Di chúc chung của vợ, chồng theo pháp luật dân sự Việt Nam - Pdf 25

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
ĐỖ THU HIỀN
DI CHÚC CHUNG CỦA VỢ, CHỒNG THEO
PHÁP LUẬT DÂN SỰ VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Mã số: 603830
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: TS. Phùng Trung Tập
HÀ NỘI – 2010
LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các
kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào
khác. Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác,
tin cậy và trung thực. Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán
tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia
Hà Nội.
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể
bảo vệ Luận văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!

1.3.3. Từ năm 1995 đến năm 2005 32
1.3.4. Từ năm 2005 đến nay 34
Chương 2 - Lý luận về di chúc của vợ, chồng
và hiệu lực pháp luật di chúc chung của vợ, chồng 35
2.1. Lý luận chung về di chúc chung của vợ chồng 35
2.1.1. Quyền lập di chúc chung của vợ, chồng 35
2.1.2. Tài sản chung của vợ, chồng 36
2.1.3. Hình thức, nội dung và mục đích của di chúc chung của vợ, chồng 46
2.1.4. Việc sửa đổi, bổ sung, thay thế, huỷ bỏ di chúc chung của vợ, chồng 48
2.2. Hiệu lực pháp luật của di chúc chung của vợ, chồng 49
2.2.1. Điều kiện có hiệu lực của di chúc chung của vợ, chồng 49
2.2.2. Thời điểm có hiệu lực của di chúc chung của vợ chồng 53
Chương 3 - Thực trạng pháp luật quy định về di chúc
chung của vợ, chồng và giải pháp hoàn thiện pháp luật 57
3.1. Thực trạng pháp luật quy định về di chúc chung của vợ, chồng 57
3.1.1. Quyền lập di chúc chung của vợ, chồng 57
3.1.2. Về di sản chia thừa kế 58
3.1.3. Việc thừa kế lẫn nhau giữa vợ và chồng; người thừa kế không phụ
thuộc nội dung di chúc. 60
3.1.4. Về hiệu lực của di chúc 62
3.1.5. Hình thức của di chúc chung của vợ, chồng 65
3.1.6. Việc thay thế, bổ sung, huỷ bỏ di chúc chung của vợ, chồng 67
3.1.7. Chấm dứt sự tồn tại của di chúc chung của vợ, chồng 70
3.2. Giải pháp hoàn thiện pháp luật 71
3.2.1. Nên hay không công nhận việc lập di chúc chung của vợ,chồng 71
3.2.2. Một số kiến nghị đối với các quy định về di chúc chung của vợ, chồng 74
3.2.3. Kiến nghị cụ thể 77
Kết luận 81
Tài liệu tham khảo 83
Phụ lục

Khi xã hội phát triển về mọi mặt, trong đó có hoạt động sản xuất kinh
doanh, cung ứng dịch vụ để tạo ra của cải vật chất. Hơn nữa, Nhà nước cho
phép tồn tại nhiều hình thức sở hữu, đa dạng các thành phần kinh tế sản xuất
kinh doanh theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Theo đó sự
phân công lao động trong xã hội và chuyên môn hóa sản xuất ngày càng cao.
Tài sản của mỗi cá nhân được xác lập do hoạt động sản xuất kinh doanh, cung
ứng dịch vụ thuộc các thành phần kinh tế ngày càng lớn và đa dạng. Do vậy,
khi một cá nhân qua đời thì việc hưởng di sản của người đó trở thành một vấn
đề lớn trong xã hội, được nhiều người quan tâm. Các tranh chấp liên quan đến
quan hệ nhận và chuyển giao tài sản của người chết xuất hiện ngày càng nhiều
hơn. Các tranh chấp về thừa kế thường phức tạp vì đó là những tranh chấp về
lợi ích và di sản thừa kế của những người thân thích trong cùng gia đình, dòng
họ. Giải quyết các tranh chấp về thừa kế không đơn giản, không phải lúc nào
Tòa án nhân dân các cấp cũng giải quyết một cách thỏa đáng các tranh chấp
đó.
Pháp luật Việt Nam hiện hành quy định có hai hình thức thừa kế là thừa
kế theo di chúc và thừa kế theo pháp luật. Hình thức chia thừa kế theo di chúc
là hình thức chia thừa kế trong đó ý chí của người để lại di sản được Nhà
nước tôn trọng và bảo vệ thông qua các quy phạm pháp luật. Bên cạnh di chúc
cá nhân pháp luật Việt Nam còn quy định về di chúc chung của vợ, chồng.
Quy định này làm phức tạp thêm việc giải quyết các tranh chấp về thừa kế. Vì

2
tính đa dạng, phong phú của khối tài sản chung và tài sản riêng của vợ, chồng
nên vợ, chồng định đoạt tài sản theo di chúc chung chỉ là ý chí chủ quan của
họ, nguyện vọng của họ, và sau khi họ qua đời, việc giải quyết các tranh chấp
liên quan đến di chúc chung không phải bao giờ cũng thấu tình đạt lý. Vì vậy,
học viên lựa chọn đề tài: “Di chúc chung của vợ, chồng theo pháp luật dân sự
Việt Nam” để thực hiện luận văn cao học Luật, nhằm đáp ứng về mặt lý luận
và thực tiễn của việc nghiên cứu đề tài. Do vậy đề tài có tính cấp thiết.

phân tích, tổng hợp và phương pháp so sánh.
Thông qua việc sử dụng các phương pháp nói trên học viên có cái nhìn
biện chứng về các hiện tượng có liên quan đến đề tài. Khi phân tích và làm
sáng tỏ các vấn đề cần thiết học viên luôn nhìn nhận chúng trong mối liên hệ,
tác động qua lại lẫn nhau và không tách rời chúng ra nhằm chỉ rõ bản chất,
điều kiện hình thành, tồn tại và phát triển của các vấn đề đó. Bên cạnh đó
phương pháp duy vật lịch sử được học viên sử dụng để nghiên cứu quá trình
hình thành, phát triển các quy phạm pháp luật về di chúc chung của vợ,
chồng. Trên cơ sở đó học viên có thể so sánh các quy định đó với nhau để có
thể tổng hợp rút ra kết luận nhằm đưa ra kiến nghị cụ thể, hợp lý để từng bước
hoàn thiện các quy định về di chúc chung của vợ, chồng.
4. Mục đích nghiên cứu đề tài
Nhằm xác định cụ thể di chúc chung của vợ, chồng và hiệu lực pháp lý
của di chúc chung do vợ, chồng lập ra. Đồng thời có so sánh liên hệ để nhằm
làm nổi bật đặc điểm về hiệu lực của di chúc chung của vợ, chồng. Qua đó,
phân tích, đánh giá những quy định của pháp luật về di chúc chung của vợ,
chồng ở tính phù hợp, mức độ phù hợp với đời sống thực tế. Nhằm đánh giá
hiệu quả điều chỉnh của pháp luật quy định về di chúc chung của vợ, chồng.
Qua việc phân tích này đưa ra những khuyến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật

4
Việt Nam quy định về di chúc chung của vợ, chồng giúp cho cơ quan lập
pháp sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện pháp luật quy định về di chúc chung của vợ,
chồng. Hơn nữa, đây còn là một tài liệu để giúp cho việc nghiên cứu, học tập
di chúc chung của vợ, chồng trong các trường đào tạo luật và Tòa án nhân dân
ở nước ta hiện nay.
5. Những điểm mới của luận văn
- Luận văn đã giải quyết được về mặt lý luận liên quan đến di chúc
chung của vợ, chồng cũng như hiệu lực của loại di chúc này.
- Luận văn chỉ ra những bất cập trong những quy định về di chúc chung

việc định đoạt tài sản của cá nhân bằng di chúc, nhận di sản và việc phân chia
di sản theo quy định của pháp luật. Vấn đề thừa kế trước đây chủ yếu được
điều chỉnh bởi các quy phạm đạo đức nhưng do tính chất quan trọng và sự
phát triển ngày càng phức tạp của quan hệ này mà Nhà nước cần phải can
thiệp bằng các quy phạm pháp luật. Theo đó, Nhà nước đưa ra quy định, các
chủ thể trên cơ sở các quy định đó thể hiện ý chí của mình; pháp luật cho
phép các chủ thể tự do bày tỏ ý chí, tự do thoả thuận các vấn đề có liên quan
nhưng sự tự do ấy phải trong khuôn khổ pháp luật.
Chế định về thừa kế đã được quan tâm từ rất sớm ngay từ khi Nhà nước
bắt đầu có các văn bản luật thì vấn đề thừa kế đã được nhắc đến. Các quy định
ban đầu tuy đơn giản nhưng là tiền đề cho sự phát triển chế định về thừa kế về
sau. Tại BLDS 2005 các vấn đề về thừa kế quy định tại phần thứ tư, bao gồm
từ chương XXII đến chương XXV; Trong đó chương XXII: Những quy định
chung, chương XXIII: Thừa kế theo di chúc, chương XXIV: Thừa kế theo
pháp luật, chương XXV: Thanh toán và phân chia di sản

6
Chế định thừa kế quy định có hai cách để định đoạt phần di sản của
người chết cho người khác còn sống: người có tài sản lập di chúc để định đoạt
tài sản hoặc theo một trình tự nhất định của pháp luật. Tương ứng với hai cách
đó, có hai hình thức thừa kế là thừa kế theo di chúc và thừa kế theo pháp luật.
Với quy định như vậy pháp luật dân sự trước hết tôn trọng quyền tự định đoạt
của chủ thể, chủ thể có quyền lập di chúc định đoạt tài sản theo ý chí của
mình. Khi người lập di chúc chết đi thì phần di sản được định đoạt trong di
chúc sẽ được phân chia cho những người thừa kế (là những người được người
lập di chúc định đoạt tài sản cho, người được hưởng di sản không phụ thuộc
vào nội dung di chúc) theo đúng ý chí của người lập di chúc. Nếu trong
trường hợp không có di chúc, di chúc không hợp pháp hay trường hợp khác
theo quy định của pháp luật thì khi đó pháp luật mới tham gia điều chỉnh để
nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người lập di chúc, những người

1.1.2. Quyền thừa kế theo nghĩa chủ quan
Quyền thừa kế theo nghĩa chủ quan là quyền của người để lại di sản và
quyền của người nhận di sản. Quyền thừa kế của chủ thể là khả năng xử sự của
các chủ thể quan hệ pháp luật thừa kế được quy phạm pháp luật về thừa kế quy
định và được Nhà nước bảo đảm thực hiện. Quyền chủ quan này phải phù hợp
với các quy định của pháp luật nói chung và pháp luật về thừa kế nói riêng.
Quyền thừa kế là một trong những quyền được pháp luật bảo vệ, nó gắn
liền với mỗi cá nhân. Pháp luật Việt Nam luôn ghi nhận quyền năng này của các
chủ thể. Theo quy định của pháp luật hiện hành thì cá nhân có quyền lập di chúc
để định đoạt tài sản của mình; để lại tài sản của mình cho người thừa kế theo
pháp luật; hưởng di sản theo di chúc hoặc theo pháp luật (Đ631 BLDS năm
2005). Các cá nhân cũng có quyền bình đẳng về thừa kế không phân biệt dân
tộc, giới tính, thành phần xã hội, hoàn cảnh kinh tế, tín ngưỡng, tôn giáo, trình

8
độ văn hoá, nghề nghiệp và bình đẳng trong việc thực hiện nghĩa vụ mà người
chết chưa thực hiện hoặc thực hiện chưa xong trong phạm vi di sản nhận…
Khi xem xét về thừa kế thì di sản là một trong những vấn đề được quan
tâm trước tiên. Di sản là cơ sở để thiết lập di chúc bên cạnh các căn cứ khác.
Tài sản của người chết để lại được gọi là di sản, chỉ khi di sản còn tồn tại trên
thực tế thì người lập di chúc mới có “cái” để định đoạt. Di sản phải là tài sản
thuộc sở hữu của người để lại thừa kế (bao gồm tài sản riêng và phần tài sản
riêng trong khối tài sản chung với người khác) với đầy đủ các quyền năng:
quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt tài sản đó. Sau khi tài
sản được dịch chuyển cho người còn sống đồng thời quyền sở hữu cũng được
chuyển giao theo quy định của pháp luật. Việc nhận được tài sản cũng đồng
thời với việc nhận các nghĩa vụ về tài sản của người lập di chúc (nếu có). Khi
còn sống người lập di chúc có những nghĩa vụ về tài sản (nghĩa vụ cấp dưỡng,
nghĩa vụ trả nợ…) mà chưa thực hiện được hay thực hiện nhưng chưa xong
thì người nhận thừa kế phải thực hiện toàn bộ nghĩa vụ hay thực hiện phần

nhân nhằm chuyển tài sản của mình cho người khác sau khi chết”.[12]
Trên thực tế, di chúc không phải lúc nào cũng nhằm dịch chuyển tài sản
thuộc sở hữu của người lập di chúc cho người khác. Di chúc có thể thể hiện
một mong muốn, ý nguyện nào đó của người lập di chúc. Nội dung di chúc
trong trường hợp này thường là những lời căn dặn người còn sống cách sống,
cách đối xử với nhau, giao các nghĩa vụ đạo đức… Mặc dù không nhằm
chuyển dịch bất cứ loại tài sản nào của người lập di chúc nhưng loại di chúc
này có ý nghĩa nhất định (đặc biệt là về mặt tinh thần) đối với những người
còn sống. Đây là loại di chúc khá phổ biến, nó thường được thể hiện ở lời căn
dặn của người sắp chết với những người thân và cũng có thể được thiết lập
bằng văn bản. Loại di chúc này không được Luật Dân sự điều chỉnh do các

10
nghĩa vụ được đề cập đến trong di chúc này là những nghĩa vụ tự nhiên, người
có nghĩa vụ có thực hiện nghĩa vụ hay không là phụ thuộc vào lương tâm, đạo
đức không ai ép buộc và nếu không thực hiện nghĩa vụ thì họ cũng không
phải chịu trách nhiệm pháp lý. Khi vi phạm các nghĩa vụ được đề cập trong di
chúc thì người có nghĩa vụ gánh chịu sự lên án của xã hội, đặc biệt sự là sự
phản ứng của dòng họ và gia đình. Nếu có tranh chấp xảy ra liên quan đến di
chúc loại này pháp luật cũng không can thiệp và cũng không có căn cứ pháp
lý để giải quyết. Chỉ khi vì các tranh chấp đó mà các bên xảy ra xung đột và
có dấu hiệu của vi phạm pháp luật thì khi đó các cơ quan chức năng mới có
thẩm quyền giải quyết. Cơ sở pháp lý để giải quyết xung đột trong trường hợp
này không phải là các quy phạm pháp luật thừa kế mà là các quy phạm thuộc
các ngành luật khác có liên quan.
Như vậy, chỉ những di chúc thể hiện ý chí của cá nhân về việc định
đoạt tài sản cá nhân nhằm để chuyển giao tài sản của mình cho người khác
sau khi chết mới được Luật Dân sự điều chỉnh. Luật Dân sự quy định về nội
dung, hình thức, điều kiện có hiệu lực của di chúc… Trong cùng một di chúc
bên cạnh việc định đoạt tài sản người lập di chúc có thể đề cập đến các nghĩa

hiện tượng, quá trình.
Trong thời hạn năm ngày, kể từ ngày người di chúc miệng thể hiện ý
chí cuối cùng thì di chúc phải được công chứng hoặc chứng thực và di chúc
miệng được coi là hợp pháp, nếu người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối
cùng của mình trước mặt ít nhất hai người làm chứng và ngay sau đó những
người làm chứng ghi chép lại những điều đó rồi cùng ký tên hoặc điểm chỉ.
Di chúc miệng là biện pháp để giải quyết tình thế cấp bách nhằm bảo đảm tối
đa quyền sở hữu, quyền tự do ý chí, quyền tự định đoạt của cá nhân đối với
tài sản của mình. Nhưng, lời nói nếu không được lưu giữ bằng một hình thức

12
vật chất cụ thể thì không có gì để kiểm chứng khi cần thiết như vậy định đoạt
tài sản bằng cách di chúc miệng sẽ rất dễ bị lợi dụng. Vì vậy, Luật Dân sự quy
định điều kiện có hiệu lực của di chúc miệng khắt khe hơn so với điều kiện có
hiệu lực của di chúc bằng văn bản. Trên cơ sở xem xét quy định về di chúc
miệng có thể nhận thấy cho dù như thế nào thì cuối cùng ý chí của người lập
di chúc vẫn phải thể hiện bằng văn bản mặc dù không phải do người lập di
chúc trực tiếp viết hay chứng kiến việc viết ra văn bản đó.
Thứ hai: Di chúc bằng văn bản:
Di chúc bằng văn bản có thể lập theo mẫu (phụ lục 1) hoặc theo cách
soạn thảo riêng của người lập di chúc. Nhưng đều phải đáp ứng được các điều
kiện luật định.
+) Di chúc bằng văn bản không có người làm chứng
Di chúc bằng văn bản không có người làm chứng có hiệu lực pháp lý
khi nội dung của di chúc đáp ứng được các quy định tại Đ635 BLDS năm
2005. Loại di chúc này phải được do tự tay người lập di chúc viết và ký vào
bản di chúc. Quy định này nhằm các định chính xác người có tài sản lập di
chúc bằng chữ viết của mình, tránh sự gian lận trong việc lập di chúc và là
chứng cứ chứng minh di chúc do chính người có tài sản lập ra mà không phải
do người khác.

chứng vào bản di chúc theo yêu cầu của người lập di chúc. Tuy nhiên, nếu
công chứng viên nhận thấy có dấu hiệu cho rằng người lập di chúc đã không
làm chủ hành vi lập di chúc do người này mắc bệnh tâm thần hay bệnh khác
làm mất khả năng điều khiển hành vi hoặc di chúc được lập do có sự lừa dối,
dọa nạt, áp đặt ý chí từ phía người khác thì công chứng viên có quyền từ chối
yêu cầu của người lập di chúc (trên thực tế việc xác định như thế nào là có
dấu hiệu cho rằng người lập di chúc không đủ điều kiện để lập di chúc hay di

14
chúc được lập do có sự lừa dối, dọa nạt, áp đặt ý chí từ phía người khác hoàn
toàn là do cảm tính và kinh nghiệm của công chứng viên chứ không hề có quy
định cụ thể nào về điều này, vì vậy nhiều khi kết quả không phản ánh chính
xác thực tế). Tương tự như vậy, ủy ban nhân dân nơi người lập di chúc yêu
cầu chứng thực bản di chúc cũng áp dụng để giải quyết yêu cầu chứng thực di
chúc của người lập di chúc. (Mẫu lời chứng được thực hiện theo phụ lục số 2)
+) Di chúc bằng văn bản còn được lập trong một số trường hợp đặc biệt
Trường hợp 1: Theo quy định tại Đ658 BLDS năm 2005 thì thủ tục lập
di chúc tại cơ quan công chứng, hoặc ủy ban nhân dân cấp xã theo những thủ
tục: “Người lập di chúc tuyên bố nội dung di chúc của mình trước công chứng
viên hoặc người có thẩm quyền chứng thực của ủy ban nhân dân cấp xã. Công
chứng viên hoặc người có thẩm quyền chứng thực có nghĩa vụ ghi chép đầy
đủ và trung thực nội dung do người lập di chúc công bố. Người lập di chúc ký
tên hoặc điểm chỉ vào bản di chúc sau khi đã xác nhận bản di chúc được ghi
chép đầy đủ và chính xác. Công chứng viên hoặc người có thẩm quyền chứng
thực của ủy ban nhân dân xã ký vào bản di chúc.”
K2 Đ658 BLDS năm 2005 quy định trường hợp người lập di chúc
không đọc được hoặc không nghe được bản di chúc, không ký hoặc không
điểm chỉ được thì phải nhờ người làm chứng và người này phải ký xác nhận
trước mặt công chứng viên hoặc người có thẩm quyền chứng thực của ủy ban
nhân cấp dân xã. Công chứng viên, người có thẩm quyền chứng thực của ủy

trưởng cơ quan cấp đại đội trở lên; di chúc của người đang đi trên máy bay,
tàu biển có xác nhận của người chỉ huy phương tiện đó; di chúc của người
đang điều trị tại bệnh viện, cơ sở chữa bệnh, điều dưỡng khác có xác nhận của
người phụ trách bệnh viện, cơ sở chữa bệnh đó; di chúc của người đang làm

16
công việc khảo sát, thăm dò, nghiên cứu ở vùng rừng núi, hải đảo có xác nhận
của người phụ trách đơn vị. Các tình huống lập di chúc này được quy định tại
Đ660 BLDS năm 2005.
Điều này thể hiện sự mềm dẻo, linh hoạt của pháp luật thừa kế Việt
Nam. Hiện thực khách quan trong từng điều kiện hoàn cảnh cụ thể tác động
tới người lập di chúc và việc lập di chúc. Khi rơi vào một trong các tình
huống cụ thể trên người lập di chúc không thể tiến hành việc lập di chúc theo
đúng trình tự, thủ tục thông thường được. Người lập di chúc cũng không thể
nhận thức được thực tế đó vào thời điểm chưa xảy ra sự kiện. Pháp luật thừa
kế coi đây là những trường hợp ngoại lệ và có quy định riêng đối với từng
trường hợp nhằm đảm bảo người có tài sản được lập di chúc để thể hiện ý chí
cá nhân. Cũng để dự liệu tránh các gian lận trong khi lập di chúc ở những tình
huống đặc biệt đó thì pháp luật thừa kế cũng quy định chặt chẽ và cá biệt hóa
từng loại di chúc được lập trong từng hoàn cảnh đặc biệt khác nhau. Quy định
này có tính thực tế cao và hoàn toàn phù hợp với hiện thực của các quan hệ xã
hội phong phú hiện nay, vì vậy đạt được hiệu quả trong việc điều chỉnh.
1.2.1.2. Điều kiện di chúc hợp pháp
Di chúc được lập ra không phải ngay lập tức có hiệu lực, nó chỉ ghi
nhận ý chí cá nhân tại thời điểm lập di chúc. Di chúc chỉ phát sinh hiệu lực
sau khi người lập di chúc chết. Vì vậy, khi còn sống người lập di chúc có
quyền sửa đổi, bổ sung, thay thế hay huỷ bỏ di chúc; Và cũng chỉ duy nhất
người lập di chúc mới có quyền này; Không ai có quyền vi phạm quyền tự do
thể hiện ý chí của người lập di chúc. Bất kỳ sự tác động nào tới việc sửa đổi,
bổ sung, thay thế hay hủy bỏ di chúc mà không theo ý chí của người lập di

ý chí này phải tôn trọng các quy định của pháp luật, tài sản được định đoạt
phải thuộc sở hữu hợp pháp của người lập di chúc, nghĩa vụ được giao cho
người hưởng thừa kế phải là công việc không bị cấm thực hiện.

18
+) “Nội dung di chúc không trái pháp luật, đạo đức xã hội”[12]
Người lập di chúc có tự do ý chí trong việc quyết định nội dung di
chúc. Nhưng nội dung đó phải tuân theo các quy định của pháp luật, đạo đức
xã hội. Không định đoạt tài sản cho những đối tượng là người không có đủ
điều kiện trở thành người hưởng thừa kế. Không được chuyển giao các loại tài
sản bị cấm … Ý chí người lập di chúc không được đi ngược lại truyền thống
đạo đức xã hội.
+) “Hình thức di chúc không trái quy định của pháp luật” [12]
“Di chúc của người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi mà
có tài sản riêng phải được lập thành văn bản và phải được cha, mẹ hoặc
người giám hộ đồng ý “[12]
Đối tượng này đã có thể có tài sản thuộc sở hữu cá nhân, tuy nhiên do
độ tuổi còn nhỏ nên chưa thực sự phát triển đầy đủ về mặt thể chất cũng như
tinh thần, chưa thể tự quyết được các vấn đề quan trọng liên quan đến bản
thân, đặc biệt là nhận thức về việc lựa chọn người thừa kế và phân định di sản
thừa kế; vì vậy, đây là đối tượng rất dễ bị lợi dụng. Cha mẹ hoặc người giám
hộ là những người có đầy đủ năng lực hành vi dân sự, họ vì quyền lợi của
người được giám hộ mà quyết định các vấn đề có liên quan.
“Di chúc của người bị hạn chế về thể chất hoặc của người không biết
chữ phải được người làm chứng lập thành văn bản và có công chứng hoặc
chứng thực”[12]. Quy định này nhằm đảm bảo bản di chúc thực sự là của
người có tài sản lập ra, nội dung thể hiện chính xác ý chí của người lập di
chúc. Và bản di chúc được đảm bảo tính trung thực bởi cơ quan công chứng
nhà nước hoặc ủy ban nhân dân cấp xã.
Di chúc bằng văn bản không có công chứng, chứng thực chỉ được


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status