ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGUYỄN HỒNG HẠNH
DI CHÚC CHUNG CỦA VỢ CHỒNG
THEO PHÁP LUẬT DÂN SỰ VIỆT NAM HIỆN HÀNH
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Hà Nội - 2015
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGUYỄN HỒNG HẠNH
DI CHÚC CHUNG CỦA VỢ CHỒNG
THEO PHÁP LUẬT DÂN SỰ VIỆT NAM HIỆN HÀNH
Chuyên ngành: Luật Dân sự và tố tụng Dân sự
Mã số: 60 38 01 03
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Cán bộ hướng dẫn khoa học: PGS.TS Phùng Trung Tập
Hà Nội - 2015
đồng nghiệp và bạn bè để luận văn được hoàn thiện hơn.
Hà nội, ngày 25 tháng 9 năm 2015
Tác giả Luận văn
Nguyễn Hồng Hạnh
MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU .................................................................................................. 1
CHƢƠNG 1...................................................................................................... 6
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ ................................................................. 6
DI CHÚC VÀ DI CHÚC CHUNG CỦA VỢ, CHỒNG............................... 6
1.1. Khái niệm, đặc điểm, hình thức di chúc chung của vợ, chồng ............ 6
1.1.1. Khái niệm di chúc và di chúc chung của vợ chồng .............................. 6
1.1.2. Đặc điểm di chúc chung của vợ, chồng ................................................ 7
1.1.3. Cơ sở thiết lập di chúc chung của vợ, chồng ...................................... 14
1.2. Quá trình hình thành và phát triển về di chúc chung của vợ, chồng;
sơ lƣợc lịch sử vấn đề qua các thời kỳ ......................................................... 18
1.2.1. Quá trình hình thành và phát triển của pháp luật về di chúc chung
của vợ chồng trên thế giới ............................................................................. 18
1.2.2. Quá trình hình thành và phát triển của chế định di chúc chung của
vợ, chồng tại Việt Nam qua các thời kỳ lịch sử. ........................................... 19
Kết luận chƣơng 1 ......................................................................................... 24
CHƢƠNG 2.................................................................................................... 26
CÁC ĐIỀU KIỆN CÓ HIỆU LỰC CỦA DI CHÚC CHUNG CỦA ........ 26
VỢ, CHỒNG .................................................................................................. 26
2.1. Điều kiện về chủ thể ................................................................................ 26
2.2. Điều kiện về nội dung và mục đích ........................................................ 27
2.3. Điều kiện về ý chí .................................................................................... 34
KẾT LUẬN CHUNG .................................................................................... 82
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ..................................................... 83
I. Tiếng Việt ................................................................................................... 83
LỜI MỞ ĐẦU
1. Đặt vấn đề
1.1. Tính cấp thiết của đề tài:
Thừa kế là một chế định quan trọng trong hệ thống pháp luật Dân sự
Việt Nam. Ở chế độ xã hội có giai cấp nào, vấn đề thừa kế cũng có vị trí quan
trọng trong các chế định pháp luật, là hình thức pháp lý chủ yếu để bảo vệ các
quyền của công dân, nó gắn liền với đời sống của mỗi cá nhân trong việc tự
định đoạt di sản của mình trước khi chết; quyền và nghĩa vụ của người sống
đối với khối di sản thừa kế đó như thế nào.
Ở Việt Nam, ngay những ngày đầu mới dựng nước, các Triều đại Lý,
Trần, Lê đã có sự quan tâm đến ban hành pháp luật về thừa kế. Trải qua quá
trình đấu tranh cách mạng, xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta, các quy định
về thừa kế đã được ghi nhận, mở rộng, phát triển và được thực hiện trên thực
tế thể hiện qua các Hiến pháp 1959, 1980, 1992 và đặc biệt là sự ra đời của
Bộ luật dân sự 1995, sau đó Bộ luật dân sự 2005 đã đánh dấu một bước phát
triển của pháp luật Việt Nam nói chung và pháp luật thừa kế nói riêng. Bộ
luật dân sự 2005 được xem là kết quả cao của quá trình pháp điển hóa những
quy định của pháp luật về thừa kế. Nó kế thừa và phát triển những quy định
phù hợp với thực tiễn, không ngừng hoàn thiện để bảo vệ quyền lợi của người
thừa kế một cách có hiệu quả nhất.
Tuy nhiên về thực tiễn, do sự phát triển mạnh mẽ của đời sống kinh tế xã hội, phát luật về thừa kế hiện hành vẫn chưa trù liệu hết những trường hợp,
tình huống xảy ra trên thực tế; các quy định còn mang tính chất chung chung,
không rõ ràng, không có văn bản hướng dẫn thi hành cho từng vấn đề cụ thể,
dẫn đến tình trạng không nhất quán trong cách hiểu cũng như cách giải quyết.
Hàng năm Tòa án nhân dân các cấp thụ lý và giải quyết hàng ngàn vụ án thừa
Mẫu;
- Một số suy nghĩ về thừa kế trong luật Dân sự Việt Nam của Tiến sỹ
Nguyễn Ngọc Điện;
2
- Luật thừa kế Việt Nam của PGS.TS Phùng Trung Tập cùng một số
bài viết trên tạp chí Luật học, tạp chí Dân chủ và pháp luật.
Tuy nhiên các công trình nói trên chỉ giải quyết quan hệ thừa kế theo di
chúc và theo pháp luật nói chung hoặc giải quyết những vấn đề cụ thể trong
quan hệ thừa kế di sản mà chưa có một công trình nào nghiên cứu về di chúc
chung của vợ, chồng theo pháp luật Dân sự Việt Nam.
1.3. Tính mới và những đóng góp của đề tài:
- Đây là một vấn đề mới, có ý nghĩa quan trọng trên phương diện lý
luận cũng như thực tiễn. Luận văn đi sâu làm sáng rõ những điều bất cập mà
pháp luật đã quy định.
- Luận văn đưa ra khái niệm di chúc chung của vợ chồng, đưa ra những
điều kiện để di chúc của vợ chồng có hiệu lực pháp luật.
- Luận văn so sánh di chúc chung của vợ chồng theo pháp luật Việt
Nam với pháp luật các quốc gia trên thế giới từ đó làm sáng tỏ những điểm
đặc thù về di chúc chung của vợ chồng, từ đó đưa ra những kiến nghị hoàn
thiện pháp luật Việt Nam.
Tóm lại, các công trình nghiên cứu nói trên đã nêu ra nhiều vấn đề cơ
bản về lý luận và thực tiễn áp dụng pháp luật thừa kế trên nhiều góc độ, tuy
nhiên các công trình dưới góc độ lý luận hoàn thiện pháp luật về thừa kế còn
ít, chưa đầy đủ. Các quy định về thừa kế tuy còn nhiều điểm phải hoàn thiện
nhưng được đánh giá là một trong những chế định hoàn thiện nhất của Bộ luật
Dân sự. Tuy nhiên, cũng như việc hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam,
các quy định về thừa kế cũng phải hoàn thiện để không một quan hệ thừa kế
lịch sử khác nhau pháp luật về thừa kế có sự thay đổi cho phù hợp với tình
hình xã hội. Tuy nhiên mọi sự thay đổi đều tôn trọng con người, tôn trọng
quyền sở hữu đối với tài sản của công dân, đảm bảo quyền tự do, thể hiện ý
chí, tự định đoạt của công dân; bảo vệ trật tự xã hội, quyền lợi của Nhà nước,
quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể.
4
- Thừa kế là sự chuyển giao tài sản từ người đã chết cho người còn
sống. Có hai hình thức thừa kế: thừa kế theo di chúc và thừa kế theo pháp
luật. Mỗi hình thức thừa kế đều có đặc điểm riêng. Đặc biệt là thừa kế theo di
chúc, với đặc thù là sự thể hiện ý chí của cá nhân sở hữu tài sản, pháp luật tôn
trọng và bảo vệ sự tự do đó. Tuy nhiên đây cũng chính là nguyên nhân gây ra
nhiều tranh chấp về thừa kế cần giải quyết.
- Di chúc chung của vợ, chồng có đặc điểm và quá trình hình thành
phát triển riêng của nó. Có những thời điểm di chúc chung không được công
nhận hoặc nếu được công nhận thì chỉ được công nhận một cách gián tiếp.
Nhưng do tất yếu xã hội việc cụ thể hóa các vấn đề liên quan đến di chúc
chung là điều không thể thực hiện.
- Qua phân tích các vấn đề: bản chất, nội dung, hình thức, hiệu lực…
của di chúc chung giúp chúng ta có cái nhìn bao quát về di chúc chung của
vợ, chồng. Từ đó hiểu được bản chất của di chúc chung của vợ, chồng. Trên
cơ sở tìm hiểu và phân tích đó có thể tìm ra những điểm tiến bộ cũng như
điểm còn hạn chế trong quy định của pháp luật về thừa kế hiện hành để có
những giải pháp áp dụng tốt hơn trong thực tiễn.
Từ đó đưa ra một số kiến nghị về mặt lý luận và kiến nghị cụ thể về
việc sửa đổi, bổ sung các quy định trong Bộ luật Dân sự năm 2005 nhằm hoàn
thiện hơn pháp luật về thừa kế.
3. Cơ cấu của luận văn
thế thị trường, lối ứng xử truyền thống phần nào bị mai một, những di chúc
nói trên là một trong những nguyên nhân làm phát sinh tranh chấp về thừa kế.
Vì vậy, bên cạnh cách hiểu thông thường về di chúc, khái niệm di chúc cần
phải được luật hóa để đảm bảo đúng bản chất của nó là sự chuyển dịch tài sản
từ người chết cho người còn sống theo ý chí của người lập di chúc.
Dưới góc độ pháp lý, Điều 649 BLDS VN năm 1995, Điều 646 BLDS
VN năm 2005 định nghĩa di chúc như sau: “Di chúc là sự thể hiện ý chí của
cá nhân nhằm chuyển tài sản của mình cho người khác sau khi chết”.
6
Như vây, di chúc là phương tiện phản ánh ý chí tự nguyện cuối cùng
của cá nhân trước khi chết về việc định đoạt tài sản của họ cho người khác
phù hợp với quy định của pháp luật. Sự bày tỏ ý chí của một người nhằm định
đoạt tài sản thuộc quyền sở hữu của mình sẽ được chuyển giao cho một hoặc
nhiều người sau khi người lập di chúc chết là một trong những quyền dân sự
quan trọng của mỗi con người. Sự bày tỏ ý chí được thực hiện thông qua hình
thức bằng văn bản hoặc bằng lời nói.
Điều 663 Bộ luật dân sự năm 2005 không đưa ra một khái niệm cụ thể
thế nào là di chúc chung của vợ, chồng mà chỉ đưa ra một quy định rất chung
chung, mang tính tùy nghi: “Vợ, chồng có thể lập di chúc chung để định đoạt
tài sản chung”. Xét về bản chất, di chúc chung của vợ, chồng là một trường
hợp đặc biệt của di chúc. Nếu di chúc thông thường người lập di chúc (cá
nhân) có quyền định đoạt tài sản của mình (bao gồm tài sản riêng và tài sản
chung) thì đối với di chúc chung của vợ, chồng người lập di chúc (vợ chồng)
chỉ định đoạt phần tài sản chung của vợ, chồng. Vợ, chồng có quyền ngang
nhau đối với tài sản thuộc sở hữu chung, trong đó có quyền lập di chúc chung
để định đoạt khối tài sản chung của vợ, chồng sau khi chết. Như vậy, có thể
hiểu, với tư cách là đồng sở hữu chung hợp nhất đối với tài sản, vợ và chồng
vợ hoặc nhiều chồng; trường hợp nam nữ sống chung với nhau như vợ, chồng
(Thông tư số 60 - DS ngày 22/2/1978 của Tòa án nhân dân tối cao); Trường
hợp nam, nữ sống chung với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn
(Nghị quyết số 35/2000/QH10 ngày 09/6/2000 của Quốc hội về thi hành Luật
hôn nhân và gia đình; Thông tư liên tịch số 01/2001/TTLT ngày 03/1/2001
của TANDTC, VKSNDTC và BTP về thi hành Nghị quyết số
35/2000/QH10). Cụ thể như sau: [10, tr2]
- Đối với những trường hợp quan hệ vợ chồng được xác lập từ trước
ngày 03/01/1987 (ngày Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986 có hiệu lực) mà
không đăng ký kết hôn, thì khi Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 có hiệu
8
lực, những trường hợp này được khuyến khích đăng ký kết hôn, nghĩa là viê ̣c
đăng ký kế t hôn theo thủ tu ̣c Luâ ̣t đinh
̣ sẽ không bi ̣ha ̣n chế thời gian.
- Trường hợp nam, nữ sống chung với nhau như vợ, chồng từ ngày
03/01/1987 (ngày Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986 có hiệu lực) đến ngày
01/01/2001 (ngày Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 có hiệu lực) mà
không đăng ký kết hôn, khi Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 có hiệu lực,
nếu có đủ điều kiện kết hôn theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 quy
định thì có nghĩa vụ phải đăng ký kết hôn trong thời hạn hai năm. Hết thời
hạn trên mà không đăng ký kết hôn thì không được pháp luật công nhận là vợ,
chồng.
- Trường hợp nhiều vợ, nhiều chồng: quan hệ hôn nhân của vợ, chồng
được xác lập trước ngày 13/01/1960 tuy có vi phạm chế độ hôn nhân một vợ,
một chồng nhưng vẫn được thừa nhận và không trái với pháp luật. Theo
nguyên tắ c chung, nguyên tắ c hôn nhân mô ̣t vơ ̣ , mô ̣t chồ ng đươ ̣c thực hiê ̣n từ
ngày LHN&GĐ năm 1959 có hiệu lực (từ ngày 13/01/1960).
chồng có hiệu lực từ thời điểm người sau cùng chết hoặc tại thời điểm vợ,
chồng cùng chết”. Đây cũng là một đặc trưng của di chúc chung của vợ,
chồng làm nó có khác biệt so với di chúc do một cá nhân lập. Bởi thời điểm di
chúc do cá nhân lập theo quy định của pháp luật chỉ có hiệu lực khi cá nhân
đó chết, còn thời điểm có hiệu lực của di chúc chung của vợ, chồng được xác
định qua hai trường hợp.
Thứ năm, Vợ chồng có các quyền sau để định đoạt tài sản chung của
vợ, chồng:
Một là, Quyền chỉ định người thừa kế, truất quyền thừa kế của người
thuộc diện thừa kế:
10
Di chúc chung vợ, chồng dùng để định đoạt khối tài sản thuộc sở hữu
chung hợp nhất của vợ, chồng. Khi vợ chồng còn sống, quyền sở hữu chung
hợp nhất đối với khối tài sản chung được pháp luật bảo đảm thông qua các
quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt. Việc lập di chúc để phân chia tài sản là
một trong các biểu hiện của quyền tự định đoạt đối với tài sản thuộc sở hữu
chung. Vợ chồng có quyền thỏa thuận để lại di chúc cho bất cứ người nào tức
là có quyền chỉ định người thừa kế và cũng có thể truất quyền thừa kế của
người thuộc diện thừa kế. Người thừa kế theo di chúc chung của vợ, chồng có
thể là Nhà nước, tổ chức hoặc cá nhân bất kỳ theo sự chỉ định của người để lại
di chúc.
Hai là, Quyền phân định tài sản cho người thừa kế:
Ngoài việc lựa chọn người được hưởng di sản thì việc phân định phần
di sản cho từng người thừa kế là một trong những vấn đề cần thỏa thuận. Vấn
đề này cũng hoàn toàn phụ thuộc vào ý chí của hai vợ chồng mà không căn cứ
vào mối quan hệ hôn nhân, nuôi dưỡng hay huyết thống. Vợ chồng để lại toàn
bộ di sản được định đoạt trong di chúc cho một người hoặc để lại di sản cho
Sửa đổi di chúc là việc người lập di chúc thay thế một phần quyết định
cũ của mình đối với các phần trong di chúc trước đó. Vợ, chồng có thể sửa
đổi người được hưởng thừa kế; sửa đổi quyền và nghĩa vụ của người thừa kế.
Bổ sung di chúc là vợ hoặc chồng có thể thêm vào nội dung của di chúc
gồm: thêm người thừa kế, định đoạt thêm phần tài sản mà di chúc lập trước đó
chưa đề cập…
Nếu người lập di chúc bổ sung, mà phần di chúc bổ sung vẫn hợp pháp
thì di chúc đã lập và phần di chúc bổ sung đều có hiệu lực pháp luật như nhau.
Tuy nhiên, có những trường hợp “nếu một phần của di chúc đã lập và phần
bổ sung mâu thuẫn nhau thì chỉ phần bổ sung có hiệu lực pháp luật” [8,
khoản 2, điều 662].
12
Thay thế di chúc là việc người để lại di sản lập di chúc khác thay thế
cho di chúc cũ. Do đó di chúc trước coi như không có hiệu lực.
Hủy bỏ di chúc là việc người để lại di sản từ bỏ di chúc của mình bằng
cách không công nhận di chúc do mình lập ra là có giá trị. Trường hợp này
được coi là chưa tồn tại di chúc chung.
Thông qua việc phân tích các đặc điểm của di chúc chung của vợ,
chồng cho thấy di chúc chung của vợ chồng có một số điểm đặc thù, khác biệt
với di chúc thông thường như sau:
Tiêu chí
Chủ thể
lập di
chúc
Di chúc thông thƣờng
Hình thức miệng, đáp ứng các điều đáp ứng các điều kiện pháp luật
kiện pháp luật quy định.
quy định.
13
Tiêu chí
Di chúc thông thƣờng
Di chúc chung của vợ, chồng
Sửa đổi,
Cá nhân lập di chúc có Vợ chồng có quyền sửa đổi, bổ
bổ sung,
quyền tuyệt đối khi sửa đổi, sung, thay thế, hủy bỏ di chúc khi
thay thế,
bổ sung, thay thế, hủy bỏ di cả hai người còn sống và đồng
hủy bỏ di
chúc, không phụ thuộc vào thuận với nhau.
bảo quản, tránh sự hao hụt người chết, người còn lại phát triển
di sản
của di sản. Nếu di sản phát di sản và làm ra tài sản mới thì đó
sinh hoa lợi, lợi tức thì là tài sản riêng của người đó,
không nằm trong khối di sản mà
thuộc di sản thừa kế.
vợ, chồng đã định đoạt trong di
chúc chung.
1.1.3. Cơ sở thiết lập di chúc chung của vợ, chồng
Khác với di chúc của cá nhân thể hiện ý chí cá nhân trong việc định
đoạt tài sản thuộc sở hữu của mình, di chúc chung được thiết lập trên cơ sở
14
quan hệ hôn nhân và quan hệ sở hữu chung hợp nhất đối với tài sản chung của
vợ, chồng. Tại sao pháp luật lại quy định chủ thể có quyền lập di chúc chung
để định đoạt tài sản của mình sau khi chết chỉ có thể là vợ, chồng mà không
trao quyền này cho những người khác, bởi lẽ:
Thứ nhất, về mối quan hệ vợ, chồng: vợ, chồng là khái niệm chỉ hai cá
nhân nam nữ độc lập trong xã hội, gắn bó với nhau bởi quan hệ hôn nhân hợp
pháp. Hôn nhân hợp pháp là hôn nhân có đăng ký tại cơ quan nhà nước có
thẩm quyền. Khi là vợ chồng phải “có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn
trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các
công việc trong gia đình” (7, điều 19). Xuất phát từ bản chất của hôn nhân,
vợ chồng cùng nhau xây dựng mái ấm gia đình, cùng chăm nom gia đình,
giáo dục nuôi dưỡng các con.
việc quy định di chúc chung của vợ, chồng phần nào ngăn chặn những mâu
thuẫn trong gia đình đặc biệt khi một người chết trước, người còn sống quản
lý di sản chưa chia, những người thừa kế theo di chúc chưa thể nhận di sản từ
di chúc chung của vợ, chồng mà người vợ hoặc chồng còn sống. Di sản đang
được quản lý đó cần luôn được đảm bảo rõ ràng, minh bạch.
1.1.4. Hiệu lực di chúc chung của vợ, chồng
Trước đây, Điều 671 Bộ luật Dân sự năm 1995 với tiêu đề “Hiệu lực
pháp luật của di chúc chung của vợ chồng” có quy định: “Trong trường hợp
vợ, chồng lập di chúc chung mà có một người chết trước thì chỉ phần di chúc
liên quan đến phần di sản của người chết trong tài sản chung có hiệu lực
pháp luật…”
Như vậy đối với Bộ luật Dân sự năm 1995 khi một người chết thì di
chúc liên quan đến phần di sản của người chết có hiệu lực. Pháp luật thừa kế
năm 1990 cũng theo hướng này: “Trong trường hợp di chúc do nhiều người
16
lập chung mà có người chết trước thì chỉ phần di chúc có liên quan đến tài
sản của người chết trước có hiệu lực”. (khoản 1, Điều 23).
Bộ luật Dân sự năm 2005 đã có sự sửa đổi đối với thời điểm có hiệu lực
của di chúc chung của vợ, chồng. Theo điều 668 Bộ luật Dân sự năm 2005
quy định: “Di chúc chung của vợ, chồng có hiệu lực từ thời điểm người sau
cùng chết hoặc tại thời điểm vợ, chồng cùng chết”. Trước đây Bộ luật Dân sự
cũng quy định trường hợp di chúc chỉ có hiệu lực khi người sau cùng chết
nhưng với điều kiện là việc này được vợ chồng thỏa thuận trong di chúc. Cụ
thể Điều 671 Bộ luật Dân sự năm 1995 quy định: “nếu vợ, chồng có thỏa
thuận trong di chúc về thời điểm có hiệu lực của di chúc là thời điểm người
sau cùng chết thì di sản của vợ, chồng theo di chúc chung chỉ được phân chia
từ thời điểm đó”. Như vậy, ngày nay không cần vợ chồng có thỏa thuận, di
tham khảo quý giá cho các nhà nghiên cứu pháp luật và các nhà lập pháp
trong thời hiện đại. Luật La Mã quy định hai hình thức thừa kế là thừa kế theo
di chúc và thừa kế theo luật, ngoài ra còn có thừa kế theo lệnh của các quan.
Tuy nhiên, Luật La Mã lại không đề cập đến vấn đề di chúc chung của vợ
chồng.
Thứ hai, pháp luật Cộng hòa Pháp là một hệ thống được xếp vào hàng
danh giá, có ý nghĩa và ảnh hưởng lớn với các nước trên thế giới. Trong lĩnh
vực thừa kế dù pháp luật Pháp cho phép: “Mọi người đều có thể định đoạt
bằng di chúc để lập thừa kế hoặc để di tặng hoặc được gọi bằng bất cứ tên
nào khác để thể hiện ý chí của mình”. Tuy nhiên, cũng như Luật La Mã, các
nhà làm luật Pháp không chấp nhận vấn đề di chúc chung của vợ, chồng điều
đó thể hiện tại Điều 968 Bộ luật Dân sự: “Hai hoặc nhiều người không thể
làm chung một di chúc để lại tài sản cho người thứ ba hoặc để lại tài sản
cho nhau”. Điều đó có nghĩa mặc dù tôn trọng sự định đoạt tài sản của chủ
sở hữu nhưng pháp luật Pháp lại hạn chế một số trường hợp định đoạt tài sản
18
này, thể hiện qua việc không cho phép vợ chồng lập di chúc chung mà
không phân biệt vợ chồng đó theo chế độ cộng đồng tài sản hay chế độ phân
sản trong hôn nhân.
Như vậy, hai hệ thống pháp luật tiêu biểu trên đều không quy định di
chúc chung của vợ, chồng. Như chúng ta đã biết việc xây dựng pháp luật của
mỗi quốc gia phụ thuộc nhiều vào tình hình kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội,
trình độ lập pháp của quốc gia đó. Việc quốc gia này quy định một vấn đề nào
mà các quốc gia khác không quy định là điều dễ hiểu và đương nhiên. Vậy
nên vẫn có những quốc gia khác quy định về di chúc chung của vợ chồng.
Thứ nhất, Bộ luật Dân sự Đức năm 1896 được gọi là
“professorenrechi”, tức là luật của các giáo sư bởi sự thành công trong kỹ