu sáng học đường nếu lấy chuẩn độ chiếu sáng thấp
nhất là 200 lux thì chỉ có 37,5% trong tổng số 50 phòng học tại 27 trường này
đạt yêu cầu về độ chiếu sáng trên bàn học sinh. Theo nhóm khảo sát, nếu độ
chiếu sáng trong phòng đạt từ 300 lux trở lên sẽ đảm bảo độ rõ nét tốt hơn khi
nhìn đọc, đặc biệt là trong môi trường thiếu ánh sáng tự nhiên.
+ Bàn ghế học tại lớp cũng như ở nhà không đạt yêu cầu: còn gặp nhiều
hiện tượng bàn thấp ghế cao hoặc bàn cao ghế thấp không phù hợp với tiêu
chuẩn vệ sinh học đường. Bàn ghế ngồi học không tương thích với kích thước
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
19
của cơ thể sẽ dẫn đến các bệnh: ngực lép, vẹo cột sống, gù lưng, cận thị Tư
thế của con người có ảnh hưởng nhiều đến hoạt động các cơ quan trong cơ
thể. Trong hoạt động, tư thế ngồi chiếm phần lớn thời gian, ở tư thế này cơ
thể phải có tính ổn định cao, cơ bắp ít phải cố gắng. Con người sẽ chóng mệt
tuy nhiên công tác triển khai các chương trình chăm sóc sức khoẻ cho học
sinh vẫn chưa đạt hiệu quả.
* Trường THPT Chuyên tỉnh Bắc Giang
Trường được thành lập tháng 8 năm 1991 trên cơ sở các lớp chuyên
Toán, tiếng Nga, Vật lý tách ra từ trường THPT Ngô Sĩ Liên, Hàn Thuyên
tỉnh Hà Bắc. Khi thành lập trường mang tên: Trường THPT năng khiếu Hà
Bắc, năm 1997 đổi tên là trường THPT năng khiếu Ngô Sĩ Liên và từ tháng
02/2004 trường chính thức mang tên là trường THPT Chuyên Bắc Giang.
Trải qua 18 năm xây dựng và trưởng thành, trường THPT Chuyên Bắc
Giang luôn hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chính trị được giao, là trường trọng
điểm chất lượng giáo dục toàn diện cao nhất tỉnh, có nhiều đóng góp quan
trọng trong việc phát hiện, đào tạo và bồi dưỡng nhân tài, tạo nguồn nhân lực
chất lượng cao cho quê hương, đất nước.
Hiện trường có tổng số 94 cán bộ, trong đó có 04 cán bộ quản lý, 80 giáo
viên, 10 cán bộ hành chính. Đội ngũ cán bộ, giáo viên có phẩm chất đạo đức
tốt, có năng lực, trách nhiệm có tinh thần đoàn kết cao, luôn hoàn thành tốt
nhiệm vụ được giao.
Tổng số lớp là 27, với 772 học sinh, khối 10 là 270 học sinh, khối 11:
245 học sinh và khối 12: 275 học sinh, có 01 phòng y tế và 01 cán bộ y tế
trường học [26].
* Trường THPT Ngô Sỹ Liên tỉnh Bắc Giang
Trường THPT Ngô Sỹ Liên được thành lập tháng 02/1946. Từ đó đến
nay, nhà trường liên tục phát triển cả về số lượng và chất lượng đáp ứng yêu
cầu học tập của con em nhân dân thành phố và các vùng lân cận. Trong đợt
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
21
tổng kết phong trào thi đua giai đoạn 2006-2010 trường THPT Ngô Sỹ Liên là
đơn vị dẫn đầu khối THPT.
tế và 01 cán bộ y tế học đường. Trong phong trào thi đua giai đoạn 2006-2010
trường là đơn vị dẫn đầu khối THPT.
* Trường THPT Chuyên tỉnh Bắc Giang: được thành lập tháng 8 năm
1991, trường có 94 cán bộ, giáo viên, với 772 học sinh, có 01 phòng y tế và
01 cán bộ y tế học đường, là trường trọng điểm chất lượng giáo dục toàn diện
cao nhất tỉnh.
2.2.2. Thời gian nghiên cứu
Từ tháng 10/2009 đến tháng 9/2010.
2.3. Phƣơng pháp nghiên cứu và chọn mẫu
2.3.1. Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu mô tả, thiết kế cắt ngang.
2.3.2. Chọn mẫu và cỡ mẫu
* Chọn cỡ mẫu điều tra cho nghiên cứu mô tả, tính cỡ mẫu như sau:
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
23
n =
2
1 /2
2
pq
Z
e
Trong đó:
24
a. Các thông tin chung
- Tổng số học sinh theo các trường nghiên cứu.
- Tỷ lệ tuổi, giới học sinh diện nghiên cứu.
- Nghề nghiệp hiện tại của bố, mẹ học sinh chia theo các nhóm: Công
chức, công nhân, buôn bán, nội trợ, làm ruộng, khác.
b. Các chỉ số về thị lực và cận thị của học sinh
- Tỷ lệ giảm thị lực của học sinh.
- Nguyên nhân gây giảm thị lực.
- Tỷ lệ học sinh bị cận thị chung, tỷ lệ cận thị đã đeo kính, tỷ lệ cận thị
mới phát hiện.
- Tỷ lệ cận thị theo khối lớp học.
- Tỷ lệ bị cận thị theo giới.
- Mức độ cận thị theo khối lớp.
c. Các chỉ số về các yếu tố nguy cơ gây cận thị
- Diện tích lớp học: Diện tích phòng học trung bình từ 1,10m
2
đến
1,25m
2
cho một học sinh.
- Kích thước phòng học: chiều dài không quá 8,5m, chiều rộng không
quá 6,5m, chiều cao 3,6m.
- Bảng viết: đo khoảng cách từ bàn 1 và bàn cuối đến bảng. Bàn đầu đặt
cách bảng từ 170cm đến 200cm. Bàn cuối cùng cách bảng không quá 800cm.
Diện tích cửa
- Hệ số chiếu sáng =
Diện tích nền nhà
Hệ số chiếu sáng tự nhiên không dưới 0,2