Căn cứ xác lập quyền sở hữu chung của vợ chồng theo pháp luật Việt Nam - Pdf 25



ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
ĐINH THỊ MAI PHƢƠNG CĂN CỨ XÁC LẬP QUYỀN SỞ HỮU CHUNG CỦA VỢ CHỒNG THEO
PHÁP LUẬT VIỆT NAM

Ngành : Luật Học
Chuyên ngành : Luật dân sự
Mã số : 60 38 30

LUẬN VĂN THẠC SỸ LUẬT HỌC NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS. TS. HÀ THỊ MAI HIÊN
HÀ NỘI - NĂM 2008
chung của luật dân sự
2.1.2. Sự tồn tại của quan hệ hôn nhân hợp pháp 37 4
2.1.3. Các căn cứ xác định các tài sản chung của vợ chồng 52
2.2. Thực tiễn áp dụng 64
2.2.1. Những thuận lợi cơ bản trong việc áp dụng 64
2.2.2. Một số vƣớng mắc 67
Chƣơng 3. Những phƣơng hƣớng, giải pháp hoàn 79
thiện và nâng cao hiệu quả áp dụng pháp
luật về căn cứ xác lập quyền sở hữu chung
của vợ chồng
3.1. Sự cần thiết phải hoàn thiện và nâng cao hiệu quả 79
áp dụng pháp luật về căn cứ xác lập quyền sở hữu
chung của vợ chồng
3.2. Phương hướng, giải pháp hoàn thiện và nâng cao 81
hiệu quả áp dụng pháp luật về căn cứ xác lập quyền
sở hữu chung của vợ chồng
3.2.1. Giải pháp hoàn thiện pháp luật 82
3.2.2. Giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng 96
KẾT LUẬN 101
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 104
5

chú ý và đang ngày càng trở nên quan trọng trong đời sống xã hội.
Hiện nay, theo quy định của nƣớc ta, các căn cứ cơ bản để xác lập
quyền sở hữu chung của vợ chồng trƣớc hết là các căn cứ xác lập quyền sở
hữu nói chung theo quy định của pháp luật và sự tồn tại quan hệ vợ chồng.
Bên cạnh đó, theo Điều 27, 29 và 30 của Luật HNGĐ năm 2000, sở hữu
chung của vợ chồng có thể đƣợc xác lập trên cơ sở quy định của pháp luật
hoặc có thể do sự thỏa thuận của vợ chồng. Tuy nhiên, mối quan hệ giữa
các căn cứ này vẫn chƣa đƣợc thể hiện rõ trong luật làm phát sinh nhiều
trƣờng hợp không thể xác định đƣợc nhƣ trƣờng hợp vợ chồng thỏa thuận
chia tài sản chung trog thời kỳ hôn nhân và sử dụng tài sản này để đầu tƣ 7
sản xuất, kinh doanh. Khi đó lợi nhuận thu đƣợc từ hoạt động này nên đƣợc
coi là thu nhập hợp pháp trong thời kỳ hôn nhân và là tài sản chung của vợ
chồng hay sẽ là lợi tức thu đƣợc từ tài sản riêng theo Điều 30 của Luật và là
tài sản riêng của vợ, chồng vẫn đang là vấn đề chƣa ngã ngũ.
Bên cạnh đó, mặc dù pháp luật đã quy định khá đầy đủ về các căn cứ
xác lập tài sản chung của vợ chồng nhƣng với thời gian và thực tế sinh
động của xã hội, nhiều trƣờng hợp vẫn chƣa đƣợc pháp luật dự liệu hết hoặc
đã quy định nhƣng chƣa rõ ràng nhƣ việc xác định quan hệ vợ chồng trong
trƣờng hợp một bên bị toà án tuyên là đã chết mà trở về, vấn đề về việc thay
đổi giới tính, việc mua bán, trao đổi tài sản riêng trong thời kỳ hôn nhân….
dẫn đến những lúng túng khó khăn, vƣớng mắc trong quá trình áp dụng.
Thêm vào đó, quan niệm phong kiến cổ xƣa về việc ngƣời phụ nữ
khi đi lấy chồng thì theo chồng, thuộc về ngƣời chồng “xuất giá tòng phu”
và quan niệm coi trọng vấn đề tình cảm, tinh thần của ngƣời Á đông nên
thƣờng không có sự rạch ròi trong quan hệ tài sản của vợ chồng. Chính vì
vậy, khi ly hôn, việc xác định, phân chia tài sản thƣờng gặp nhiều khó
khăn, dẫn đến các tranh chấp xảy ra.

này chỉ dừng lại ở việc giới thiệu sơ lƣợc và giải thích các quy định của
pháp luật, đặc biệt đi sâu vào phân tích các căn cứ xác lập tài sản chung của
vợ chồng chứ không phân tích tổng thể các căn cứ xác lập quyền sở hữu
chung của vợ chồng. Hiện nay cũng chƣa có một sách tham khảo nào đề
cập cụ thể, nghiên cứu về bản chất của vấn đề này.
Đề tài “Căn cứ xác lập quyền sở hữu chung của vợ chồng theo pháp
luật Việt Nam hiện hành” mong muốn tìm hiểu, nghiên cứu các quy định
hiện hành về căn cứ xác lập quyền sở hữu chung của vợ chồng trên cơ sở
nghiên cứu bản chất của sở hữu của vợ chồng để từ đó đƣa ra một số
phƣơng hƣớng và giải pháp nhằm hoàn thiện và nâng cao hiệu quả áp dụng
pháp luật về căn cứ xác lập quyền sở hữu chung của vợ chồng.
3. Mục đích, nhiệm vụ, phạm vi nghiên cứu của đề tài
Mục đích của đề tài là dựa trên cơ sở lý luận để nghiên cứu các quy 9
định của luật thực định về các căn cứ xác lập quyền sở hữu chung của vợ
chồng, tìm hiểu thực tiễn áp dụng các quy định này; từ đó đƣa ra một số
phƣơng hƣớng và giải pháp nhằm hoàn thiện và nâng cao hiệu quả áp dụng
pháp luật về căn cứ xác lập quyền sở hữu chung của vợ chồng.
Với mục đích trên, đề tài có nhiệm vụ sau:
- Nghiên cứu các đặc điểm, yếu tố quyết định đối với quyền sở hữu
chung của vợ chồng để từ đó tìm hiểu việc xác định các căn cứ xác lập
quyền sở hữu chung của vợ chồng.
- Nghiên cứu các căn cứ xác lập quyền sở hữu chung của vợ chồng ở
hệ thống pháp luật của một số nƣớc trên thế giới cũng nhƣ quá trình phát
triển các quy định của pháp luật Việt Nam về các căn cứ xác lập quyền sở
hữu chung của vợ chồng.
- Nghiên cứu các quy định hiện hành của Việt Nam về các căn cứ
xác lập quyền sở hữu chung của vợ chồng và thực tiễn áp dụng các quy

5. Cơ cấu, cấu trúc luận văn
Luận văn đƣợc chia thành 3 phần chính bao gồm:
Mở đầu
Kết quả nghiên cứu
Chƣơng I. Những vấn đề lý luận về căn cứ xác lập quyền sở hữu
chung của vợ chồng
Chƣơng II. Quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về căn
cứ xác lập quyền sở hữu chung của vợ chồng và thực
tiễn áp dụng
Chƣơng III. Những phƣơng hƣớng, giải pháp hoàn thiện và nâng
cao hiệu quả áp dụng pháp luật về căn cứ xác lập
quyền sở hữu chung của vợ chồng
Kết luận
11
CHƢƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ
CĂN CỨ XÁC LẬP QUYỀN SỞ HỮU CHUNG CỦA VỢ CHỒNG

1.1. Khái niệm, đặc điểm, vai trò sở hữu chung của vợ chồng
Quan hệ sở hữu chung của vợ chồng là quan hệ xã hội khách quan.
Khi có quan hệ hôn nhân, quan hệ vợ chồng thì cuộc sống chung của họ sẽ
tạo ra những giá trị chung về vật chất và tinh thần và sở hữu tài sản chung
khi đó là cơ sở vật chất cho đời sống chung của hai ngƣời, là điều kiện để
họ thực hiện các chức năng xã hội của gia đình nhƣ sinh đẻ, giáo dục nuôi
dƣỡng, thoả mãn những nhu cầu chung cũng nhƣ của cá nhân họ.
Trong xã hội có nhà nƣớc và pháp luật, khi sở hữu là đối tƣợng lập
pháp thì sở hữu cá nhân, sở hữu gia đình, sở hữu vợ chồng cũng là một đối

Tùy từng thời điểm lịch sử và đặc điểm xã hội của từng nƣớc, quan
điểm về quyền tự do cá nhân trong sở hữu lại đƣợc ghi nhận rộng hay hẹp
khác nhau và đƣợc phản ánh một cách rõ nét trong sở hữu chung của vợ
chồng thông qua mức độ công nhận quyền tự do thỏa thuận của các chủ thể
trong sở hữu chung của vợ chồng.
Sự phản ánh này đƣợc thể hiện cơ bản qua ba khía cạnh lớn là sự ghi
nhận của pháp luật về sự thoả thuận của các bên trong việc thiết lập, tạo
dựng quan hệ sở hữu chung của vợ chồng cũng nhƣ trong việc xác định các
tài sản thuộc sở hữu chung của vợ chồng và thoả thuận của các bên trong
việc thực hiện quyền sở hữu chung của vợ chồng.
Trong việc thiết lập, tạo dựng quan hệ sở hữu chung của vợ chồng,
nếu nhƣ trƣớc kia, với quan điểm và sự ghi nhận rất hạn chế của xã hội về
quyền tự do cá nhân trong sở hữu cũng nhƣ quyền tự do dân sự cuả cá
nhân, sự thoả thuận, thống nhất ý chí của hai bên chủ thể đã đƣợc ghi nhận
rất hạn chế trong sở hữu chung của vợ chồng. Ví dụ dƣới thời kỳ phong
kiến, quyền tự do cá nhân ít khi đƣợc nhắc đến nên sự thỏa thuận của các
bên trong việc tạo lập quan hệ hôn nhân mà trên đó sở hữu chung của vợ
chồng đƣợc thiết lập cũng không hề đƣợc quan tâm, chú ý đến. Mà yếu tố 13
tiên quyết lại chính là sự quyết định của hai bên dòng họ, gia đình. Đến
ngày nay, với sự ghi nhận và bảo đảm rất cao của quyền tự do cá nhân, sự
thỏa thuận, thống nhất ý chí của các bên chủ thể trong việc tạo lập quan hệ
hôn nhân hay quan hệ sở hữu chung của vợ chồng đƣợc coi là một yếu tố
quyết định. Chính hai bên chủ thể chứ không phải ai khác là ngƣời trƣớc
tiên tự quyết định có xác lập quan hệ hôn nhân với nhau hay không. Không
ai có thể ép buộc hoặc dùng bất cứ một biện pháp nào, hình thức nào để bắt
buộc hai bên xác lập quan hệ hôn nhân hợp pháp mà không có sự đồng ý
của các chủ thể đó.

thể xác lập quan hệ hôn nhân mà đã trở thành một vấn đề của cả xã hội, ảnh
hƣởng tới toàn xã hội từ đó, gia đình đƣợc coi là một tế bào của xã hội là
nền tảng của xã hội. Chính vì vậy, sở hữu chung của vợ chồng không chỉ
phản ánh quan điểm, tƣ tƣởng của xã hội về quyền tự do cá nhân, quyền tự
do dân sự mà còn phản ánh quan điểm xã hội trong việc bảo đảm và duy trì
sự ổn định, phát triển của xã hội thông qua quan điểm của xã hội về chức
năng của gia đình.
Điều này đƣợc thể hiện trƣớc hết qua việc pháp luật quy định về các
điều kiện để xác lập quan hệ hôn nhân hợp pháp mà trên đó sở hữu chung của
vợ chồng đƣợc tạo lập. Kể cả trong trƣờng hợp sự thỏa thuận, ý chí tạo dựng
quan hệ hôn nhân hợp pháp của các bên đƣợc coi là yếu tố tiên quyết thì pháp
luật vẫn có những quy định về các điều kiện để xác lập quan hệ hôn nhân hợp
pháp mà các bên chủ thể phải tuân theo. Các điều kiện này, tùy từng thời điểm
lịch sử, đặc điểm xã hội của mỗi nƣớc lại đƣợc quy định khác nhau và luôn
phản ánh quan điểm của xã hội về chức năng của gia đình nhằm bảo vệ trật tự,
sự ổn định và phát triển của chính xã hội đó. Ví dụ, ở thời kỳ phong kiến, việc
kết hôn với việc tạo lập nên gia đình đƣợc coi là để duy trì nòi giống, phát
triển giòng họ nên sự đồng ý, xác nhận của hai bên giòng họ đƣợc coi là
những điều kiện tiên quyết để công nhận mối quan hệ hôn nhân hợp pháp
giữa hai bên chủ thể. Ngoài ra, pháp luật ở thời kỳ nào cũng yêu cầu việc xác
lập quan hệ hôn nhân để từ đó xác lập quyền sở hữu chung của vợ chồng phải
đƣợc tiến hành theo những hình thức nhất định và phải đƣợc pháp luật quy 15
định. Nhƣ vậy, với các quy định về điều kiện kết hôn, điều kiện công nhận
hôn nhân hợp pháp để từ đó tạo lập nên sở hữu chung của vợ chồng, pháp
luật qua đó đã định hƣớng và góp phần để sở hữu chung của vợ chồng phản
ánh quan điểm về ổn định và phát triển xã hội.
Quan điểm của xã hội về chức năng của gia đình, về bảo vệ trật tự và

tâm hơn. Vì vậy, các quy định về sở hữu chung của vợ chồng đang ngày
càng có vai trò, vị trí hết sức to lớn. Do điều kiện có hạn, dƣới đây chỉ đề
cập đến vấn đề về căn cứ xác lập quyền sở hữu chung của vợ chồng.
1.2. Vấn đề xác định căn cứ xác lập quyền sở hữu chung của vợ
chồng
Sở hữu chung của vợ chồng phản ánh và đƣợc quyết định bởi quan
điểm xã hội về quyền tự do cá nhân, quyền tự do dân sự của cá nhân và
quan điểm xã hội về các chức năng, vai trò của gia đình. Chính vì vậy, các
căn cứ xác lập quyền sở hữu chung của vợ chồng cũng phản ánh và đƣợc
quyết định bởi các quan điểm này.
Các quan điểm này, tùy theo từng thời kỳ lịch sử và đặc điểm của
từng xã hội khác nhau lại khác nhau, do đó, các căn cứ xác lập quyền sở
hữu chung của vợ chồng tùy theo từng thời kỳ lịch sử và đặc điểm của từng
xã hội khác nhau cũng đƣợc quy định khác nhau. Tuy nhiên, có thể thấy,
thông thƣờng bao gồm các nhóm căn cứ sau:
- Thứ nhất là các căn cứ xác lập quyền sở hữu nói chung theo quy
định của pháp luật dân sự
- Thứ hai là sự tồn tại của quan hệ hôn nhân hợp pháp
- Thứ ba là các căn cứ xác định tài sản chung của vợ chồng bao gồm
sự thoả thuận của các bên chủ thể hoặc theo quy định của pháp luật.
Thiếu một trong các căn cứ, điều kiện trên, sở hữu chung của vợ
chồng không thể đƣợc xác lập. Và tùy từng đặc điểm xã hội khác nhau mà
các nhóm căn cứ này lại đƣợc quy định khác nhau trên cơ sở quan điểm của
xã hội về quyền tự do cá nhân, quyền tự do dân sự của cá nhân và quan
điểm xã hội về các chức năng, vai trò của gia đình. 17
1.2.1. Các căn cứ xác lập quyền sở hữu nói chung:
Vì sở hữu chung của vợ chồng là một hình thức sở hữu nên các căn

liên tục, công khai phù hợp với thời hiệu quy định tại khoản 1
Điều 247 BLDS năm 2005.
8. Các trƣờng hợp khác do pháp luật quy định”
1.2.2. Sự tồn tại của quan hệ hôn nhân hợp pháp:
Sở hữu chung của vợ chồng là sở hữu của hai chủ thể đặc biệt là vợ
chồng, vì vậy không thể tồn tại bên ngoài quan hệ hôn nhân hợp pháp. Nói
cách khác sự tồn tại của quan hệ hôn nhân hợp pháp là một trong những
căn cứ quan trọng để xác lập quyền sở hữu chung của vợ chồng.
Tuy nhiên, việc xác định thế nào là quan hệ hôn nhân hợp pháp lại
đƣợc quyết định bởi quan niệm xã hội về quyền tự do cá nhân cũng nhƣ
quan điểm xã hội về các chức năng xã hội của gia đình.
Ngày nay, với quan điểm công nhận và bảo đảm các quyền tự do cá
nhân đồng thời quan tâm, chú ý, định hƣớng phát triển xã hội, gia đình, ý
chí và sự thỏa thuận của các bên chủ thể đƣợc coi là cơ sở nền tảng, quyết
định trong việc xác lập, duy trì sự tồn tại của quan hệ hôn nhân hợp pháp,
bên cạnh đó có những điều kiện khác nhằm đảm bảo cho gia đình có thể
thực hiện đƣợc các chức năng xã hội của mình.
Theo đó, quan hệ hôn nhân hợp pháp đƣợc coi là bắt đầu bằng sự
kiện kết hôn theo pháp luật và chấm dứt khi một bên chết, hoặc bị Tòa án
tuyên bố là đã chết, khi vợ và chồng ly hôn.
Về nguyên tắc, kết hôn là việc nam và nữ xác lập quan hệ vợ chồng
theo quy định của pháp luật và đăng ký kết hôn. Ở một số nƣớc, kết hôn có
thể đƣợc xác lập giữa một ngƣời đàn ông và nhiều ngƣời đàn bà mà không
cần có sự chấm dứt của quan hệ hôn nhân trƣớc (hôn nhân đa thê), mặt
khác, một số nƣớc cũng thừa nhận tính hợp pháp của hôn nhân đồng giới.
Ở Việt nam, chỉ thừa nhận việc kết hôn giữa một bên là nam và một bên là 19
nữ và không công nhận hôn nhân đa thê, đa phu. Để tiến hành việc kết hôn,

20
lực hành vi hay không nhận thức đƣợc hành vi của mình.
- Điều kiện về mối quan hệ thân thích: Theo đó, những ngƣời có
cùng dòng máu về trực hệ, những ngƣời có quan hệ họ hàng, anh chị em
thƣờng không đƣợc kết hôn với nhau. Luật Hôn nhân và gia đình hiện hành
của Việt Nam quy định cấm kết hôn giữa những ngƣời cùng dòng máu về
trực hệ, giữa những ngƣời có họ trong phạm vi ba đời, giữa cha mẹ nuôi
với con nuôi, giữa ngƣời đã từng là cha, mẹ nuôi với con nuôi, bố chồng
với con dâu, mẹ vợ với con rể, bố dƣợng với con riêng của vợ, mẹ kế với
con riêng của chồng. [19]
- Điều kiện về việc không tồn tại hôn nhân với ngƣời khác: Mặc dù
nhƣ trên đã nói, pháp luật một số nƣớc thừa nhận hôn nhân đa thê nhƣng
nhìn chung các nƣớc đều cấm ngƣời đang có vợ, có chồng không đƣợc kết
hôn với ngƣời khác.
Thiếu một trong các điều kiện trên, việc kết hôn giữa hai đƣơng sự
không đƣợc công nhận, khi đó quan hệ vợ chồng không tồn tại và theo đó,
quan hệ sở hữu chung của vợ chồng cũng không tồn tại.
Hôn nhân có thể bị chấm dứt trong các trƣờng hợp: Vợ hoặc chồng
chết hoặc bị Tòa án tuyên bố là đã chết hoặc vợ và chồng ly hôn.
Ly hôn là việc chấm dứt quan hệ hôn nhân (về mặt pháp lý) ngay
trong lúc cả vợ và chồng đều còn sống. Đây là biện pháp cuối cùng mà
pháp luật cho phép thực hiện trong trƣờng hợp cuộc sống vợ chồng lâm vào
tình trạng khủng hoảng mà không thể đƣợc khắc phục bằng bất kỳ biện
pháp nào khác. Về vấn đề này, luật các nƣớc, ở các thời kỳ khác nhau cũng
có sự nhìn nhận khác nhau: ở một số nƣớc thời kỳ nguyên sơ, hôn nhân
đƣợc xác lập và đƣợc duy trì chỉ nhờ vào sự ƣng thuận lúc đầu (lúc kết
hôn), cũng giống nhƣ sự ƣng thuận khi giao kết hợp đồng, một khi đã ƣng
thuận kết hôn, ngƣời kết hôn không thể thay đổi ý nghĩa, nghĩa là phải chấp
nhận cuộc sống chung cho đên cuối đời. Quan niệm này đƣợc duy trì khá


đặc biệt là ở các nƣớc tƣ bản chủ nghĩa. Theo đó, pháp luật cho phép hai vợ 22
chồng có quyền tự do thỏa thuận xác định các tài sản nào trong khối tài sản
của vợ chồng sẽ thuộc quyền sở hữu chung, đƣợc chiếm hữu, sử dụng, định
đoạt chung. Sự thoả thuận này do chính hai vợ chồng cùng nhau quyết
định, đi đến thống nhất và chỉ phụ thuộc vào ý chí của hai bên mà thôi.
Quy định của pháp luật chỉ can thiệp và là căn cứ để xác lập quyền sở hữu
chung của vợ chồng trong trƣờng hợp hai vợ chồng không có sự thỏa thuận
về tài sản chung.
Tuy nhiên, dù coi trọng quyền tự do cá nhân đến đâu thì gia đình vẫn
luôn luôn có những chức năng xã hội của nó, vì vậy, bên cạnh việc bảo
đảm quyền tự do cá nhân để bảo đảm sự ổn định, phát triển của xã hội, gia
đình, pháp luật các nƣớc này đều có sự quy định rất cụ thể về sự thoả thuận
này. Thỏa thuận của vợ chồng về tài sản chung phải đƣợc lập thành văn
bản, thƣờng gọi là khế ƣớc hay hôn ƣớc và không đƣợc trái với các quy
định của pháp luật cũng nhƣ đạo đức xã hội (trật tự công cộng) đồng thời
phải đƣợc các cơ quan có thẩm quyền xác nhận, nếu không sẽ bị coi là vô
hiệu. Thậm chí, để đảm bảo ổn định xã hội, pháp luật nhiều nƣớc trƣớc đây
còn yêu cầu thoả thuận này phải đƣợc thực hiện trƣớc khi kết hôn và không
đƣợc thay đổi sau khi đã kết hôn.
Đến nay, cùng với sự phát triển của xã hội, do tính chất khó có thể
dự liệu trƣớc của các nghĩa vụ chung cũng nhƣ khả năng tạo lập tài sản của
hai bên và để mở rộng hơn quyền tự do của các cá nhân, pháp luật của một
số nƣớc đã bắt đầu cho phép hai bên đƣợc sửa đổi thỏa thuận về tài sản
chung trƣớc khi kết hôn sau một thời gian hoặc có thể có những thỏa thuận
về tài sản trong thời kỳ hôn nhân. Tuy nhiên, các thỏa thuận này cũng phải
tuân theo những hình thức và điều kiện nhất định. Ví dụ Điều 1397 BLDS
Pháp (Luật số 65-570 ngày 13/7/1965 và Luật số 89-18 ngày 13/1/1989) có

chồng có đƣợc trƣớc khi kết hôn vẫn thuộc quyền sở hữu riêng của mỗi bên
vợ, chồng. Chế độ này đƣợc áp dụng ở Pháp với BLDS năm 1804 và ở
miền Nam nƣớc ta trƣớc ngày giải phóng với Sắc luật 15/64 ngày
23/7/1964. 24
ở chế độ cộng đồng tạo sản: khối tài sản chung của vợ chồng lại bị
hạn chế hơn nữa, chỉ bao gồm tất cả các tài sản mà hai vợ chồng có đƣợc
trong thời kỳ hôn nhân và các hoa lợi, lợi tức có đƣợc từ tài sản riêng của
mỗi bên. Các tài sản mà vợ hoặc chồng có đƣợc trƣớc khi kết hôn dù là
động sản hay bất động sản đều thuộc quyền sở hữu riêng của mỗi bên vợ,
chồng. Chế độ này đƣợc chọn làm chế độ tài sản pháp định ở BLDS Nhật
Bản (Điều 762), Bộ luật dân sự và thƣơng mại Thái Lan (Điều 1471 và
1474), Luật GĐ của Bungari (Điều 13)
Ở chế độ phân sản: khối tài sản chung của vợ chồng đã bị thu hẹp tối
đa, không còn tài sản chung của vợ, chồng nữa. Các tài sản mà hai bên vợ,
chồng có đƣợc trƣớc hay sau khi kết hôn đều thuộc quyền sở hữu riêng của
mỗi bên vợ, chồng, ngƣời vợ hay chồng có toàn quyền chiếm hữu, sử dụng,
định đoạt các tài sản của mình. Các nghĩa vụ chung nhằm đảm bảo lợi ích
chung của gia đình đƣợc thực hiện qua việc đóng góp tuỳ theo khả năng của
mỗi bên vợ, chồng. Chế độ tài sản này đã từng đƣợc áp dụng ở Italia, ở Anh
Ngày nay, với sự phát triển của xã hội, ở nhiều nƣớc trên thế giới có sự
đan xen, coi trọng cả hai vấn đề về quyền tự do cá nhân, quyền tự do trong sở
hữu và vấn đề bảo vệ chức năng xã hội của gia đình. Vì vậy, bên cạnh việc
xác định sở hữu chung của vợ chồng hoàn toàn trên cơ sở các dự liệu, quy
định của pháp luật hoặc hoàn toàn trên cơ sở thỏa thuận của vợ, chồng pháp
luật của nhiều nƣớc còn cho phép các bên chủ thể có quyền thỏa thuận xác
định các tài sản thuộc sở hữu chung của vợ chồng cùng với việc áp dụng quy
định của pháp luật để xác định tài sản chung của vợ chồng. Ở những nƣớc

của ngƣời đứng đầu dòng họ đồng ý. Sự kiện đánh dấu việc kết hôn, hình
thành quan hệ vợ chồng của hai bên về cơ bản cũng đƣợc coi là từ khi viên
chức hộ lại xác nhận và ghi vào sổ về việc kết hôn của hai bên. Tuy nhiên,
theo tục lệ, và nhằm đảm bảo quyền lợi của hai bên dòng họ, ngay từ sau
khi đính hôn, hai bên đã có những ràng buộc nhất định.
Cũng với quan niệm về việc duy trì dòng họ, nòi giống, việc chấm
dứt quan hệ hôn nhân ở thời kỳ này đƣợc coi là một vấn đề rất nghiêm 26
trọng và phải đáp ứng những điều kiện ngặt nghèo trong đó chỉ có ngƣời
chồng mới có quyền bỏ vợ và chỉ có thể bỏ vợ khi vợ phạm vào tội thất
xuất (bảy lỗi của ngƣời vợ) nhƣ: không có con, dâm đãng, ghen tuông,
trộm cắp, bất hòa, ác tật, không kính trọng bố mẹ chồng v.v…
Về tài sản chung của vợ chồng, pháp luật thời kỳ này không cho
phép các bên chủ thể thỏa thuận về tài sản chung nhƣng cũng không có quy
định cụ thể, riêng rẽ về vấn đề này do hôn nhân đƣợc coi là để duy trì dòng
họ, nòi giống, ngƣời vợ sau khi kết hôn đƣợc coi là đã đi theo gia đình nhà
chồng, kể cả khi chết, ngƣời vợ này cũng vẫn đƣợc coi là thuộc về dòng họ
nhà chồng. Chính vì vậy, tài sản chung của hai vợ chồng hầu nhƣ không
đƣợc đề cập tới mà chủ yếu chỉ là tài sản của cả gia đình, dòng họ.
1.3.2 Thời kỳ Pháp thuộc:
Thời kỳ này, thực dân Pháp chia cắt đất nƣớc ta làm ba miền, mỗi
miền áp dụng một bộ dân luật để điều chỉnh quan hệ hôn nhân và gia đình.
Ở Bắc kỳ là Bộ dân luật 1931 (đƣợc gọi là Bộ Dân luật Bắc kỳ), ở Trung
Kỳ là Bộ dân luật 1936 (đƣợc gọi là Bộ Dân luật Trung kỳ) và ở Nam Kỳ
là Dân luật giản yếu 1883 (đƣợc gọi là Bộ Dân luật giản yếu).
Tuy nhiên, nhìn chung quan điểm của xã hội về chức năng xã hội
của gia đình vẫn không thay đổi chính vì vậy cả ba bộ dân luật vẫn duy trì
chế độ đa thê (nhiều vợ) và việc kết hôn của nam và nữ, dù đã thành niên


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status