Thực trạng bệnh răng miệng và một số yếu tố liên quan ở người cao tuổi tỉnh bình dương năm 2015 2016 - Pdf 37

1

ĐẶT VẤN ĐỀ
Ở Việt Nam trong những năm gầnđây, dân số đã có
những biến động mạnh mẽ cảvề quy mô và cơ cấu tuổi. Tỷ lệ
người cao tuổi (NCT) ở Việt Nam đãtăng lên nhanh chóng do
ba yếu tố quan trọng: tỷ suất sinh giảm, tỷ suất tử vong giảm
và tuổi thọ trung bìnhtăng. Năm 2009, tuổi thọ trung bình
của Việt Nam là 72,8 tuổi, tăng 4,6 tuổi so với năm 1999. Cơ
cấu tuổi dân số Việt Nam biến động mạnh theo hướng: tỷ lệ
trẻ em (0-14 tuổi) ngày càng giảm; tỷ lệ dân số trong độ tuổi
lao động (15-59) tăng lên; và tỷ lệ NCT (từ 60 trở lên) cũng
tăng nhanh [1].
Mô hình và nguyên nhân bệnh tật của người Việt Nam
nóichung vàNCT nói riêng cũng đangthay đổi theo “mô hình
kép”, từ bệnh truyền nhiễm sang những bệnh không truyền
nhiễm, nghĩa là theo mô hình bệnh tật của một xã hội hiện
đại.
Chi phí trung bình cho việc khám chữa bệnh của NCT gấp
7-8 lần chi phí tương ứng của một trẻ em. Mức độ tiếp cận
dịch vụ chăm sóc y tế giữa các nhóm dân số cao tuổi rất khác
nhau, trong đó dân số cao tuổi ở nông thôn, miền núi hoặc
dân tộc thiểu số có mức độ tiếp cận với các dịch vụ y tế có
chất lượng còn thấp. Số lượng NCT ngày càng lớn nhưng hệ
thống chăm sóc sức khỏe cho NCT chưa thực sự được coi
trọng và đầu tư phát triển tương xứng.Bản thân NCT cũng
chưa ý thức được những nguy cơ bệnh tật. Tuổi thọ của NCT
tăng, nhưng tuổi thọ khỏe mạnh lại cải thiện chậm [1],[2].
Chăm sóc sức khỏe răng miệng ở NCT là một trong các
vấn đề được ưu tiêu trong các bệnh không lây nhiễm. Nghiên
cứu về sức khỏe răng miệng của NCT đã được tiến hành ở

2- Phân tích một số yếu tố liên quan đến bệnh răng miệng và
đề xuất biện pháp chăm sóc răng miệng cho người cao tuổi
tại tỉnh Bình Dương.


3

Chương 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. NGƯỜI CAO TUỔI VÀ BỆNH LÝ RĂNG MIỆNG Ở NGƯỜI CAO
TUỔI

1.1.1.

Người cao tuổi

1.1.1.1. Khái niệm về người cao tuổi
Trên cơ sở nghiên cứu y sinh học và xã hội học, Hội nghị
quốc tế về NCT tại Viên (Áo)năm 1982 đã qui định NCT là
những người từ 60 tuổi trở lên (≥60 tuổi) không phân biệt giới
tính.Ở Việt Nam, pháp lệnh NCT được ban hành từ năm 2000,
theo đó quy định NCT là những người từ 60 tuổi trở lên. Khái
niệm NCT ở nước ta được sử dụng phổ biến, mang nhiều ý
nghĩa tích cực và ít sử dụng khái niệm người già, mặc dù về
khoa học người cao tuổi và người giàlà như nhau[5].
Sự tăng dần tỷ lệ NCT trên tổng số dân đã diễn ra trên
thế giới trong nhiều năm qua. Những tiến bộ về chăm sóc y
tế và dinh dưỡng khởi đầu từ thế kỷ trước dẫn đến sự nâng
cao tuổi thọ là một thành tựu lớn nhất của xã hội loài người.
Tỷ lệ NCT tăng lên là do chất lượng cuộc sống đã không

• Các nước đang phát triển
(Nguồn: Ủy ban Kinh tế-Xã hội châu Á-Thái Bình DươngESCAP)[28].
Biểu đồ 1.1.Số người từ 60 tuổi trở lênở các nước phát
triển và các nước đang phát triển, giai đoạn1950-2050
1.1.1.3. Tình hình già hóa dân số tại Việt Nam
Cùng với những biến động lịch sử, dân số Việt Nam đã
trải qua nhiều thời kỳ phát triển khác nhau với những biến
động lớn về tỷ suất sinh và tỷ suất chết. Việc thực hiện chính
sách kế hoạch hóa gia đình những năm 1960 đến nay đã làm
tổng tỷ suất sinh (TFR) giảm từ mức 4,81 năm 1979 xuống
mức 2,33 năm 1999 và 2,03 năm 2009. Đồng thời, với
những tiến bộ nhất định trong hệ thống chăm sóc sức khỏe


5

toàn dân, tỷ suất chết ngày càng giảm và tuổi thọ của dân
số ngày càng tăng. Kết quả là dân số NCT ở Việt Nam ngày
càng tăng cả về số lượng và tỷ trọng trong tổng dân số. Tuổi
thọ trung bình của dân số là 72,8 tuổi năm 2009, tăng 4,6
tuổi so với năm 1999. Cơ cấu tuổi dân số Việt Nam biến
động mạnh theo hướng: tỷ lệ trẻ em (0-14 tuổi) ngày càng
giảm; tỷ lệ dân số trong độ tuổi lao động (15-59) tăng lên;
và tỷ lệ NCT (từ 60 trở lên) cũng tăng nhanh. Việt Nam sẽ
đối mặt với nguy cơ “già trước khi giàu” khi tốc độ già hóa
dân số tăng cao nhưng thu nhập bình quân đầu người ở Việt
Nam mới chỉ đạt ở mức trung bình thấp (khoảng 1.170
USD/người vào năm 2010). Đây thực sự là một thách thức
lớn đòi hỏi Việt Nam cần phải chuẩn bị chính sách, chiến lược
để đáp ứng phù hợp với vấn đề dân số già hóa diễn ra trong

3,71

41,8

51,3

6,9

1989

64,38

24,98

34,76

4,64

39,2

53,6

7,2

1999

76,33

25,56


từ 60 tuổi trở lên được gọi là người cao tuổi. Tính tới cuối năm 2010,
Việt Nam đã có hơn 8 triệu người cao tuổi (chiếm 9,4% dân số). Số
lượng người cao tuổi đã tăng lên nhanh chóng, trong khi tỷ lệ hỗ trợ
tiềm năng, tỷ lệ giữa dân số độ tuổi lao động và những người cao tuổi
đang giảm đáng kể[6]. Thời gian để Việt Nam chuyển từ giai đoạn "lão
hóa" sang một cơ cấu dân số "già" sẽ ngắn hơn và nhanh hơn nhiều so
với nhiều nước phát triển(giai đoạn này khoảng 85 năm ở Thụy Điển, 26
năm ở Nhật Bản, 22 năm ở Thái Lan), trong khi dự kiến có chỉ là 20
năm với Việt Nam, từ năm 2011 Việt Nam đã chính thức bước vào giai
đoạn già hóa dân số[3].

Bảng 1.2. Tỷ lệ người cao tuổi tại Việt Nam


6

Năm
1979
1989
1999
2002
2004
2006
2010

Tổng dân số
(Triệu người)
53,74
64,41
76,32

các chương trình, chính sách này nhằm bảo vệ người cao tuổi trước các
rủi ro khác nhau và cải thiện khả năng tiếp cận với các dịch vụ kinh tế
xã hội. Tuy nhiên, với sự già hóa dân số dự kiến các chính sách và
chương trình đã bị điều chỉnh và điều này có thể tạo ra một số thách
thức. Điều này bao gồm các dịch vụ chăm sóc sức khỏe lão khoa kém
phát triển, chất lượng chăm sóc sức khỏe người cao tuổi thấp có thể
kém hơn, tình trạng này có thể tạo ra sự bất bình đẳng giữa các thế hệ
khi chúng ta vẫn còn chính sách tự phải trả tiền viện phí, trong khi
người cao tuổi không còn sức lao động như người trẻ và thu nhập thấp
hơn.
Việt Nam là một trong những quốc gia có thu nhập thấp với 72%
dân số sống ở nông thôn [7]. Ngoài ra, còn thiếu nguồn lực nha khoa tại
Việt Nam. Hầu hết các Cơ sở nha khoa được đặt tại khu vực đô thị và chỉ
có số ít người dân nông thôn được tiếp cận với các dịch vụ sức khỏe răng
miệng. Trong năm 2008, dân số ở miền Nam Việt Nam là khoảng 45 triệu
trong khi có khoảng 850 bác sĩ răng hàm mặt hoạt động, 400 bác sĩ, và
800 y tá nha khoa trong hệ thống chăm sóc răng miệng của chính phủ.
Trên trung bình tỷ lệ của các bác sĩ răng hàm mặt so với dân số nói
chung trong khu vực này là 1/43,000, dao động từ 1/178,500 ở khu vực
nông thôn đến 1/13,400 trong khu vực đô thị. Đáng chú ý, trong 156
huyện (trong tổng số 363 huyện) không có bác sĩ răng hàm mặt.
Tổ chức Y tế Thế giới năm 1997 đã đặt mục tiêu toàn cầu về sức


7

khỏe răng miệng đến năm 2020. Một trong những mục tiêu này là vấn
đề liên quan đến mất răng với mục đích can thiệp tăng số lượng các
răng còn chức năng ăn nhai tối thiểu là 21 răng. Theo số liệu điều tra
sức khỏe răng miệng quốc gia Việt Nam năm 2001 có kết quả cho thấy

nguồn gốc từ ngoại bì, là mô cứng nhất trong cơ thể, có tỷ
lệ chất vô cơ cao nhất (khoảng 96%) nhiều hơn so với ngà
răng và xương răng, chất hữu cơ chiếm 1,7%, nước chiếm
2,3%.Men răng dày mỏng tùy vị trí khác nhau, dày nhất ở núm
răng là 1,5mm và mỏng nhất ở vùng cổ răng[8]. Ở trạng thái
bình thường men răng trong suốt, song men có thể thay đổi

màu sắc do một số yếu tố tác động khác, lúc đó men răng có
màu vàng nhạt, vàng sẫm, tím xanh,...
+ Ngà răng: Có nguồn gốc từ trung bì, kém cứng hơn men,

chứa tỷ lệ chất vô cơ thấp hơn men (70%), chủ yếu là
3[(PO4)2Ca3)2H2O], nước và chất hữu cơ chiếm 30%. Trong
ngà răng có nhiều ống ngà, chứa đuôi bào tương của nguyên
bào ngà. Bề dày ngà răng thay đổi trong đời sống do hoạt
động của nguyên bào ngà, ngà răng ngày càng dày theo
hướng về phía hốc tủy răng, làm hẹp dần ống tủy. Về tổ chức
học ngà răng được chia làm hai loại: Ngà tiên phát và ngà thứ
phát.
+ Tuỷ răng: Là mô liên kết mềm, nằm trong hốc tuỷ gồm

tuỷ chân và tủythân. Tuỷ răng trong buồng tủy gọi là tủy thân
hoặc tủy buồng, tuỷ răng trong ống tủy gọi là tủy chân. Các
nguyên bào ngà nằm sát vách hốc tủy. Tuỷ răng có nhiệm vụ
duy trì sự sống của răng cụ thể là duy trì sự sống của nguyên
bào ngà, tạo ngà thứ cấp và nhận cảm giác của răng. Trong tủy
răng có chứa nhiều mạch máu, mạch bạch huyết và đầu tận
cùng của thần kinh.
+ Cement chân răng: Là tổ chức canxi hóa bao phủ vùng
ngà chân răng bắt đầu từ cổ răng đến chóp chân răng, cấu trúc

được cụ thể được trình bày trong bảng 1.2 dưới đây.
Bảng 1.3. Biến đổi sinh lý về hình thái, cấu trúc, chức năng ở mộ số tổ chức


10

Tổ chức men –
ngà

Tuỷ răng

Lợi
Biểu mô bám
dính
Dây chằng
Xương ổ răng,
xuơng hàm
Biểu mô niêm
mạc miệng
Mô liên kết

Vàng, mất núm, rãnh...
Mòn ở men, ngà hay tuỷ làm thay đổi chiều dài
thân răng, tiếp điểm giữa các răng.
Buồng tủy, ống tuỷ hẹp, tắc, hình thái và số
lượng các tế bào đệm, mạch máu, thần kinh
giảm, xơ hoá tăng, thường có sự vôi hoá sạn
tuỷ.
Teo, mất căng bóng, da cam, xơ, sừng hoá.
Phân bào, Thẩm thấu, Đề kháng đều giảm.


11

dài và đường kính các sợi giảm và thay đổi về chấttheo tuổi.
Thần kinh tủy răng cũng vậy, tủy dần bị thới hóa, giảm tuần
hoàn có thể hình thành mô khoáng hóa dưới dạng khối đồng
tâm gọi là sạn tủy và gây đau.
- Thay đổi của niêm mạc: Niêm mạc miệng trở nên mỏng
dần, nhẵn và khô, mất dần tínhđàn hồi và dễ bị tổn thương.
- Thay đổi dây chằng nha chu: Ở người cao tuổi có sự thoái
hóa dây chằng nha chu đi kèm với thoái hóa hệ collagen. Sự
nứt lợi sinh lýdo lợi bị mòn, dăng dần trồi, lộ chân răng và kéo
theo sự di chuyển của biểu mô bám dính…
1.1.2.3. Một số đặc điểm bệnh lý răng miệng ở NCT
Người cao tuổi khi mắc các bệnh lý răng miệng thường
biểu hiện tính chất phối hợp giữa bệnh và thoái hoá do tuổi
cao, tạo ra sự khác biệt so với người trẻ tuổi[13],[14]. Những
tình trạng bệnh hay gặp ở người cao tuổi thường biểu hiện với
tính chất như sau:
- Tổn thương mô cứng hay gặp nhất là hiện tượng mòn
răng, gẫy vỡ thân răng, mòn ở cổ răng và tiêu cổ chân răng
hình chêm. Các tổn thương này có tác động của men, ngà bị
thoái hóa sinh lý và đặc biệt tăng ở người ít nước bọt, người
mất răng lẻ tẻ có rối loạn khớp cắn.
- Bệnh lý ở tuỷ răng thường gặp là thể viêm tuỷ mạn, ít
có biểu hiện lâm sàng rầm rộ, tủy răng bị chết lúc nào không
rõ. Thường bệnh nhân chỉ đi khám khi có biến chứng ở mô
quanh cuống với lỗ rò, u hạt, nang ở chóp chân răng. Việc chữa
tủy gặp nhiều trở ngại vì buồng, ống tủy thường bị hẹp, tắc.tiên
lượng hồi phục kém. Các viêm nhiễm ở tổ chức liên kết thường

của sự hủy hoại khoáng tổ chức cứng của răng thành hố bởi sản phẩm cuối của
sự acid hóa các thức ăn có đường do quá trình lên men của vi khuẩn [17].
Trước năm 1970, người ta coi sâu rănglà một thưong tổn không thể hồi
phục và khi giải thích bệnh căn sâu răng, người ta chúý nhiều đế chất đường
vàvi khuẩn Streptococcusmutans nên phòng bệnh sâu răng tập trung vào chế
độăn hạn chế đường, vệ sinh răng miệng nhưng hiệu quả phòng bệnh sâu
răng vẫn bị hạn chế. Nguyên nhân sâu răng được giải thích theo sơ đồ Key là
sự tác động của cả 3 yếu tố gây sâu răng là “Thứcăn”, “Vi khuẩn” và “Men
răng”, thiếu một trong các yếu tốđó thì sâu răng không thể sảy ra.


13

Từ sau năm 1975, người ta coi sâu răng là một bệnh do nhiều nguyên
nhân gây ra, các nguyên nhân này được chia làm 2 nhóm: Nhóm chính gồm 3
yếu tố phải cùng đồng thời sảy ra. Nhóm phụ trợ có rất nhiều yếu tố như vai
trò của nước bọt, di truyền, đặc tính sinh hóa của răng…Nhóm này tác động
làm tăng hay giảm sâu răng và gây ra vị trí các lỗ sâu khác nhau[21].
Đặcđiểm sâu răng ở người cao tuổi: Vị trí thường bị sâu răng là cổ răng
và chân răng nơi tiếp giáp men-xe măng, trên hay dưới lợi, dạng sâu răng này
còn gọi là sâu răng bòlanở người cao tuổi. Các nguyên nhân gây sâu răng ở
vùng cổ và chân răng có thể kể đến mòn răng, tụt lợi, bệnh nha chu.
Bệnh sâu răng có thể bịmắc từ rất sớm và có tỷ lệ mắc khá cao ở nước ta
cũng như trên thế giới. Bệnh sâu răng và viêm quanh răng là nguyên nhân
chính gây mất răng làm ảnh hưởng nặng nề đến chức năng ăn nhai, phát âm,
thẩm mỹ của con người, ngoài ra bệnh còn có thể là nguyên nhân của những
bệnh nhiễm trùng khác như: viêm cầu thận, viêm nội tâm mạc, viêm khớp, khi
điều tri gây tốn kém về thời gian, kinh phí và nhân lực. Chính vì thế sức khoẻ
răng miệng đã được tổ chức y tế thế giới (WHO) và các nước đặc biệt quan
tâm và đã có những chương trình phòng bệnh. Nhiều biện pháp dự phòng

thành cao răng gây kích thích lợi gây ra hiện tuợng viêm lợi. Mặt khác kháng
nguyên của vi khuẩn có thể kết hợp với tổ chức quanh răng tạo thành những


14

phức hợp kháng nguyên và với cơ chế bảo vệ thông qua kháng thể làm tổn
thương đến các tế bào biểu mô lợi đã có gắn các thành phần kháng nguyên
của vi khuẩn.

1.1.3.3.Mất răng
Mất răng là tình trạng phổ biếnở người cao tuổi. Các
nghiên cứu dịch tễ học cho thấy những ngườithu nhập thấp, ít
được giáo dụcở các nước chậm phát triển thường bị mất răng
nhiều hơn. Tùy theo số lượng và vị trí mất răng mà gây
nhiềuảnh hưởng với các mức độ khác nhau[26],[29].
Tình hình mất răng nói chung, mất toàn bộ răng nói
riêng khác nhau theo dân tộc, quốc gia, vùng lãnh thổ, châu
lục cũng như ngay trong một quốc gia và cũng tuỳ thuộc vào
tình hình tuổi thọ của dân số. Nhìn chung, số liệu điều tra
dịch tễ học về mất răng toàn bộ cũng như số răng mất trung
bình mỗi người thuộc châu Á là thấp hơn so với các nước
thuộc châu Âu, châu Úc và châu Mỹ. Các nghiên cứu cũng cho
thấy: tình trạng mất răng tăng dần theo chiều tăng của tuổi
và có liên quan tới một số yếu tố nhân khẩu - xã hội học.
Hiện nay mất răng vẫn còn là vấn đề răng miệng của người
cao tuổi. Mặc dù trong những thập niên gần đây, người ta
thấy số răng tự nhiên còn lại có tăng lên, số người mất răng
toàn bộ có giảm. Theo kết quả điều tra quốc gia (1989 1990) so với điều tra 1985 - 1986 ở Mỹ cho thấy: số người
mất răng toàn bộ ở độ tuổi ≥ 70 đã giảm từ 46,3% còn

răng ở NCT là 76,1% [4].
-

Nguyên nhân của sự mất răng
Bệnh sâu răng: Sâu răng và biến chứng của sâu răng được
cho là nguyên nhân chính dẫn đến mất răng. Ở người Việt

-

Nam, tỉ lệ mất răng do biến chứng sâu răng là 57 – 72%.
Bệnh nha chu: Viêm quanh răng được coi là nguyên nhân thứ
hai gây ra mất răng và là nguyên nhân chính gây mất răng ở

-

người lớn tuổi.
Chấn thương hàm mặt: Theo Tống Minh Sơn có tới 72% các

-

tổn thương răng cửa là do chấn thương.
Ngoài ra, mất răng còn do các nguyên nhân khác như do các
khối u vùng xương hàm, nhổ răng chủ động để chạy tia hay
theo yêu cầu chỉnh nha, thiếu răng bẩm sinh…
Hậu quả của sự mất răng:
Tại chỗ:

-

Hiện tượng Popop: các răng còn lại hai bên bị xô lệch theo

việcđưa ra các biện pháp dự phòng hiệu quả và khả thi.

1.2.1. Bênh răng miệngliên quan đến các nhóm
răng
Mức độ nhạy cảm với sâu răng xếp thứ tự theo nhóm răng

-

Răng hàm lớn thứ nhất và thứ hai hàm dưới

-

Răng hàm lớn thứ nhất và thứ hai hàm trên

-

Răng hàm nhỏ thứ hai hàm dưới, răng hàm nhỏ thứ nhất và thứ hai hàm trên,
răng cửa giữa và răng cửa bên hàm trên.
Răng nanh trên và răng nanh dưới
Răng cửa giữa và răng cửa bên hàm dưới, răng nanh dưới.
Tuy nhiên có một số nghiên cứu cho thấy răng hàm lớn thứ hai nhạy cảm
với sâu răng hơn so với răng hàm lớn thứ nhất hàm dưới.

-

1.2.2. Bệnh răng miệngliên quan với lứatuổi.
Nhiều bệnh răng miện liên quan với tuổi, ví dụ sâu răng tăng nhanh ở
tuổi thanh thiếu niên và những năm đầu của tuổi trưởng thành, sau đó giảm
dần. Răng người cao tuổi dễ bị tụt nướu giúp mảng bám tích tụ quanh vùng
chân răng bị lộ tạo điều kiện cho sâu chân răng phát triển.

fluoride, sử dụng các dạng fluoride toàn thân hay tại chỗ, Sealant bít hỗ rãnh,
chọn thức ăn tốt cho răng, giữ vệ sinh răng miệng, đi khám răng định kỳ v.v…
Đồng thời khi có trình độ học vấn cao, người dân càng dễ dàng tham gia vào
các chương trình sức khoẻ cộng đồng như chăm sóc răng ban đầu...
Xã hội càng phát triển, các phương tiện vệ sinh răng miệng càng phổ
thông: bàn chải, kem đánh răng có Fluoride, chỉ nha khoa, chất nhuộm màu
mảng bám, kiểm soát chế độ ăn uống, bỏ hút thuốc, uống bia, uống rượu....
cải thiện tình trạng răng miệng.
Vai trò của giáo dục với sức khỏe răng miệng:Hệ thống mạng lưới giáo dục sức
khoẻ cho cộng đồng nhằm cung cấp kiến thức phổ thông cho người dân về dự
phòng bệnh răng miệng.

1.2.6. Bệnh răng miệng liên quan đếndinh dưỡng, thể
lực
Tại các nước đang phát triển, theo đà thay đổi thực phẩm, gia tăng
đường trong thực phẩm làm cho nhiều bệnh răng gia tăng rõ rệt.Ngoài ra, thể
lực tốt thì sức đề kháng tốt, khi đó khả năng chống đỡ bệnh sẽ tốt hơn.

1.2.7. Bệnh răng miệngliên quan đếnthói quen hút
thuốc
Hiện nay hút thuốc lá được cho là yếu tố nguy cơ đáng kể của bệnh
quanh răng. Người hút thuốc lá có 3 - 6 lần nguy cơ mắc bệnh quanh răng so
với người không hút thuốc lá và người trẻ có nguy cơ cao hơn. Thông thường,
những dấu hiệu của bệnh bị che phủ bởi nicotine và các sản phẩm khác từ
thuốc lá gây co mạch làm giảm tưới máu lợi và giảm sức bền thành mạch.
Một số cơ chế liên quan đến thuốc lá cáo buộc thuốc lá là nguy cơ của bệnh


18


dùng chỉ nha khoa.
- Các biện pháp không giám sát được như thực hiện chải răng
và các biện pháp VSRM khác ở nhà.


19

Tuy nhiên, tuỳ theo đặc điểm cụ thể màcác khu vực cũng phải lựa
chọn các biện pháp khác nhau cho phù hợp với thực tiễn.

1.3.2. Dự phòng bệnh viêm quanh răng
+ Các biện pháp can thiệp:

Chải răng đúng cách: Các kỹ thuật chải răng phải đáp
ứng được các yêu cầu sau:
- Làm sạch được tất cả mặt răng, đặc biệt là vùng rinh lợi và kẽ
răng. Việc chải răng thường làm sạch tốt ở phần lối của răng
nhưng hay để lại cặn bám ở những phần lõm và nơi bị che
khuất.
- Việc di chuyển bàn chải không được làm tổn thương tổ chức
mềm và tổ chức cứng. Chải răng theo hướng thẳng đứng và
kéo ngang có thể làm co lợi và mòn rằng.
- Kỹ thuật phải đơn giản và dễ học, dễ hướng dẫn cho cộng
đồng.
Có hai kỹ thuật chải răng được nhiều người ưa chuộng là
kỹ thuật cuốn được dùng khi lợi nhạy cảm và kỹ thuật Bass được
-

-


giúp cho trẻ em trong cộng đồng có kiến thức, hiểu biết và từ đó có
thay đổi về nhận thức, quan điểm dẫn đến thay đổi về thói quen trong
CSRM.
Khi tuyên truyền giáo dục VSRM cần chú ý dùng từ dễ hiểu, đơn
giản, ngắn gọn và ít thông tin nhưng dễ lặp lại và mọi người dễ nhớ.

1.3.3. Dự phòng mất răng
Trên cơ sở phân tích về các nguyên nhân chủ yếu gây
mất răng đã nêu ở trên, việc dự phòng mất răng thực chất là
dự phòng bệnh sâu răng và bệnh viêm quanh răng. Ở người
Việt Nam, theo các nghiên cứu chỉ ra trên 70% các trường
hợp mất răng là do biến chứng của sâu răng và viêm quanh
răng.Các nguyên nhân khác như chấn thương vùng hàm mặt,
khối u vùng xương hàm, nhổ răng chủ động để chạy tia hay
theo yêu cầu chỉnh nha, thiếu răng bẩm sinh…chiếm tỷ lệ
thấp và là những yếu tốnằmngoài phạm vi dự phòng các bệnh
răng miệng.

Chương 2
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

2.1.1. Nghiên cứu định lượng
+ Người cao tuổi (từ 60 tuổi trở lên), không phân biệt
giới, hiệnđang sinh sống và có hộ khẩu thường trú tạiđịa
phương nghiên cứuít nhất 1 năm,đồng ý và tự nguyện tham
gia nghiên cứu.Tiêu chuẩn loại trừ: những người dưới 60 tuổi,
không đồng ý tham gia nghiên cứu và không có mặt trong khi
điều tra, không đủ năng lực trả lời các câu hỏi phỏng vấn.
2.1.2. Nghiên cứu định tính

nghiên cứu định lượng và định tính.
2.2.2. Cỡ mẫu, phương pháp chọn mẫu
Cỡ mẫu cho nghiên cứu định lượng:
Áp dụng công thức tính cỡ mẫu cho một nghiên cứu mô
tả[9]:
n = Z12−α / 2

p(1 − p )
d2
x DE


22

Trong đó:
p: Tỷ lệ mắcít nhấtmột bệnh răng miệng của người cao
tuổi (theo nghiên cứu của Trần Văn Trường năm 2001,chọn p
= 78% = 0,78).
d: Sai số tuyệt đối cho phép (d= 5% = 0,05)
Z(1-α/2): hệ số tin cậy, với mức ý nghĩa thống kê α = 0,05,
tương ứng với độ tin cậy là 95% thì Z(1-α/2) = 1,96
Do sử dụng kỹ thuật chọn mẫu chùm ngẫu nhiên nên cỡ
mẫu cần được nhân với hệ số thiết kế mẫu (chúng tôi
chọnDesign Effect - DE =1,7)
Cỡ mẫu cho một huyện/thị theo tính toán lý thuyết là 450
người tại một huyện/thị và tổng số đối tượng được nghiên cứu
tại 3 huyện/thị trong toàn tỉnh là 1350 người cao tuổi.
Phương pháp chọn mẫu:
+ Chọn 3 khu vực dân cư thuộc tỉnh Bình Dương gồm thành phố
Thủ Dầu Một và 2 huyện. Tại mỗi huyện/thị chọn 10 Xã/Phường, tại mỗi

23

2.2.4. Kỹ thuật và công cụ thu thập thông tin
- Tập huấn cho điều tra viên và các bác sĩ khám bệnh.
- Thu thập số liệu bằng việc sử dụng một bảng câu hỏi để phỏng
vấn từng người, khám răng miệng, phỏng vấn sâu, thảo luận nhóm:
+ Phỏng vấn đối tượng nghiên cứu để thu thập các thông tin về đặc
trưng cá nhân (tuổi, giới, dân tộc, tôn giáo, nghề nghiệp trước khi về
hưu, học vấn, chuyên môn, hôn nhân, sống gia đình hay độc thân, kinh
tế gia đình, bảo hiểm y tế, khoảng cách từ nhà đến cơ sở y tế gần nhất,
khoảng cách từ nhà đến cơ sở răng hàm mặt gần nhất), thái độ hành vi
liên quan đến bệnh răng miệng.
+ Khám lâm sàng xác định thực trạng bệnh răng miệng ở người
cao tuổi.
+ Phỏng vấn sâu một số đối tượng cung cấp thông tin nhằm tìm
hiểu thêm về: mức độ phổ biến của bệnh răng miệng ở người cao tuổi
trong cộng đồng, quan niệm của người cao tuổi về chăm sóc và dự
phòng bệnh răng miệng, sự tiếp cận của người cao tuổi với dịch vụ
chăm sóc răng miệng, trong trường hợp nào người cao tuổi thấy nhu
cầu cần phải đến cơ sở khám chữa răng, đánh giá của người cao tuổi
về các dịch vụ y tế hiện có, mong muốn của người cao tuổi nhằm
được chăm sóc và điều trị răng miệng được tốt hơn là những gì, phải
làm gì để nâng cao chất lượng các dịch vụ chăm sóc răng miệng cho
người cao tuổi. Phỏng vấn sâu cũng được tiến hành với một số người
cao tuổi có hoàn cảnh đặc biệt nhằm tìm hiểu sâu hơn mong muốn,
nguyện vọng liên quan đến nhu cầu điều trị bệnh răng miệng của
người cao tuổi.
Bộ câu hỏi phỏng vấn và bệnh án: sử dụng bộ công cụ mẫu của Tổ
chức Y tế Thế giới năm 1997, và điều tra sức khỏe răng miệng toàn
quốc lần 1 năm 1990, lần 2 năm 2000

khác
6: Mòn mặt nhai
6A: Mòn độ I
6B: Mòn độ II
6C: Mòn độ III
6D: Mòn độ IV
7: Răng đặc biệt
Trụ cầu, chụp bọc hay
mặt dán
8: Mòn và tiêu cổ răng
8A, 8B, 8C
T: sang chấn răng
TA
TB
TC
9: (X) Răng bị loại

Không có lỗ sâu đã hoặc chưa điều trị ở thân và
chân. Không ghi nếu chỉ nghi ngờ và không có
đủ các yếu tố dương tính
Có lỗ sâu rõ, đáy hoặc thành mềm hoặc men bị
đục khoét ở phía dưới. Cảm nhận mềm, dai ở
chân răng, chỉ trám tạm. Sâu hủy hết phần
thân. Không ghi nếu nghi ngờ. Ghi ưu tiên
sâu chân răng
Thân hoặc chân răng đã trám sâu lại hoặc sâu
mới. Lưu ý nhận định vị trí và nguyên ủy của lỗ
sâu
Có một hoặc nhiều miếng trám vĩnh viễn hoặc
không thấy lỗ sâu khác hoặc răng đã được

Dựa trên cơ sở miệng với hai cung răng được chia thành 6 vùng
(Sextant) lục phân. Một vùng chỉ được tính khi còn ≥ 2 răng và các răng
này không có chỉ định nhổ. Các răng chỉ định để đánh giá tình trạng


25

viêm nhiễm và mất bám dính quanh răng như sau:
Hàm trên

17/16

11

27/26

Hàm dưới

47/46

31

36/37

Các tiêu chuẩn lâm sàng và mã số
0: Lành mạnh
1: Chảy máu lợi trực tiếp hay ngay sau khi thăm khám
2: Cao răng trên và dưới lợi phát hiện được trong khi thăm dò nhưng
toàn bộ vạch đen của cây thăm dò túi lợi còn nhìn thấy
3: Túi 4-5mm bờ lợi viền răng nằm trong lòng vạch đen của cây thăm dò


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status