ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
VŨ HỒNG MINH
QUYỀN CỦA NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN
THEO PHÁP LUẬT DÂN SỰ VIỆT NAM LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - 2010 mục lục
Trang
Trang phụ bìa Lời cam đoan Mục lục mở đầu
1
Ch-ơng 1: Những vấn đề lý luận về quyền của ng-ời
ch-a thành niên theo pháp luật dân sự
6
1.1.
Quyền của ng-ời ch-a thành niên theo Luật Hôn nhân và gia
đình năm 2000 và Bộ luật Dân sự năm 2005
42
2.1.2.
Quyền của ng-ời ch-a thành niên theo Luật lao động
62
2.2.
Một số tr-ờng hợp cụ thể trong quá trình giải quyết các vụ
việc dân sự có liên quan đến quyền của ng-ời ch-a thành niên
trên địa bàn tỉnh Bắc Giang
66
Ch-ơng 3: Ph-ơng h-ớng và giải pháp tăng c-ờng hiệu
quả của pháp luật dân sự nhằm thực hiện và
bảo vệ quyền của ng-ời ch-a thành niên trong
giai đoạn hiện nay
74
3.1.
Nhu cầu khách quan và ph-ơng h-ớng hoàn thiện pháp luật
dân sự về quyền của ng-ời ch-a thành niên
74
3.1.1.
Ng-ời ch-a thành niên - Thế hệ những chủ nhân t-ơng lai của
đất n-ớc là nhóm đối t-ợng đặc biệt luôn cần sự quan tâm và
bảo vệ từ phía nhà n-ớc, xã hội
74
3.1.2.
Tác động của định h-ớng phát triển kinh tế, xã hội - yêu cầu
hoàn thiện pháp luật nói chung, pháp luật dân sự nói riêng trong
1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong quan hệ pháp luật dân sự, việc xác định chủ thể, năng lực chủ
thể để đảm bảo thực hiện quyền và nghĩa vụ dân sự có ý nghĩa lý luận và thực
tiễn to lớn. Mỗi người, khi sinh ra đều là chủ thể quan hệ pháp luật. Tuy
nhiên, năng lực chủ thể của cá nhân tùy thuộc vào sức khỏe tâm sinh lý và độ
tuổi của cá nhân đó. Người chưa thành niên là chủ thể mà pháp luật phải dành
sự quan tâm đặc biệt bởi đa số người chưa thành niên là trẻ em.
Theo số liệu của cuộc điều tra về dân số năm 2009 cho thấy, tổng số
dân của Việt Nam tính đến thời điểm 0 giờ ngày 01 tháng 4 năm 2009 là
85.789.573 người, trong đó số người từ 0 đến dưới 15 tuổi chiếm 25%, số
người từ 15 đến dưới 60 chiếm 66% và số người từ 60 tuổi trở lên chiếm 9%.
Bộ luật Dân sự năm 2005 tại Điều 18 đã quy định: Người chưa thành
niên là người chưa đủ 18 tuổi. Mặc dù không có con số chính xác về số người
dưới 18 tuổi trong cơ cấu dân số về độ tuổi của Việt Nam, tuy nhiên chúng ta
có thể dự đoán con số này có thể nằm trong khoảng từ 28% đến 30%, có
nghĩa là tương đương với khoảng 24.000.000 người. Đây thực sự là một con
số không nhỏ, nó cho thấy chúng ta có một tiềm năng lớn về nguồn nhân lực
trong tương lai. Mặt khác đây cũng là nhóm dân số đặc biệt trong xã hội do
đặc điểm về độ tuổi và thể chất.
Tại Điều 1 Công ước của Liên Hợp Quốc về quyền trẻ em năm 1989
có quy định: " Trong phạm vi của Công ước này, trẻ em có nghĩa là mọi
người dưới 18 tuổi, trừ trường hợp luật pháp áp dụng với trẻ em đó quy định
tuổi thành niên sớm hơn" [11], bên cạnh việc quy định về độ tuổi để xác định
một người là trẻ em, Công ước này của Liên Hợp Quốc cũng đã dành nhiều
quy định và trao cho nhóm đối tượng này những quyền năng đặc biệt, tại lời
mở đầu của Công ước đã xác định: " tin tưởng rằng, gia đình với tư cách là
3
nghiêm chỉnh sẽ là một vấn đề rất cần thiết được nhìn nhận nghiêm túc hơn
nữa trong giai đoạn hiện nay.
2. Tình hình nghiên cứu
Việc ghi nhận và bảo đảm thực hiện các quyền dân sự của người chưa
thành niên là đề tài được quan tâm nghiên cứu của nhiều người và dưới nhiều
khía cạnh khác nhau. Tuy nhiên, khi xem xét dưới góc độ là đối tượng điều
chỉnh của pháp luật dân sự thì các quyền của người chưa thành niên trong
thực tế được thể hiện qua các công trình nghiên cứu hay các bài viết được
đăng trên các tạp chí chuyên ngành thường được khai thác và trình bày một
cách đơn lẻ, riêng biệt theo từng vấn đề cụ thể như quyền khai sinh, quyền
thay đổi họ tên, quyền được nhận làm con nuôi hay quyền được cấp dưỡng ,
hoặc có những trường hợp lại đươc xem xét một cách tổng hợp và không
được phân biệt theo các chuyên ngành pháp luật cụ thể như pháp luật hình sự,
pháp luật dân sự Điều này được nhận thấy qua việc tác giả tìm hiểu một số
các công trình nghiên cứu và một số các bài viết của các tác giả trong thời
gian qua mà tiêu biểu là luận văn thạc sĩ của tác giả Lê Thị Phương Nga với
đề tài "Pháp luật bảo vệ quyền trẻ em trong giai đoạn hiện nay", luận văn
thạc sĩ của tác giả Nguyễn Thị Hồng Oanh với đề tài "Chế định cấp dưỡng
trong pháp luật hôn nhân và gia đình năm 2000" hoặc luận án tiến sĩ của tác
giả Nguyễn Thị Phương Lan với đề tài "Cơ sở lý luận và thực tiễn của chế
định pháp lý về nuôi con nuôi ở Việt Nam".
Thông qua việc tìm hiểu, tác giả nhận thấy cần thiết có một công trình
nghiên cứu một cách tổng thể và tương đối toàn diện về việc ghi nhận và thực
hiện các quyền dân sự của người chưa thành niên một cách có hệ thống; từ đó,
xem xét và đưa ra những phương hướng và giải pháp cụ thể nhằm ngoài việc
góp phần hoàn thiện hơn hệ thống pháp luật dân sự trong lĩnh vực này còn góp
phần nâng cao hơn nữa nhận thức của xã hội đối với việc bảo đảm và bảo vệ các
quyền dân sự của người chưa thành niên, tạo những điều kiện cần thiết nhất để
thuộc ngành Luật dân sự Việt Nam, quy định và điều chỉnh các vấn đề về
quyền của người chưa thành niên. Bên cạnh đó, việc tìm hiểu, xem xét và
phân tích một số trường hợp cụ thể trong thực tiễn hoạt động của một số các cơ
quan tư pháp cũng góp phần giúp tác giả nghiên cứu đề tài một cách sâu sắc
hơn.
5. Điểm mới của luận văn
- Luận văn đã nghiên cứu và phân tích một cách cụ thể, chi tiết đặc
điểm của người chưa thành niên - một chủ thể đặc biệt trong quan hệ pháp
luât dân sự, xây dựng được khái niệm về người chưa thành niên và quyền của
người chưa thành niên theo pháp luật dân sự
- Luận văn có đánh giá thực trạng thi hành các quy định của pháp luật
dân sự liên quan tới các quyền của người chưa thành niên một cách toàn diện,
có hệ thống và từ đó đưa ra những giải pháp có tính đồng bộ nhằm thực hiện
và bảo vệ tốt hơn nữa các quyền dân sự của người chưa thành niên trong giai
đoạn hiện nay.
6. Phƣơng pháp nghiên cứu
Luận văn được thực hiện dựa trên việc vận dụng phương pháp luận
của chủ nghĩa duy vật biện chứng, chủ nghĩa duy vật lịch sử, phép biện chứng
của chủ nghĩa Mác - Lênin; tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật.
Bên cạnh đó luận văn còn sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể là
phân tích, đối chiếu, so sánh, thống kê và tổng hợp; phương pháp phân tích quy
phạm cũng được tác giả vận dụng để phân tích, bình luận nội dung của một số
chế định.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội
dung của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về quyền của người chưa thành niên
theo pháp luật dân sự.
6
năng lực pháp luật dân sự của cá nhân cũng có thể khác nhau trong mỗi một
giai đoạn lịch sử, thời kỳ phát triển nhất định. Năng lực pháp luật dân sự của
cá nhân được xác định là sự phản ánh địa vị của cá nhân trong xã hội đó và
được nhà nước ghi nhận trong các văn bản pháp luật. Một đặc điểm khác là
xét về năng lực pháp luật dân sự thì mọi cá nhân đều bình đẳng như nhau, có
8
nghĩa là mọi cá nhân đều có năng lực pháp luật dân sự như nhau mà không có
sự phân biệt về dân tộc, tôn giáo hay giới tính… các cá nhân đều có khả năng
như nhau về quyền dân sự và nghĩa vụ dân sự, khả năng này không bị hạn chế
ngoại trừ một số trường hợp đặc biệt được pháp luật quy định một cách rõ
ràng và chặt chẽ.
Một đặc điểm quan trọng khác về năng lực pháp luật dân sự của cá
nhân chính là tính liên tục, một cá nhân sẽ được xác định là có năng lực pháp
luật dân sự bắt đầu từ khi họ được sinh ra và năng lực này chỉ chấm dứt khi
họ chết. Việc xác định thời điểm một người sinh ra hay thời điểm người đó
chết có ý nghĩa pháp lý quan trọng làm phát sinh hay chấm dứt năng lực pháp
luật dân sự của cá nhân đó. Năng lực pháp luật dân sự của cá nhân không phụ
thuộc vào độ tuổi hay nhận thức của người đó mà sẽ gắn bó với cá nhân đó từ
khi họ được sinh ra đến khi họ chết đi.
Xét về mặt lý luận thì năng lực pháp luật dân sự của cá nhân chỉ xuất
hiện khi người đó được sinh ra; tuy nhiên, xuất phát từ thực tiễn của đời sống
mà pháp luật cũng đã có những ngoại lệ nhất định, trường hợp một người
chưa được sinh ra, khi họ vẫn còn là một bào thai cũng đã được hưởng một số
quyền nhất định hay nói cách khác là họ đã có năng lực pháp luật dân sự ở
một mức độ hạn chế, đó chính là trường hợp một người được sinh ra và còn
sống sau thời điểm mở thừa kế nhưng đã thành thai trước khi người để lại di
sản chết cũng được xác định là người thừa kế và được hưởng di sản của người
đã chết.
Cùng với năng lực pháp luật dân sự của cá nhân, năng lực hành vi dân
Theo từ điển tiếng Việt của Viện ngôn ngữ do nhà xuất bản từ điển
Bách Khoa phát hành năm 2006 thì: "Thành niên là đã đúng tuổi hưởng
quyền công dân và chịu trách nhiệm về hành vi của mình" [42], dưới góc độ
pháp luật dân sự thì cách hiểu như trên là chưa đầy đủ, tuy nhiên khi khẳng
10
định như vậy cũng có thể giúp cho người đọc hiểu được phần nào rằng một
người như thế nào thì được gọi là thành niên hay chưa thành niên và biết được
độ tuổi của một người sẽ làm căn cứ để xác định rằng họ đã được hưởng đầy
đủ các quyền cũng như nghĩa vụ của một công dân hay chưa.
Qua nghiên cứu và xem xét một số các quy định trong các văn bản
pháp luật dân sự của một vài hệ thống pháp luật sự khác nhau trên thế giới, có
thể hiểu rằng "người chưa thành niên" là một thuật ngữ nhằm chỉ một nhóm
xã hội thuộc về một độ tuổi nhất định và thông thường thì người chưa thành
niên được xác định là những người dưới 20 hoặc dưới 18 tuổi; thực chất thì
việc căn cứ vào độ tuổi chỉ là một phương pháp của pháp luật dân sự mà dựa
vào đó, người ta có thể xác định một người đã có sự trưởng thành đầy đủ về
mặt thể chất, trí tuệ hay chưa và từ đó mà pháp luật dân sự sẽ xác định và ghi
nhận cho họ có những quyền và nghĩa vụ dân sự tương ứng. Trên thực tế thì
việc căn cứ vào độ tuổi nhất định để xác định một người đã thành niên hay
chưa thành niên, đã có sự phát triển về mặt thể chất và trí tuệ đầy đủ hay chưa
giữa các quốc gia, các hệ thống pháp luật dân sự sẽ là khác nhau, điều này
phụ thuộc vào những điều kiện về tự nhiên cũng như về mặt chính trị xã
hội của các quốc gia hay vùng lãnh thổ đó, và mặc dù có những sự khác
nhau như vậy nhưng nhìn chung lại thì người chưa thành niên dù ở trong bất
kỳ một hệ thống pháp luật dân sự nào xét về mặt bản chất cũng đều được xác
định là những người chưa thực sự trưởng thành về tinh thần và thể lực, họ rất
cần nhận được sự quan tâm, bảo vệ và chăm sóc đặc biệt từ phía nhà nước và
xã hội. Xét dưới góc độ tâm lý, đặc điểm nổi bật của quá trình phát triển lứa
tuổi chưa thành niên chính là những biến chuyển nhanh của các em cả về mặt
định theo quy định của pháp luật dân sự.
Bên cạnh việc tìm hiểu và xây dựng khái niệm về người chưa thành
niên chúng ta cũng cần thiết tìm hiểu và phân tích đối với thuật ngữ "trẻ em".
Theo quy định tại Điều 1 - Công ước của Liên Hợp Quốc về quyền trẻ em thì:
"Trong phạm vi của công ước này, trẻ em có nghĩa là mọi người dưới 18 tuổi
12
trừ trường hợp luật pháp áp dụng với trẻ em đó quy định tuổi thành niên sớm
hơn", như vậy quy định trên của công ước có tính mở bởi lẽ nó thừa nhận việc
các quốc gia, vùng lãnh thổ có thể quy định về độ tuổi để xác định một người
được gọi là trẻ em có thể nhiều hơn hoặc ít hơn độ tuổi theo quy định tại công
ước dựa vào những điều kiện riêng biệt và đặc trưng của mình. Tại Luật Bảo
vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em Việt Nam năm 2004 có quy định: "Trẻ em
trong quy định này là công dân Việt Nam dưới 16 tuổi" [33]. Như vậy, mọi cá
nhân khi được xác định là người chưa thành niên xét dưới góc độ pháp luật
Việt Nam thì cũng sẽ được xác định là trẻ em theo công ước quốc tế, tuy
nhiên theo pháp luật Việt Nam thì không phải tất cả những người chưa thành
niên đều được xác định là trẻ em, mà chỉ những người chưa thành niên ở độ
tuổi dưới 16 mới được coi là trẻ em. Quy định như vậy phải chăng có sự
không thống nhất? Theo quan điểm của một số cá nhân thì pháp luật dân sự
Việt Nam cần có sự thống nhất và hợp nhất hai nhóm đối tượng là người chưa
thành niên và trẻ em là một và lấy độ tuổi 18 làm căn cứ để xác định, như vậy
sẽ phù hợp với thực tế và pháp luật quốc tế hơn?
Theo quan điểm của tác giả thì xét về mặt bản chất cả người chưa
thành niên cũng như trẻ em đều là những người chưa có sự trưởng thành và
phát triển đầy đủ về mặt thể chất cũng như tinh thần do độ tuổi của họ còn
nhỏ. Về mặt lý luận thì như chúng ta đã biết năng lực pháp luật dân sự của
mỗi cá nhân là bình đẳng, chỉ có năng lực hành vi dân sự của cá nhân thì mới
có sự phân biệt dựa vào độ tuổi và sự phát triển bình thường của mỗi cá nhân
và từ đó ta thấy rằng năng lực hành vi dân sự của người chưa thành niên và
Mọi cá nhân đều có năng lực pháp luật dân sự kể từ khi người đó sinh
ra, nhưng mỗi cá nhân chỉ có năng lực hành vi dân sự khi đã đạt đến một độ
tuổi nhất định và có sự phát triển bình thường về thể chất và trí tuệ.
Để có thể xác lập và thực hiện các quyền và nghĩa vụ dân sự của chính
mình, đòi hỏi cá nhân phải có khả năng nhận thức, điều khiển được hành vi
của mình và ý thức được hậu quả do hành vi của mình gây ra. Vì vậy, căn cứ
14
vào độ tuổi, khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của con người, pháp
luật dân sự đã phân biệt rõ các mức độ năng lực hành vi dân sự của cá nhân
với các khả năng tham gia vào quan hệ pháp luật dân sự và trở thành chủ thể
của những quan hệ đó.
Đối với những người chưa đủ sáu tuổi, pháp luật dân sự xác định họ là
những người không có năng lực hành vi dân sự, mọi giao dịch của những
người này đều phải do người đại diện xác lập và thực hiện. Họ chưa bao giờ
có năng lực hành vi bởi họ chưa có ý chí cũng như lí trí để hiểu được hành vi
và hậu quả của những hành vi đó. Đối với những người từ đủ sáu tuổi đến
dưới mười tám tuổi được pháp luật xác định là những người có năng lực hành vi
dân sự một phần. Họ có thể bằng hành vi của mình tạo ra quyền cũng như việc
phải chịu những nghĩa vụ khi tham gia các giao dịch để thoả mãn những nhu cầu
sinh hoạt hàng ngày phù hợp với lứa tuổi. Tuy pháp luật không quy định
những giao dịch nào là giao dịch "phục vụ nhu cầu sinh hoạt hàng ngày" và
"phù hợp với lứa tuổi " nhưng có thể hiểu, đó là những giao dịch có giá trị
nhỏ, phục vụ những nhu cầu học tập, vui chơi, cuộc sống được những người
đại diện của họ cho phép thực hiện mà không cần sự đồng ý của những người
đại diện (mua dụng cụ học tập, ăn quà, vui chơi giải trí ). Trên thực tế những
lứa tuổi khác nhau sẽ có những nhu cầu khác nhau. Người đại diện của những
người ở lứa tuổi này có thể yêu cầu tuyên bố những giao dịch do những người
đó thực hiện mà không có sự đồng ý của họ là vô hiệu. Nếu những người đại
diện không yêu cầu xem xét tính hiệu lực của những giao dịch này thì những
nhưng được bảo vệ như nhau khi các giá trị đó bị xâm hại, khi quyền nhân
thân bị xâm phạm thì chủ thể có quyền tự mình cải chính, yêu cầu người có
hành vi xâm phạm hoặc yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền buộc người
vi phạm chấm dứt hành vi vi phạm. Các quyền nhân thân của cá nhân theo
pháp luật dân sự được chia làm 02 nhóm đó là quyền nhân thân không gắn với
tài sản như quyền đối với họ tên, hình ảnh; quyền được pháp luật bảo đảm an
toàn về tính mạng, sức khoẻ, danh dự nhân phẩm, quyền tự do kết hôn, ly
hôn quyền nhân thân gắn với tài sản là những giá trị nhân thân khi được xác
16
lập sẽ làm phát sinh các quyền tài sản, quyền nhân thân trong trường hợp này
là tiền đề làm phát sinh các quyền tài sản khi có các sự kiện pháp lý nhất định
như quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp, chuyển giao công nghệ
Thứ hai: theo pháp luật dân sự thì cá nhân có quyền sở hữu, quyền
được hưởng thừa kế hoặc để lại di sản cho người thừa kế và các quyền khác
đối với tài sản như quyền yêu cầu cá nhân hoặc tổ chức phải bồi thường thiệt
hại cho mình do cá nhân, tổ chức đó gây ra. Quyền sở hữu là một trong những
quyền đặc biệt quan trọng của cá nhân, bởi thông qua quyền sở hữu, cá nhân
có thể thoả mãn nhu cầu vật chất hoặc tinh thần của mình. Tài sản mà cá nhân
có thể sở hữu theo pháp luật dân sự bao gồm thu nhập hợp pháp, của cải để
dành, nhà ở, tư liệu sản xuất, tư liệu sinh hoạt và các tài sản hợp pháp khác
mà không bị hạn chế về số lượng, giá trị.
Thứ ba: Một quyền dân sự vô cùng quan trọng nữa của cá nhân là
quyền tham gia vào các quan hệ dân sự và có các quyền dân sự phát sinh từ
quan hệ đó, tham gia vào các quan hệ dân sự thông qua các giao dịch dân sự
là biện pháp quan trọng và thông dụng nhất làm phát sinh các quyền dân sự
của cá nhân.
Trên đây là sự tìm hiểu về quyền của cá nhân nói chung theo pháp luật
dân sự, như chúng ta vẫn biết, quyền của cá nhân nói chung có nội hàm rộng
và nó có bộ phận hợp thành trong đó là quyền dân sự của người chưa thành
hệ xã hội mà người chưa thành niên tham gia để phân loại chúng theo các
nhóm quan hệ đó như trong quan hệ gia đình, trong quan hệ lao động - kinh
doanh - thương mại.
Trong mối quan hệ gia đình - đây là môi trường đặc biệt và về nguyên
tắc, gia đình không thể tách biệt cuộc sống của người chưa thành niên. Đây là
môi trường đầu tiên và vô cùng quan trọng đối với sự phát triển và hình thành
18
nhân cách của người chưa thành niên, xuất phát từ vai trò quan trọng của gia
đình cũng như sự ảnh hưởng của các mối quan hệ trong gia đình đối với sự
phát triển của người chưa thành niên mà pháp luật dân sự cũng đã có những
quy định nhằm ghi nhận và trao cho người chưa thành niên những quyền dân
sự đặc biệt như: Quyền được hưởng sự quan tâm, chăm sóc và giáo dục giữa
các thành viên trong gia đình; Quyền được có người giám hộ trong trường
hợp đặc biệt; Quyền không bị phân biệt và đối xử giữa các anh chị em trong
gia đình; Quyền được hưởng nghĩa vụ cấp dưỡng từ những người thân trong
gia đình; Quyền được bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp khi bố mẹ ly hôn;
Quyền được trông nom, chăm sóc, giáo dục sau khi bố mẹ ly hôn; Quyền
được bố hoặc mẹ, người không trực tiếp nuôi con chung sau ly hôn thăm
nom; Quyền được bố mẹ hoặc người giám hộ bồi thường thiệt hại do mình
gây ra; Quyền nhận cha, mẹ; Quyền được nhận làm con nuôi
Trong mối quan hệ lao động - kinh doanh - thương mại: đối với mỗi
một cá nhân thì lao động không những là một nghĩa vụ tự nhiên mà nó còn
được coi là một quyền dân sự của mọi cá nhân trong đó người chưa thành
niên cũng được xác định là một chủ thể đặc biệt trong quan hệ lao động, về
mặt lý luận thì quyền dân sự này có một ý nghĩa rất tích cực, nó giúp cho
những đối tượng là người chưa thành niên hiểu hơn về giá trị của lao động, về
trách nhiệm của mình trong cuộc sống tương lai. Pháp luật dân sự ghi nhận
người chưa thành niên có quyền lao động; tuy nhiên, xuất phát từ năng lực
hành vi của họ còn chưa đầy đủ, sức khoẻ và trí tuệ của họ chưa có sự phát
Ban sách Hình thư. Trước kia, trong nước việc kiện tụng
phiền nhiễu, quan giữ việc hình câu lệ luật văn, cốt làm khắc
nghiệt, thậm chí bị oan uổng. Vua lấy làm thương xót, sai trung thư
sửa định luật lệnh, châm chước cho thích dụng với thời bấy giờ,
làm sách hình luật của một triều đại, để cho người xem dễ hiểu.
20
Sách làm xong, xuống chiếu ban hành, dân lấy làm tiện. Đến đây,
phép xử hình thản nhiên rõ ràng, cho nên có lệnh đổi niên hiệu làm
Minh Đạo và đúc tiền Minh Đạo. Tháng 11, xuống chiếu rằng
những người từ 70 tuổi trở lên, 80 trở xuống, từ 10 tuổi trở lên, 15
tuổi trở xuống, và những người ốm yếu, cho đến các thân thuộc nhà
vua từ để tang 9 tháng, 1 năm trở lên, có phạm tội thì cho chuộc,
phạm tội thập ác thì không dự [14].
Theo Phan Huy Chú, bộ Hình thư có ba quyển và đây là bộ luật thành
văn đầu tiên của nước ta. Ngày nay, chúng ta không thể biết được trong bộ
luật này có những quy định nào liên quan đến trẻ nhỏ (vì đã bị thất truyền) tuy
nhiên cũng vào thời điểm này, ngoài việc ban hành bộ luật, các vua nhà Lý
còn ban hành nhiều đạo chiếu, lệnh trong đó có một số quan trọng đã được sử
sách ghi lại mà cụ thể là chiếu tháng 11 năm 1042 như sách Đại Việt sử ký
toàn thư đã dẫn. Đây là một minh chứng cho sự quan tâm tới trẻ nhỏ của xã
hội phong kiến từ thời Lý, mặc dù luật pháp thời kỳ này có tính hà khắc với
nhiều hình phạt hết sức dã man nhưng đối với đối tượng còn ít tuổi thì lại
được phép chuộc bằng tiền để tránh việc phải chịu hình phạt về thân thể.
Quốc triều hình luật hay còn gọi là Bộ luật Hồng Đức là bộ luật thành
văn cổ xưa nhất còn lưu giữ được đầy đủ cho đến ngày nay; cũng như các bộ
luật phong kiến khác, Bộ luật Hồng Đức cũng có bản chất giai cấp và bản
chất này được thể hiện rất rõ, với nhiệm vụ là bảo vệ địa vị thống trị, quyền
lợi của giai cấp phong kiến, củng cố trật tự đẳng cấp xã hội với những quy
định hà khắc. Tuy nhiên, Bộ luật Hồng Đức xét ở khía cạnh khác lại được
hoặc những đối tượng chứa chấp tang vật.
Tại quyển III chương Điền Sản Điều 4 quy định:
Khi chồng chết, con còn nhỏ mẹ đi cải giá mà lại đem bán
điền sản của con thì xử phạt năm mươi roi, trả tiền lại người mua,