ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
LÊ THỊ THU HƢƠNG
QUYÒN Vµ NGHÜA Vô CñA NG¦êI Sö DôNG §ÊT Lµ Vî CHåNG
THEO PH¸P LUËT VIÖT NAM
LUẬT VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - 2015
I HC QUC GIA H NI
KHOA LUT
Lấ TH THU HNG
QUYềN Và NGHĩA Vụ CủA NGƯờI Sử DụNG ĐấT Là Vợ CHồNG
THEO PHáP LUậT VIệT NAM
Chuyờn ngnh: Lut kinh t
Mó s: 60 38 01 07
LUT VN THC S LUT HC
Cỏn b hng dn khoa hc: PGS. TS. DON HNG NHUNG
H NI - 2015
LỜI CAM ĐOAN
1.1.3. Các hình thức pháp lý xác lập quyền của người sử dụng đất ............ 10
1.2.
Khái niệm, đặc trƣng về quyền và nghĩa vụ của ngƣời sử
dụng đất là vợ chồng ........................................................................ 16
1.2.1. Khái niệm quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất là vợ chồng .... 16
1.2.2. Đặc trưng chế độ tài sản là quyền sử dụng đất của vợ chồng ........... 20
1.3.
Nội dung pháp luật về quyền và nghĩa vụ của ngƣời sử dụng
đất là vợ chồng .................................................................................. 23
Kết luận chƣơng 1 ......................................................................................... 26
Chƣơng 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ QUYỀN VÀ NGHĨA
VỤ CỦA NGƢỜI SỬ DỤNG ĐẤT LÀ VỢ CHỒNG ................... 27
2.1.
Quyền và nghĩa vụ chung của ngƣời sử dụng đất ......................... 27
2.1.1. Quyền chung của người sử dụng đất .................................................. 27
2.1.2. Nghĩa vụ chung của người sử dụng đất.............................................. 41
2.2.
Đánh giá quyền và nghĩa vụ của ngƣời sử dụng đất là vợ chồng ... 43
2.2.1. Điều kiện chung chuyển quyền sử dụng đất ...................................... 43
2.2.2. Thời điểm có hiệu lực của hợp đồng chuyển quyền sử dụng đất ...... 48
3.2.3. Hoàn thiện qui định pháp luật về tính thuế thu nhập cá nhân khi
vợ chồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất..................................... 82
3.2.4. Kiến nghị biện pháp quản lý tài sản chung của vợ chồng khi vợ,
chồng có yêu cầu ly hôn ..................................................................... 83
3.2.5. Kiến nghị nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về thông báo
thông tin tranh chấp về đất đai và tình trạng hôn nhân của vợ chồng ... 85
3.2.6. Kiến nghị bổ sung thông tin trong giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất của vợ chồng........................................................................ 86
Kết luận chƣơng 3 ......................................................................................... 88
KẾT LUẬN .................................................................................................... 89
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ..................................................... 90
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
CHXHCN:
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa
GCN:
Giấy chứng nhận
HN&GĐ:
Hôn nhân và gia đình
KT – XH:
trong việc tiếp cận đất đai; khắc phục những bất cập về bồi thường, hỗ trợ khi Nhà
nước thu hồi đất; đổi mới công tác giải quyết tranh chấp, khiếu nại về đất đai; Các
quyền của người sử dụng đất được mở rộng và được Nhà nước bảo đảm thực hiện đã
làm cho người sử dụng đất gắn bó hơn với đất đai, yên tâm đầu tư, phát triển sản
xuất, kinh doanh để tăng hiệu quả sử dụng đất; Thị trường bất động sản trong đó có
quyền sử dụng đất đã tạo lập được cơ chế hoạt động, phát triển tương đối đồng bộ;
từng bước hoàn thiện chính sách tài chính đất đai theo hướng tiếp cận cơ chế thị
trường, đã huy động được nguồn vốn xã hội cho thị trường, thu hút đầu tư cho phát
triển, đưa đất đai trở thành nguồn nội lực, nguồn vốn để phát triển đất nước; cải cách
thủ tục hành chính về lĩnh vực đất đai đã được đẩy mạnh.
Mặc dù đạt được nhiều thành tựu quan trọng, tuy nhiên vẫn còn nổi lên một số
tồn tại, bất cập chủ yếu như sau: Pháp luật đất đai và các pháp luật khác có liên quan
đến đất đai quy định còn thiếu đồng bộ, chồng chéo, mâu thuẫn dẫn đến việc áp dụng
khó khăn. Mặt khác, pháp luật về đất đai còn một số nội dung chưa rõ ràng, chưa phù
hợp. Quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất nói chung, và của chủ thể là vợ chồng
1
nói riêng chưa được quy định đầy đủ, nhất là điều kiện thực hiện các quyền.
Ở khía cạnh quan hệ hôn nhân và gia đình thấy rằng quyền sử dụng đất là
một quyền tài sản có giá trị lớn, phần lớn các giao dịch liên quan đến đất đai trong
quan hệ kinh doanh thương mại lại gắn liền với chủ thể là vợ chồng. Những giao
dịch đó không chỉ chịu sự điều chỉnh của pháp luật đất đai mà nó còn phải chịu sự
điều chỉnh của pháp luật hôn nhân và gia đình. Vì vậy, nghiên cứu một cách tổng
quát, quan hệ biện chứng giữa hai chế định trên nhằm đưa ra những giải pháp, kiến
nghị hoàn thiện pháp luật về quyền sử dụng đất dưới góc độ là tài sản của vợ chồng
là thiết thực, có ý nghĩa thực tiễn cao. Vì lí do trên nên tôi đã chọn đề tài “Quyền và
nghĩa vụ của người sử dụng đất là vợ chồng theo pháp luật Việt Nam” làm luận
văn thạc sỹ luật học của mình.
2. Tình hình nghiên cứu
vợ chồng mà từ đó tìm hiểu những bất cập, chưa phù hợp với tình hình thực tiễn
cũng như xu hướng phát triển của xã hội để có những nhận xét, kiến nghị nhằm
nâng cao hiệu quả thực hiện các quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất là vợ
chồng theo pháp luật Việt Nam.
Để đạt được mục đích trên, nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn là:
Thứ nhất: nghiên cứu lý luận chung về quyền sử dụng đất, quyền và nghĩa vụ của
người sử dụng đất, chế độ tài sản của vợ chồng. Đây là cơ sở lý luận cơ bản để hình
thành các qui định pháp luật về quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất là vợ chồng.
Thứ hai: nghiên cứu các qui định hiện hành về quyền, nghĩa vụ của người sử
dụng đất nói chung và chủ thể là vợ chồng nói riêng. Luận văn đi sâu vào nghiên
cứu quyền sử dụng đất là tài sản hình thành trong thời kì hôn nhân hợp pháp của vợ
chồng. Đặc biệt trú trọng vào các quyền năng như quyền chuyển nhượng, góp vốn,
thế chấp quyền sử dụng đất. Tham khảo một số qui định của pháp luật thế giới về
việc pháp luật đất đai. Trên cơ sở thực tiễn xét xử ở Tòa án Đống Đa, Hà Nội để rút
ra những bất cập, hạn chế của qui định pháp luật.
Thứ ba: tác giả đưa ra những kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện
pháp luật về quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất là vợ chồng.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Trong khuôn khổ một bản luận văn thạc sỹ, với khả năng nghiên cứu và
nguồn tài liệu còn hạn chế, luận văn chưa thể nghiên cứu bao quát hết các vấn đề về
quyền và nghĩa vụ của người sử dụng là vợ chồng mà chỉ dừng lại ở những tiếp cận,
3
nghiên cứu dưới góc độ quyền sử dụng đất là tài sản chung của vợ chồng có thể đưa
vào lưu thông, sản xuất và kinh doanh.
Luật văn tập trung nghiên cứu những vấn đề lý luận cũng như qui định của
pháp luật Việt Nam hiện hành, có so sánh với các qui định pháp luật cũ. Thông qua
hoạt động thực tiễn xét xử của Tòa án mà từ đó tác giả đưa ra những kiến nghị
thế chấp, về cách tính thuế thu nhập do chuyển nhượng quyền sử dụng đất.
Nội dung của luận văn có ý nghĩa thiết thực cho mọi cá nhân, đặc biệt là các
cặp vợ chồng trong việc giao dịch quyền sử dụng đất. Từ đó, góp phần thực hiện
pháp luật, xây dựng gia đình hạnh phúc, bền vững.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung
của luận văn gồm 3 chương với kết cấu nội dung nghiên cứu như sau:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận cơ bản về quyền và nghĩa vụ của người sử
dụng đất là vợ chồng
Chương 2: Thực trạng pháp luật về quyền và nghĩa vụ của người sử dụng
đất là vợ chồng
Chương 3: Một số giải pháp hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp
luật về quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất là vợ chồng
5
Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ QUYỀN VÀ NGHĨA VỤ
CỦA NGƢỜI SỬ DỤNG ĐẤT LÀ VỢ CHỒNG
1.1. Tổng quan về ngƣời sử dụng đất
1.1.1. Khái niệm người sử dụng đất
Xem xét ở góc độ lý luận, khái niệm người sử dụng đất được xác định dựa
trên hai tiêu chí cơ bản:
Tiêu chí thứ nhất: căn cứ vào cơ sở pháp lý làm phát sinh quyền sử dụng đất (tiêu
chí pháp lý). Một tổ chức, hộ gia đình, cá nhân được xác định là người sử dụng đất khi
được Nhà nước cho phép sử dụng đất thông qua một trong các hình thức sau đây:
- Được Nhà nước giao đất (giao đất không thu tiền sử dụng đất; giao đất có
thu tiền sử dụng đất);
- xã hội, tổ chức kinh tế, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ
chức xã hội - nghề nghiệp, tổ chức sự nghiệp công lập và tổ chức khác theo quy
định của pháp luật về dân sự (sau đây gọi chung là tổ chức); Cộng đồng dân cư gồm
cộng đồng người Việt Nam sinh sống trên cùng địa bàn thôn, làng, ấp, bản, buôn,
phum, sóc, tổ dân phố và điểm dân cư tương tự có cùng phong tục, tập quán hoặc có
chung dòng họ; Cơ sở tôn giáo gồm chùa, nhà thờ, nhà nguyện, thánh thất, thánh
đường, niệm phật đường, tu viện, trường đào tạo riêng của tôn giáo, trụ sở của tổ
chức tôn giáo và cơ sở khác của tôn giáo; Tổ chức nước ngoài có chức năng ngoại
giao gồm cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan lãnh sự, cơ quan đại diện khác của
nước ngoài có chức năng ngoại giao được Chính phủ Việt Nam thừa nhận; cơ quan
đại diện của tổ chức thuộc Liên hợp quốc, cơ quan hoặc tổ chức liên chính phủ, cơ
quan đại diện của tổ chức liên chính phủ…
Từ qui định trên thấy rằng khái niệm người sử dụng đất phải được xây dựng
trên hai cơ sở là lý luận và thực tiễn. Bởi vì, đất đai ở nước ta thuộc sở hữu toàn dân
do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý. Tuy nhiên, cần phải hiểu
khái niệm người sử dụng đất được đề cập ở đây không chỉ là người được Nhà nước
giao đất hoặc cho thuê đất để trực tiếp sử dụng (trực tiếp khai thác các thuộc tính có
ích của đất) mà còn bao gồm cả những người được giao đất, cho thuê đất... song
không trực tiếp khai thác, sử dụng đất mà đóng vai trò là người tổ chức quá trình sử
dụng đất, như: bỏ vốn, công nghệ đầu tư vào đất đai, thuê người lao động v.v.
7
Qua những phân tích trên đây, có thể đưa ra khái niệm về người sử dụng đất
như sau: Người sử dụng đất là các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân được Nhà nước
cho phép sử dụng đất bằng một trong các hình thức giao đất, cho thuê đất, cho
phép nhận chuyển quyền sử dụng đất hoặc công nhận quyền sử dụng đất; có quyền
và nghĩa vụ mà pháp luật quy định trong thời hạn sử dụng đất.
1.1.2. Nguyên tắc sử dụng đất
dụng đất theo đúng quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất sẽ đảm bảo đất đai được sử
dụng có hiệu quả và bền vững. Không chỉ sử dụng đất đai đúng quy hoạch, kế
hoạch mà người sử dụng đất còn phải sử dụng đất đúng mục đích. Việc sử dụng đất
đúng mục đích sẽ góp phần duy trì và củng cố trật tự quản lý đất đai đã được Nhà
nước xác lập.
- Tiết kiệm, có hiệu quả, bảo vệ môi trường và không làm tổn hại đến lợi ích
chính đáng của người sử dụng đất xung quanh;
Đất đai là nguồn tài nguyên thiên nhiên có hạn và vô cùng quý giá nên việc
sử dụng đất đai tiết kiệm, có hiệu quả có ý nghĩa rất quan trọng không chỉ vì lợi ích
trước mắt của chính người sử dụng đất mà còn vì lợi ích lâu dài của các thế hệ
tương lai. Hơn nữa, thực hiện tốt nguyên tắc này còn góp phần thiết thực vào việc
bảo vệ môi trường sống của con người.
- Người sử dụng đất thực hiện các quyền, nghĩa vụ của mình trong thời hạn
sử dụng đất theo quy định của Luật đất đai và các quy định khác của pháp luật có
liên quan.
Theo Điều 166 Luật đất đai năm 2013, người sử dụng đất được thực hiện các
quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho quyền
sử dụng đất; thế chấp, góp vốn bằng quyền sử dụng đất [45, Điều 166]. Hơn nữa,
người sử dụng đất còn được bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất theo quy định.
Quyền được lựa chọn hình thức giao đất, thuê đất. Quyền năng này vẫn được Luật
đất đai năm 2013 kế thừa Luật đất đai năm 2003. Điều này thể hiện sự tôn trọng của
Nhà nước đối với quyền tự do lựa chọn hình thức sử dụng đất cho phù hợp với điều
kiện, hoàn cảnh thực tế của người sử dụng. Đây là một minh chứng cho việc pháp
luật đất đai luôn luôn quan tâm và bảo hộ quyền và lợi ích hợp pháp cho người sử
dụng đất, tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình sử dụng đất của người sử dụng đất.
Hơn nữa, quy định này ra đời đáp ứng được các đòi hỏi của việc sử dụng đất trong
điều kiện kinh tế thị trường.
9
10
xếp các loại đất đai quy hoạch sử dụng đất đai tạo ra cái khung pháp lý yêu cầu các
đối tượng quản lý và sử dụng đất đai tuân thủ pháp luật. Điều đó cho phép việc sử
dụng đất đai sẽ hợp lý, tiết kiệm và hiệu quả hơn. Bởi vì, khi các đối tượng sử dụng
đất đai hiểu rõ được phạm vi ranh giới và chủ quyền về các loại đất thì họ yên tâm
đầu tư khai thác phần đất đai của mình, do vậy hiệu quả sử dụng sẽ cao hơn. Điểm c
Khoản 4 Điều 40 Luật Đất đai năm 2013 quy định phải:
Xác định vị trí, diện tích đất phải thu hồi để thực hiện công trình,
dự án sử dụng đất vào mục đích quy định tại Điều 61 và Điều 62 của
Luật này trong năm kế hoạch đến từng đơn vị hành chính cấp xã. Đối với
dự án hạ tầng kỹ thuật, xây dựng, chỉnh trang đô thị, khu dân cư nông
thôn thì phải đồng thời xác định vị trí, diện tích đất thu hồi trong vùng
phụ cận để đấu giá quyền sử dụng đất thực hiện dự án nhà ở, thương mại,
dịch vụ, sản xuất, kinh doanh và Lập bản đồ kế hoạch sử dụng đất hàng
năm của cấp huyện [45, Điều 40, Khoản 4].
Nhằm đảm bảo đủ căn cứ để giao đất, cho thuê đất.
Khi giao đất, cho thuê đất phải căn cứ vào nhu cầu sử dụng đất thể hiện trong
dự án đầu tư, đơn xin giao đất, thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất.
Nếu chủ thể sử dụng đất là hộ gia đình, cá nhân hay cộng đồng dân cư muốn
được Nhà nước giao đất, cho thuê đất trước hết và nhất thiết phải có đơn xin giao
đất, thuê đất có xác nhận của Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn về nhu cầu của
mình. Đối với các dự án cần phê duyệt thì tùy từng loại mà có cơ quan thẩm định
nhu cầu sử dụng đất khác nhau. Như những dự án đầu tư của tổ chức có sử dụng
nguồn vốn từ ngân sách nhà nước đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền xét
duyệt hoặc dự án có vốn đầu tư nước ngoài đã được cơ quan nhà nước có thẩm
quyền cấp giấy phép đầu tư thì cơ quan thực hiện việc cấp giấy phép đầu tư cũng
chính là cơ quan thẩm định nhu cầu sử dụng đất. Còn đối với dự án xây dựng cơ sở
vào mục đích công cộng, lợi ích quốc gia, an ninh quốc phòng thì không phải trả
tiền. Nhà nước giao đất không thu tiền sử dụng nhằm mục đích khuyến khích, hỗ
trợ các chủ thể sử dụng đất và đồng thời phát triển các mảng kinh tế còn non yếu.
Điều 54 Luật đất đai 2013 cụ thể hóa những đối tượng không phải nộp tiền sử
dụng đất như sau: Hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp,
nuôi trồng thủy sản, làm muối được giao đất nông nghiệp trong hạn mức; người sử
12
dụng đất rừng phòng hộ, đất rừng đặc dụng, đất rừng sản xuất là rừng tự nhiên, đất
xây dựng trụ sở cơ quan, đất sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh; đất sử dụng
vào mục đích công cộng không nhằm mục đích kinh doanh; đất làm nghĩa trang,
nghĩa địa mà không phải do tổ chức kinh tế được giao đất thực hiện dự án đầu tư hạ
tầng nghĩa trang, nghĩa địa để chuyển nhượng quyền sử dụng đất gắn với hạ tầng; tổ
chức sự nghiệp công lập chưa tự chủ tài chính sử dụng đất xây dựng công trình sự
nghiệp; tổ chức sử dụng đất để xây dựng nhà ở phục vụ tái định cư theo dự án của
Nhà nước; cộng đồng dân cư sử dụng đất nông nghiệp; cơ sở tôn giáo sử dụng đất phi
nông nghiệp như: đất thuộc chùa, nhà thờ, nhà nguyện, thánh thất, thánh đường, niệm
phật đường, tu viện, trường đào tạo riêng của tôn giáo, trụ sở của tổ chức tôn giáo,
các cơ sở khác của tôn giáo được Nhà nước cho phép hoạt động [12, Điều 54].
Hai là: giao đất có thu tiền sử dụng đất: hộ gia đình, cá nhân được giao đất ở; tổ
chức kinh tế được giao đất để thực hiện dự án đầu tư xây dựng nhà ở để bán hoặc để
bán kết hợp cho thuê; người Việt Nam định cư ở nước ngoài, doanh nghiệp có vốn đầu
tư nước ngoài được giao đất để thực hiện dự án đầu tư xây dựng nhà ở để bán hoặc để
bán kết hợp cho thuê; tổ chức kinh tế được giao đất thực hiện dự án đầu tư hạ tầng
nghĩa trang, nghĩa địa để chuyển nhượng quyền sử dụng đất gắn với hạ tầng.
Đối với các loại đất như đất rừng phòng hộ; đất rừng sản xuất thì Nhà nước chỉ
tạo điều kiện, khuyến khích trong một hạn mức nhất định. Theo quy định tại khoản 3,
Điều 129 thì hạn mức giao đất cho mỗi hộ gia đình, cá nhân không quá 30ha đối với
mà thời hạn sử dụng đất đã hết theo quy định tại khoản 2 Điều 67 của
Luật này;
- Hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất nông nghiệp vượt hạn mức
giao đất từ ngày 01 tháng 01 năm 1999 đến trước ngày Luật này có hiệu
lực thi hành, trừ diện tích đất do nhận chuyển quyền sử dụng đất;
- Hộ gia đình, cá nhân thuê đất làm mặt bằng xây dựng cơ sở sản xuất,
kinh doanh, hoạt động khoáng sản, sản xuất vật liệu xây dựng, làm đồ gốm;
- Hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất để xây dựng công trình công
cộng có mục đích kinh doanh;
- Tổ chức kinh tế, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, tổ chức,
cá nhân nước ngoài thuê đất để thực hiện dự án đầu tư sản xuất nông
nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản, làm muối; làm mặt bằng xây
dựng cơ sở sản xuất, kinh doanh; xây dựng công trình công cộng có mục
14
đích kinh doanh; xây dựng kết cấu hạ tầng để chuyển nhượng hoặc cho
thuê; hoạt động khoáng sản, sản xuất vật liệu xây dựng, làm đồ gốm;
- Tổ chức nước ngoài có chức năng ngoại giao thuê đất để xây
dựng trụ sở làm việc [45, Điều 56, Khoản 1].
Trường hợp cho thuê đất trả tiền một lần chỉ áp dụng với các đối tượng sau:
- Người Việt Nam định cư ở nước ngoài, tổ chức, cá nhân nước ngoài thuê
đất để thực hiện dự án đầu tư sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thuỷ
sản, làm muối; làm mặt bằng xây dựng cơ sở sản xuất, kinh doanh; xây dựng công
trình công cộng có mục đích kinh doanh; xây dựng kết cấu hạ tầng để chuyển
nhượng hoặc cho thuê; hoạt động khoáng sản, sản xuất vật liệu xây dựng, làm đồ
gốm; xây dựng nhà ở để bán hoặc cho thuê;
- Tổ chức nước ngoài có chức năng ngoại giao thuê đất để xây dựng trụ sở
làm việc [45, Điều 56, Khoản 2].
hiểu quyền và nghĩa vụ nói chung.
Quyền chủ thể được hiểu là cách xử sự mà pháp luật cho phép chủ thể
được tiến hành. Nói cách khác, quyền chủ thể là khả năng của chủ thể xử sự theo
cách thức nhất định được pháp luật cho phép. Nói là khả năng có nghĩa là chủ
thể có thể lựa chọn giữa việc xử sự theo cách mà nó được phép tiến hành hoặc
không xử sự như vậy.
Còn nghĩa vụ chủ thể được quan niệm là: là cách xử sự mà Nhà nước bắt buộc
chủ thể phải tiến hành nhằm đáp ứng việc thực hiện quyền của chủ thể khác. Nghĩa vụ
pháp lý tự nó không phải là hành vi mà chỉ là sự cần thiết phải xử sự như vậy.
Quyền và nghĩa vụ là hai mặt thống nhất không thể tách rời của chủ thể khi
tham gia vào quan hệ pháp luật, dù là quan hệ đơn phương hay quan hệ song phương.
Chủ thể được Nhà nước bảo hộ cho họ được hưởng quyền lợi nhưng đồng thời cũng
phải thực hiện những trách nhiệm nhằm đáp ứng quyền lợi của chủ thể khác.
Quyền và nghĩa vụ trong quan hệ đất đai là một loại quyền và nghĩa vụ pháp
lý nên nó cũng có đặc điểm này. Khi một chủ thể tham gia vào quan hệ sử dụng đất
thì họ được pháp luật cho hưởng các quyền của người sử dụng đất như quyền được
hưởng hoa lợi, lợi tức trên đất, quyền chuyển nhượng quyền sử dụng đất… Nhưng
đồng thời pháp luật cũng bắt họ phải thực hiện những nghĩa vụ nhất định nhằm
không làm tổn hại đến quyền, lợi ích của Nhà nước hay ảnh hưởng đến quyền của
chủ thể sử dụng đất khác.
16
Ở phạm vi đề tài này chúng ta chỉ nghiên cứu quyền sử dụng đất là tài sản của
vợ chồng ở Việt Nam trong thời kỳ hôn nhân hợp pháp.
Kết hôn là sự kiện làm phát sinh một gia đình mà ở đó phản ánh sự chung sống
của hai vợ chồng và con cái (nếu có). Như là một tất yếu của cuộc sống chung, vợ và
chồng thực hiện những quan hệ về tài sản nhằm đáp ứng những nhu cầu tồn tại và phát
triển của gia đình. Đây là những quan hệ xảy ra phổ biến trong xã hội và chịu sự điều
Chế độ tài sản của vợ chồng được quy định trong pháp luật có ý nghĩa nhằm xác
định các loại tài sản trong quan hệ giữa vợ chồng và gia đình. Khi hai bên nam nữ kết
hôn với nhau trở thành vợ chồng, chế độ tài sản của vợ chồng được liệu với những
thành phần tài sản của vợ chồng. Dù vợ chồng lực chọn chế độ tài sản theo thỏa thuận
hay chế độ tài sản pháp định luôn được pháp luật quy định rõ. Việc phân định các loại
tài sản trong quan hệ giữa vợ và chồng của chế độ tài sản còn nhằm xác định các quyền
và nghĩa vụ của các bên vợ, chồng đối với các loại tài sản của vợ chồng. Là cơ sở pháp
lý để giải quyết các tranh chấp về tài sản giữa vợ và chồng với nhau hoặc với những
người khác trong thực tế, nhằm bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng về tài sản cho các
bên vợ chồng hoặc người thứ ba tham gia giao dịch liên quan đến tài sản của vợ chồng.
Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 có nhiều điểm mới so với Luật Hôn nhân
và gia đình năm 2000, trong đó có có điể m mới về chế độ tài sản của vợ chồng
. Cụ thể,
Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 bổ sung quy định về các nguyên tắc chung trong
áp dụng chế độ tài sản của vợ chồng, trong đó vợ chồng có quyền lựa chọn áp dụng chế
độ tài sản theo luật định hoặc chế độ tài sản theo thỏa thuận.
Về chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định, Pháp luật hôn nhân gia đình quy
định tài sản riêng khác của vợ, chồng theo quy định của pháp luật gồm: Quyền tài sản
đối với đối tượng sở hữu trí tuệ theo quy định của pháp luật sở hữu trí tuệ; Tài sản mà
vợ, chồng xác lập quyền sở hữu riêng theo bản án, quyết định của Tòa án hoặc cơ quan
có thẩm quyền khác; Khoản trợ cấp, ưu đãi mà vợ, chồng được nhận theo quy định của
pháp luật về ưu đãi người có công với cách mạng; quyền tài sản khác gắn liền với nhân
thân của vợ, chồng.
Thu nhập hợp pháp khác của vợ, chồng trong thời kỳ hôn nhân gồm: Khoản tiền
thưởng, tiền trúng thưởng xổ số, tiền trợ cấp (trừ khoản trợ cấp, ưu đãi mà vợ, chồng
được nhận theo quy định của pháp luật về ưu đãi người có công với cách mạng; quyền
tài sản khác gắn liền với nhân thân của vợ, chồng); Tài sản mà vợ, chồng được xác lập
18