ĐẶT VẤN ĐỀ
Nạo phá thai (NPT) là thủ thuật y học để kết thúc thai nghén bằng cách
loại bỏ hay lấy phôi, thai nhi khỏi tử cung trước khi thai nhi có khả năng sống
độc lập ở môi trường ngoài tử cung [1].
Trên thế giới mỗi năm có khoảng 210 triệu phụ nữ mang thai, khoảng
80 triệu trường hợp mang thai ngoài ý muốn và phần lớn trong số này kết thúc
thai nghén bằng việc NPT. Số trường hợp NPT không an toàn hàng năm lên
tới 21,6 triệu phụ nữ, trong đó khoảng 47.000 người chết vì biến chứng [2].
Việt Nam là 1 trong những quốc gia có tỷ lệ NPT cao nhất thế giới.
NPT chiếm tới 40% tổng số trường hợp mang thai hàng năm, với tỷ lệ
83/1.000 phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ [3]. Theo số liệu nghiên cứu, trung bình
trong quãng thời gian sinh đẻ của 1 người phụ nữ có tới 2,5 lần NPT [4].
Chiến lược chăm sóc sức khỏe sinh sản(CSSKSS) 2001-2010 tại Việt
Nam đã cho thấy có sự gia tăng tỷ lệ sử dụng các biện pháp tránh thai(BPTT)
từ 72,7%(2000) lên 78%(2006), đáng chú ý là tăng tỷ lệ áp dụng BPTT hiện
đại(67,1%). Tuy nhiên, theo Tổng cục thống kê và Uỷ ban quốc gia dân số,
gia đình và trẻ em điều tra biến động dân số 2001-2006, tỷ lệ NPT trên cả
nước lại giảm đi không đáng kể và vẫn ở mức cao trên thế giới, từ
1,3%(2001) xuống 1,1%(2006) [5]. Trong khi đó, tai biến trong và sau khi
NPT đã và đang ảnh hưởng lớn đến sức khoẻ thể chất cũng như tinh thần cuả
người phụ nữ. Theo 1 nghiên cứu tại Nam Định trong 2 năm(1999-2001) với
2500 phụ nữ NPT và 2500 phụ nữ nhóm chứng cho thấy 20,3% tổng số phụ
nữ NPT chịu ảnh hưởng của tai biến [6].
Tại Việt Nam, một số nghiên cứu đã cho thấy các yếu tố như tuổi, số
con, trình độ học vấn, nghề nghiệp, kinh tế thiếu thốn, sử dụng biện pháp
tránh thai không đúng làm tăng nguy cơ NHT, [7], [8], [9], [10]. Sự thiếu hiểu
1
biết về NPT và hậu quả của NPT, không xem chương trình kế hoạch hoá gia
đình và thông tin BPTT trên truyền hình là yếu tố tăng tỷ lệ NPT [8], [11].
Trên thực tế, những nghiên cứu trên ít đề cập đến kiến thức, thái độ, hành vi
và những yếu tố liên quan đến chính nó của người phụ nữ NPT, đặc biệt là
tỉnh, huyện áp dụng phá thai từ tuần thứ 6 đến tuần thứ 12. Tuyến xã chỉ phá
thai đến hết 6 tuần (phá thai trong giai đoạn từ 36 đến 42 ngày).
- Phá thai bằng thuốc: là phương pháp chấm dứt thai nghén bằng cách
sử dụng thuốc Mifepristone và Misoprostol gây sẩy thai đối với thai đến hết 7
tuần (49 ngày) kể từ ngày đầu tiên của kỳ kinh cuối cùng. Khách hàng uống 1
viên Mifepristone 200 mg, sau đó 48 giờ uống tiếp 400µg Misoprostol. Tuyến
tỉnh, trung ương được áp dụng phương pháp này và người áp dụng phương
pháp này cần ở gần cơ sở y tế (khoảng cách từ nơi ở đến cơ sở y tế thực hiện
không quá 30 phút).
- Phá thai bằng phương pháp nong và nạo: là thủ thuật nong cổ tử
cung bằng dụng cụ rồi gắp thai, rau và nạo sạch buồng tử cung. Tuyến huyện,
tỉnh/thành phố và tuyến trung ương được áp dụng phương pháp này, với tuổi
thai từ 8 đến 12 tuần. Tại Trung tâm tư vấn SKSS- KHHGĐ, phương pháp
này không còn được sử dụng, 100% thai nghén từ 5- 12 tuần được đình chỉ
bằng phương pháp hút chân không. Tuy nhiên, phương pháp này vẫn còn áp
dụng ở 1 số tuyến tỉnh và tuyến huyện.
3
1.3. Tai biến NPT
- Là những biến cố về sức khoẻ xảy ra trong và sau khi NPT, trực tiếp
do NPT gây ra.
- NPT có thể dẫn đến các tai biến như thủng tử cung, rách bàng quang,
thủng ruột, nhiễm trùng, rong kinh/rong huyết, thậm chí là tử vong mẹ. Hậu
quả lâu dài của NPT có thể gây dính buồng tử cung, làm hở eo tử cung, viêm
vùng tiểu khung, tắc ống dẫn trứng dẫn đến chửa ngoài dạ con hoặc vô sinh.
NPT nhiều lần có thể gây rau tiền đạo trong lần mang thai sau, sẹo thủng tử
cung có thể gây vỡ tử cung trong chuyển dạ nếu không được phát hiện và xử
trí kịp thời.
- Thống kê của điều tra nhân khẩu học và sức khoẻ sinh sản 1997 ước
tính có 32% phụ nữ NPT cho biết là sức khoẻ của họ bị ảnh hưởng sau NPT,
còn trong điều tra y tế quốc gia năm 2001- 2002 chỉ ra dấu hiệu bất thường 1
* Cho bú vô kinh :
Biện pháp này đạt hiều quả đến 98% nếu như đáp ứng đủ các điều kiện :
+ Chưa có kinh trở lại
+ Trẻ dưới 6 tháng tuổi
+ Người phụ nữ nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn , cho bú thường
xuyên theo nhu cầu của trẻ
* Đánh giá chất nhầy cổ tử cung (CTC) :
Thời kỳ phóng noãn và có thể thụ thai thì mật độ, đặc tính chất nhầy
CTC thay đổi, theo dõi sự thay đổi này giúp xác định được ngày phóng noãn
để tránh giao hợp. Tuy nhiên tỷ lệ tránh thai của biện pháp này rất thấp.
5
* Theo dõi thân nhiệt cơ thể :
Dựa trên sự thay đổi thân nhiệt vào ngày phóng noãn nên phải theo dõi
nhiệt độ cơ thể hàng ngày để phát hiện ngày thay đổi nhiệt độ cở thể và tránh
giao hợp vào ngày đó. Hiệu quả tránh thai của biện pháp này cũng rất thấp.
1.4.2. BPTT hiện đại :
Là những biện pháp có sử dụng các dụng cụ, thuốc hay can thiệp thủ thuật
như DCTC, thuốc uống, thuốc tiêm, que cấy tránh thai, BCS/màng ngăn âm
đạo, mũ CTC, thuốc diệt tinh trùng, đình sản/triệt sản.
* DCTC :
- Là loại phương tiện tránh thai được đặt trong buồng tử cung của
người phụ nữ. Các loại DCTC phổ biến hiện nay được làm bằng chất
dẻo, một số loại xung quanh được quấn đồng(Tcu 380A), một số loại
còn chứa thuốc nội tiết tránh thai, nội tiết này được phóng dần trong tử
cung để tăng hiệu quả tránh thai.
- Cơ chế:
+ Làm thay đổi môi trường niêm mạc buồng tử cung, không
thuận lợi cho trứng đã thụ tinh.
+ Cản trở tinh trùng gặp trứng làm giảm khả năng thụ tinh.
* Thuốc viên tránh thai (TVTT) :
vực trên thế giới, tại tất cả các nước có luật pháp cho phép hay không cho
phép NPT. Theo tổ chức y tế thế giới (WHO), hàng năm có 210 triệu phụ nữ
mang thai, khoảng 80 triệu trường hợp mang thai ngoài ý muốn và phần lớn
trong số đó kết thúc thai nghén bằng việc NPT. Số trường hợp NPT không an
toàn hàng năm chiếm 21,6 triệu phụ nữ, trong đó có 47.000 người chết vì biến
7
chứng. Khoảng 13% tử vong mẹ trên toàn thế giới mỗi năm là do tai biến của
NPT [2]. Nguyên nhân hàng đầu là do xuất huyết, nhiễm trùng, nhiễm độc và
ảnh hưởng sức khoẻ lâu dài do NPT không an toàn gây ra là đau bụng mạn
tính, đau viêm vùng chậu, tắc ống dẫn trứng và vô sinh [15].
Tỷ lệ mắc và tỷ lệ tử vong do NPT không an toàn, năm 2008 [2]
Tỷ lệ NPT
không an toàn
Tỷ lệ tử vong liên quan
NPT không an toàn
Số lượng
Tỷ lệ /
1000 phụ
nữ 15-49
tuổi
Số mẹ tử
vong
Tỷ lệ tử
vong/
100.00
0 trẻ đẻ
sống
% Tử
vong mẹ
Thế giới 21.600.000 14 47.000 30 13
Nam Mỹ 2.990.000 32 700 10 13
Châu Âu 360.000 2 90 1 8
Đông Âu 360.000 5 90 3 11
Châu Đại Dương 18.000 8 100 30 12
8
Hình 1. Xu hướng nạo phá thai không an toàn 1990-2008
Hình 2. Xu hướng tỷ lệ tử vong NPT không an toàn/100.000 trẻ đẻ sống
1990-2008
9
NPT không an toàn /1000 PN 15 -49
Tỷ lệ chết/ 100.000 trẻ đẻ sống
Hình 3. Xu hướng tỷ lệ tử vong/ 100.000 NPT không an toàn 1990-2008
3. Tình hình NPT tại Việt Nam
Tổ chức y tế thế giới đánh giá Việt Nam là nước có tỷ lệ NPT cao nhất
châu Á và là 1 trong 3 nước có tỷ lệ NHT cao nhất thế giới. NPT chiếm 40%
tổng số trường hợp mang thai hàng năm, trong số 1000 phụ nữ tuổi sinh đẻ thì
có tới 83 người NPT [3]. Theo báo cáo của Daniel Goodkind năm 1994, tổng
tỷ suất phá thai là 2,5- nghĩa là mỗi phụ nữ Việt Nam đã phải trải qua 2,5 phá
thai trong cả cuộc đời sinh đẻ của mình [4]. Kết quả điều tra y tế quốc gia
2001- 2002 cho thấy gần 12% phụ nữ đang có chồng đã từng NPT trong 5
năm qua.
Tỷ lệ áp dụng các BPTT ngày càng tăng, từ 72,7% năm 2000 lên 78%
năm 2006, đặc biệt là các BPTT hiện đại (67,1%)[5]. Trong khi đó theo Tổng
10
Tỷ lệ chết/ 100.000 NPT không an toàn
cục thống kê và Uỷ ban quốc gia dân số, gia đình và trẻ em điều tra biến động
dân số 2001-2006, tỷ lệ NPT trên cả nước lại giảm đi không đáng kể và vẫn
còn ở mức cao so với các nước trên thế giới, từ 1,3% (2001) xuống 1,1%
(2006) [5]. Tuy nhiên, tai biến trong và sau khi NPT đang ảnh hưỏng lớn đến
sức khoẻ thể chất cũng như sức khoẻ tinh thần của người phụ nữ Việt Nam.
có trình độ học vấn cao [3]. Số liệu của nghiên cứu cấp bộ năm 2003 cho
thấy, ở nhóm cao đẳng/đại học tỷ lệ NPT là 32,1% cao gấp hơn 6 lần ở nhóm
đối tượng có trình độ văn hoá tiểu học [10]. Câu hỏi đặt ra liệu đây có phải là
xu hướng NPT ở các nước đang phát triển, những người có trình độ học vấn
cao thì tỷ lệ NHT cao.
Tại Việt Nam, tuổi của phụ nữ NPT đang là vấn đề cần được quan tâm
bởi nhóm tuổi vị thành niên- thanh niên có tỷ lệ NPT khá cao. NPT ở tuổi vị
thanh niên- thanh niên làm tăng nguy cơ vô sinh, và ảnh hưởng mạnh mẽ đến
những lần thai kỳ về sau. 36,8% là tỷ lệ NPT trong tổng số NPT/hút điều hoà
kinh nguyệt, cao hơn hẳn so với 2 nhóm tuổi từ 25- 34 là 29% và nhóm tuổi
từ 35- 49 là 29,1% [3]. Theo nghiên cứu của Trần Thị Phương Mai năm 2002,
tỷ lệ NPT trong nhóm tuổi 15- 24 chiếm 41%, trong khi đó ở nhóm tuổi từ 25-
30 chỉ có 25,6% [10].
4. Một số công trình nghiên cứu về kiến thức, thái độ, hành vi về NPT
Đã có nhiều nghiên cứu trên thế giới cũng như tại Việt Nam về kiến
thức, thái độ, hành vi NPT được tiến hành. Kết quả của mỗi nghiên cứu phụ
thuộc vào thiết kế nghiên cứu và đặc trưng khác nhau của ĐTNC.
4.1. Kiến thức về NPT
Các nghiên cứu đã tìm hiểu các kiến thức về NPT như các ảnh hưởng
của NPT, tuổi thai có thể NPT an toàn, lý do NPT, phương pháp NPT, địa
điểm NPT. Một nghiên cứu trên 210 phụ nữ đến NPT tại bệnh viện Colombo
cho thấy 96% trong số họ không biết các ảnh hưởng của NPT [17]. 80%
ĐTNC không biết như thế nào là NPT an toàn và cần phải đến cơ sở y tế
12
trong vòng 12 tuần đầu nếu muốn thực hiện NPT là kết quả nghiên cứu tại
MoZambic trên 103 phụ nữ đến NHT [18]. Nghiên cứu kiến thức NPT tại 1
vùng nông thôn thuộc Ấn Độ với 150 phụ nữ tuổi từ 15- 45 cho thấy hầu hết
ĐTNC có kiến thức khá tốt về NPT. Về khái niệm NPT, có 38,33% ở mức rất
tốt, 15% ở mức khá, 44,17% ở mức trung bình và 2,5% ở mức kém. Đối với
kiến thức về những lý do có thể NPT, có 15% đạt mức tốt, 24,17% đạt mức
kết quả là 68,2% đã được nghe nói về BCS, trong đó 33,5% biết rằng BCS chỉ
được sử dụng 1 lần, 73% không biết thời điểm dùng BCS, 92,2% không biết
sử dụng BCS như thế nào [21].
Nghiên cứu tại Nam Định cho thấy chỉ có 0,6% phụ nữ không biết bất
kỳ 1 BPTT nào, có đến 99,4% ĐTNC có thể kể được ít nhất 1 BPTT. Trong
đó, BPTT được nhiều người biết đến nhất là đặt vòng (95,7%), BCS (63,9%),
Thuốc tránh thai uống (50,7%) [6]. Tại Tiền Giang, hai biện pháp tránh thai
hiện đại được đa số đối tượng phỏng vấn biết là BCS(86,7%) và thuốc uống
tránh thai (84,8%). Các BPTT hiện đại còn lại, tỷ lệ người biết không nhiều,
thậm chí có loại rất thấp như thuốc tránh thai uống khẩn cấp (0,8%) [20].
4.2. Thái độ về NPT
Các nghiên cứu cũng cho thấy rằng các ĐTNC bày tỏ thái độ rất khác
nhau trước những quan điểm hay tình huống liên quan tới vấn đề NPT. Đặc biệt
thái độ của ĐTNC phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố văn hoá, xã hội và tôn giáo.
Năm 1995, tại miền nam Brazil, 1456 phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ đã
cho ý kiến về NPT: có 30% ĐTNC tán thành việc chấp nhận NPT trong bất
cứ tình huống nào, 53% đồng ý được phép NPT vì lý do tài chính, 17% đồng
ý là việc NPT được chấp nhận có thể giảm thiểu các trường hợp NPT “ chui”,
giảm tỷ lệ bệnh tật và tử vong ở ngưòi mẹ. Trong những phụ nữ không đồng
14
tình với việc chấp nhận được phép NPT, 26% cho rằng NPT không phải là
biện pháp để KHHGĐ, 20% coi đó như tội ác [22].
Tại Cộng hoà Séc năm 1998, có 862 nam và 857 nữ trên 15 tuổi trả lời
nghiên cứu thái độ đối với NPT cho thấy, 6,1% nữ và 6,8% nam trên 60 tuổi
và 5,4% nữ, 5,2% nam lứa tuổi 15- 17 cho rằng NPT là không được phép. Có
7% nam và 7,2% nữ tín đồ Thiên chúa giáo không bày tỏ thái độ trong phỏng
vấn này, nhưng lại có tới 35,5% nam và 31,4% nữ nghĩ rằng có thể NHT vì lý
do sức khoẻ trong khi có 12,3% nam và 13,6% nữ không theo tôn giáo đồng ý
với ý kiến đó [23].
4.3. Hành vi về NPT
hướng đến sức khoẻ thể chất và tinh thần còn ít được đề cập đến.
Một nghiên cứu tại 27 quốc gia đã đưa ra kết quả về những lý do dẫn
đến NPT là chưa muốn có con vào thời điểm đó 25,5%, không muốn có con
thêm 7,9%, ảnh hưởng đến học tập và công tác chiếm 1,8%, chồng không
muốn có thêm con là 14,1%, nguy hiểm đến sức khoẻ mẹ 2,8%, sức khoẻ con
3,3% [24]. Nghiên cứu tại Nam Định cho kết quả là 62,2% ĐTNC đến NPT
với lý do không muốn đẻ nhiều, đẻ dày, 15% không muốn vi phạm chính sách
2 con, 4,5% chưa muốn có con vào thời điểm đó, lý do kinh tế khó khăn
chiếm 2,7% và do sức khoẻ yếu chiếm 1,3% [6].
16
4.4. Các yếu tố liên quan đến kiến thức, thái độ, hành vi NPT
Nhiều nghiên cứu cho thấy kiến thức của ĐTNC có liên quan tới các
đặc trưng nhân khẩu học như tuổi, trình độ học vấn, nơi sống, nghề nghiệp…
ngoài ra còn tìm thấy liên quan rất chặt chẽ giữa việc trao đổi thông tin mang
nội dung về NPT với kiến thức NPT.
Nghiên cứu tại Ấn Độ cho thấy mức độ kiến thức của ĐTNC về NPT
có liên quan chặt chẽ, có ý nghĩa thống kê với tuổi (p<0,01), trình độ học vấn
(p=0,05), nghề nghiệp (p=0,01) [19].
Các nghiên cứu về tình hình NPT trước đây cũng cho thấy có một số
yếu tố liên quan đến hành vi NPT là kiến thức về NPT, biện pháp tránh thai
đang sử dụng, tuổi, số con, trình độ học vấn và nghề nghiệp. Nghiên cứu tại
Campuchia cho kết quả là kiến thức về BPTT, sử dụng BPTT và NPT liên
quan có ý nghĩa thống kê với 5 yếu tố : giới, tuổi, trình độ học vấn, số con,
nơi cư trú [21].
Kiến thức của phụ nữ về NPT chính là yếu tố ảnh hưởng quan trọng tới
thực hành NPT, một số nghiên cứu chỉ ra rằng thiếu hiểu biết về NPT chính là
nguyên nhân dẫn đến mang thai ngoài ý muốn và phải kết thúc bằng việc
NPT. Nghiên cứu trên 87 phụ nữ NPT và 81 phụ nữ chứng tại thành phố Hồ
Chí Minh cho thấy không biết gì về các tai biến, tác hại của NPT là yếu tố
nguy cơ dẫn đến NPT (OR= 10,26) [8].
thị, trình độ càng cao thì tỷ lệ NPT càng cao. Theo kết quả điều tra nhân khẩu
học năm 1994, nhóm đối tượng NPT có 84,7% mù chữ và học vấn dưới cấp 2;
15,3% là tỷ lệ NPT của nhóm có học vấn từ cấp 3 trở lên. Cũng theo Trần Thị
Phương Mai và cộng sự năm 2002, nhóm đối tượng có trình độ học vấn từ cấp
18
3 trở lên NPT chiếm 72% cao hơn rất nhiều so với nhóm có trình độ học vấn
dưới cấp 2 [10].
Trên thế giới cũng như tại Việt Nam, chương trình dân số và KHHGĐ
đã có nhiều hoạt động truyền thông với nhiều hình thức đa dạng khác nhau.
Các môn học sức khoẻ sinh sản đã được đưa vào trường học các cấp, các câu
lạc bộ phụ nữ tuyên truyền giáo dục sức khoẻ sinh sản đã ngày càng phát huy
hiệu quả. NPT và các BPTT là nội dung truyền thông được phổ biến trên rất
nhiều kênh khác nhau bao gồm cả thông tin đại chúng và truyền thông trực
tiếp. Nghiên cứu tại Kenya về thông tin, giáo dục, truyền thông cho kết quả
75% nhận được thông tin CSSK từ các phương tiện thông tin đại chúng, có
27% nam và 33% nữ không hề thảo luận với bạn đời/bạn tình về SKSS trong
vòng 1 năm qua [25]. Còn tại Thành phố Hồ Chí Minh, nghiên cứu của
Huỳnh Nguyễn Khánh Trang năm 2004 cho thấy, 54% trong số những người
NPT chưa bao giờ thảo luận với người khác về KHHGĐ, chỉ có 21,4% có
thảo luận với chồng/bạn tình. Nghiên cứu cũng cho kết quả rằng không xem
chương trình liên quan đến KHHGĐ trên TV là yếu tố nguy cơ của NPT [8].
19
CHƯƠNG 2
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Đối tượng nghiên cứu
Phụ nữ chưa có con đến phá thai dưới 12 tuần tại Trung tâm tư vấn
SKSS- KHHGĐ, BVPSTW từ 01/04/2013 đến 31/08/2013.
2.1.1. Tiêu chuẩn lựa chọn đối tượng nghiên cứu
- Phụ nữ chưa có con đến phá thai tại Trung tâm tư vấn SKSS-
KHHGĐ, BVPSTW từ 01/04/2013 đến 31/08/2013.
2.2.2. Cỡ mẫu và kỹ thuật chọn mẫu
* Mẫu định lượng
- Cỡ mẫu cho nghiên cứu định lượng được tính theo công thức:
( )
2
2
2/1
1
d
pp
Zn
−
=
−
α
n: Là cỡ mẫu cần điều tra
Z: Hệ số tin cậy. Với độ tin cậy 95% thì giá trị của Z= 1,96.
p: Là tỷ lệ ĐTNC có kiến thức đúng về NHT, do chưa tham khảo được tỷ lệ
phù hợp trong nghiên cứu tương tự nên chọ p= 0,5.
d = 0,05.
Theo công thức ta có n= 384.
21
- Chọn mẫu định lượng: Chọn tất cả các ĐTNC có đủ tiêu chuẩn tại
Trung tâm tư vấn SKSS- KHHGĐ, Bệnh viện Phụ sản Trung ương từ ngày
01/04/2013 đến khi đủ cỡ mẫu là 384 người thì dừng lại.
* Mẫu định tính:
- Cỡ mẫu 10 ĐTNC vào phỏng vấn sâu.
- Chọn mẫu chủ đích: 5 ĐTNC từng phá thai 1lần, 5 ĐTNC từng phá
thai 2 lần. Các đối tượng này tự nguyện tham gia phỏng vấn sâu.
2.2.3. Phương pháp thu thập số liệu
STT Câu hỏi Phương án trả lời Số điểm
1 B2
Kể được ý 1,2,3
Kể được 2 trong 3 ý
2 điểm
1 điểm
2 B3 Kể được ý 1 hoặc ý 2 hoặc cả 2 1 điểm
3 B4 Kể được 1 trong 3 ý 1 điểm
4 B5 Kể được ý 2 1 điểm
5 B6+B7 Ý 1 câu B6 và 1 trong 4 ý B7 2 điểm
6 B8 Kể được ý 1 1 điểm
7 B9
Kể được 3 BPTT trở lên
Kể được 1- 2BPTT
2 điểm
1 điểm
Thang điểm với tổng số tối đa là 9 điểm cho 7 câu trả lời đúng. Đạt yêu
cầu trả lời đúng khoảng 60% số điểm của các câu hỏi.
+ Tổng số điểm < 6 ==> Kiến thức không đạt
+ Tổng số điểm ≥ 6 ==> Kiến thức đạt
- CÁCH TÍNH ĐIỂM ĐÁNH GIÁ HÀNH VI VỀ PT
STT Câu hỏi Phương án trả lời Số điểm
23
1. D2
Kể được ý từ 4 ý trở lên
Kể được 2, 3 ý
2 điểm
1 điểm
2. D4
Kể được 3 BPTT trở lên
Thông tin chung n Tỷ lệ(%)
Tuổi
≤ 18
19≤ 24
25- 34
35- 44
≥45
TĐHV
THCS trở xuống
THPT
CĐ, ĐH
SĐH
Nghề
nghiệp
Nông dân
CNVC
Tự do- Nội trợ
HSSV
Nơi sống
Thành thị
Nông thôn
Tình
trạng hôn
Chưa có chồng
Có chồng
Ly thân
Ly dị
Nhận xét:
25