Sở hữu chung hợp nhất của vợ chồng theo pháp luật Việt Nam - Pdf 29


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

LÊ THỊ HUYỀN Së h÷u chung hîp nhÊt cña vî chång
theo ph¸p luËt ViÖt Nam

Chuyên ngành: Luật dân sự
Mã số: 60 38 30
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Cán bộ hướng dẫn khoa học: TS. NGUYỄN VĂN CỪ

HÀ NỘI - 2014
1.1.1. Khái niệm về sở hữu, quyền sở hữu 7
1.1.2. Khái niệm về sở hữu chung 10
1.1.3. Khái niệm về sở hữu chung hợp nhất của vợ chồng 12
1.2. Khái quát các quy định về sở hữu chung hợp nhất của vợ
chồng trong hệ thống pháp luật Việt Nam 13
1.2.1. Theo cổ luật 13
1.2.2. Trong thời kỳ Pháp thuộc 15
1.2.3. Thời kỳ miền Nam nƣớc ta trƣớc ngày thống nhất đất nƣớc
(1954 -1975) 20
1.2.4. Quy định về sở hữu chung hợp nhất của vợ chồng theo hệ
thống pháp luật của nhà nƣớc ta từ Cách mạng tháng Tám
(1945) đến nay 25
1.3. Quy định về sở hữu chung hợp nhất của vợ chồng trong
pháp luật của một số nước trên thế giới 30
KẾT LUẬN CHƢƠNG 1 33
Chương 2:QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH VỀ SỞ
HỮU CHUNG HỢP NHẤT CỦA VỢ CHỒNG 35
2.1. Căn cứ xác lập sở hữu chung hợp nhất của vợ chồng 35
2.1.1. Dựa vào thời kỳ hôn nhân 36
2.1.2. Dựa vào nguồn gốc tài sản 46

2.2. Quyền và nghĩa vụ của vợ, chồng đối với tài sản thuộc sở
hữu chung hợp nhất 52
2.2.1. Quyền của vợ, chồng đối với tài sản thuộc sở hữu chung hợp nhất 52
2.2.2. Nghĩa vụ của vợ, chồng đối với tài sản chung hợp nhất 55
2.3. Các trường hợp chia tài sản chung của vợ chồng theo Luật
HN&GĐ năm 2000 57
2.3.1. Chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân 57
2.3.2. Chia tài sản chung của vợ chồng khi vợ chồng ly hôn 60
2.3.3. Chia tài sản chung của vợ chồng khi một bên chết trƣớc 63

Tập Dân luật giản yếu Nam Kỳ năm 1883
DLTK
Dân Luật Trung Kỳ năm 1936
HĐTPTANDTC
Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao
HN&GĐ
Hôn nhân và gia đình
HVLL
Hoàng Việt Luật Lệ
LGĐ
Luật Gia đình
QTHL
Quốc Triều hình luật
TAND
Tòa án nhân dân
TANDTC
Tòa án nhân dân tối cao
XHCN
Xã hội chủ nghĩa
DANH MỤC CÁC BẢNG Số hiệu bảng
Tên bảng
Trang
Bảng 3.1:
Ngƣời đứng tên giấy tờ sở hữu/quyền sử dụng một số tài

gia đình khi tham gia vào các giao dịch. Đó cũng là lý do Luật Hôn nhân và Gia
đình (HN&GĐ) đã đƣợc Quốc hội nƣớc Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá
X, kỳ họp thứ 7 thông qua ngày 09/06/2000 quy định chế độ sở hữu của vợ chồng là
sở hữu chung hợp nhất.
Tài sản chung của vợ chồng là khối tài sản góp phần đảm bỏ nhu cầu đời
sống của gia đình nhằm duy trì cuộc sống cũng nhƣ thỏa mãn các nhu cầu về tinh
thần, vật chất của vợ chồng, các nghĩa vụ phát sinh trong quá trình hôn nhân tồn tại.
Khối tải sản thuộc sở hữu chung hợp nhất của vợ chồng không phải là tồn tại
mãi mãi, mà cũng nhƣ quan hệ vợ chồng sẽ tồn tại trong một khoảng thời gian nhất
định. Tài sản thuộc sở hữu chung hợp nhất của vợ chồng thay đổi trong một số
trƣờng hợp nhƣ: chia tài sản chung của vợ chồng trong thời ký hôn nhân, chia tài
sản khi ly hôn, chia tài sản khi một bên vợ hoặc chồng chết trƣớc,
Bên cạnh đó trong thực tiễn xét xử các tranh chấp tài sản khi ly hôn cho thấy
vụ việc khá phức tạp, và chủ yếu phát sinh do cách áp dụng pháp luật để xác định
tài sản chung, tài sản riêng của vợ chồng còn thiếu chính xác. Việc xác định tài sản
thuộc sở hữu chung hợp nhất của vợ chồng là rất quan trọng, đặc biệt là thời điểm
hiện nay khi mà xã hội luôn có sự vận động, phát triển kéo theo các mối quan hệ
phức tạp và khó xác định hơn. Khi việc xác định tài sản thuộc sở hữu chung hợp
nhất của vợ chồng chính xác sẽ giúp cho việc giải quyết tranh chấp dễ dàng hơn,
giúp giảm bớt tranh chấp tài sản phát sinh liên quan đến HN&GĐ.
2
Với mong muốn tìm hiểu sâu hơn nữa cũng nhƣ muốn đƣa ra những quan
điểm của bản thân về vấn đề này dựa trên cơ sở những kiến thức đã đƣợc tích lũy
trong quá trình học tập và tình hình áp dụng pháp luật trên thực tiễn, tác giả đã chọn
đề tài: "Sở hữu chung hợp nhất của vợ chồng theo Pháp luật Việt Nam" làm đề
tài nghiên cứu cho Luận văn thạc sĩ của mình.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

hợp nhất của vợ chồng; thực hiện quyền sở hữu chung hợp nhất;….
Luận văn nghiên cứu chủ yếu các quy định về tài sản thuộc sở hữu chung
hợp nhất của vợ chồng theo Luật HN&GĐ và các luật khác liên quan (Luật Dân sự,
Luật Đất Đai, ) trong hệ thống pháp luật của Nhà nƣớc ta. Nghiên cứu vấn đề sở
hữu chung hợp nhất của vợ chồng một cách có hệ thống và làm rõ hơn sở hữu
chung hợp nhất của vợ chồng theo quy định của pháp luật Việt Nam.
- Phạm vi nghiên cứu:
Luận văn nghiên cứu sở hữu chung hợp nhất của vợ chồng theo quy định của
Luật HN&GĐ và các văn bản pháp luật khác có liên quan. Luận văn nghiên cứu
quy định pháp luật từ khi Luật HN&GĐ năm 2000 đƣợc ban hành cho đến nay, việc
áp dụng các quy định của pháp luật về sở hữu chung hợp nhất của vợ chồng, những
vấn đề liên quan chƣa đƣợc đề cập trong Luật HN&GĐ năm 2000. Đồng thời, luận
văn nêu một số vấn đề trong thực tiễn áp dụng các quy định của Luật HN&GĐ năm
2000 về sở hữu chung hợp nhất của vợ chồng.
Bên cạnh đó, luận văn còn có sự phân tích, đối chiếu, so sánh với quy định
về sở hữu chung hợp nhất của vợ chồng trong pháp luật một số nƣớc khác để tham
khảo trong quá trình nghiên cứu, hoàn thiện các quy định về sở hữu chung hợp nhất
của vợ chồng trong Luật HN&GĐ của nƣớc ta. Mặt khác, luận văn cũng hệ thống
sơ lƣợc những quy định về sở hữu chung hợp nhất của vợ chồng theo pháp luật của
nhà nƣớc ta từ năm 1945 đến khi Luật HN&GĐ năm 2000 đƣợc ban hành.
4. Cơ sở khoa học và phương pháp nghiên cứu
4.1. Cơ sở khoa học
- Cơ sở lý luận: Luận văn đƣợc nghiên cứu dựa trên phƣơng pháp luận chủ
nghĩa Mác - Lênin, tƣ tƣởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng, Nhà nƣớc về
HN&GĐ. Đồng thời luận văn còn kế thừa các công trình nghiên cứu của tập thể và
các cá nhân liên quan đến đề tài.
- Cơ sở pháp lý: Luận văn đƣợc nghiên cứu dựa trên các văn bản luật hiện

5
của vợ chồng, với đề tài này, luận văn đƣợc trình bày với những điểm mới sau đây:
- Xây dựng và phân tích khái niệm sở hữu chung hợp nhất của vợ chồng. Hệ
thống quy định của pháp luật về: căn cứ, nguồn gốc xác lập tài sản chung; quyền và
nghĩa vụ của vợ chồng đối với loại tài sản này; các trƣờng hợp và nguyên tắc chia
tài sản chung của vợ chồng theo luật định.
- So sánh chế độ sở hữu chung hợp nhất của vợ chồng theo pháp luật Việt
Nam với pháp luật của một số nƣớc khác để thấy rõ nét tƣơng đồng và đặc thù.
- Luận văn làm rõ việc xác định "thời kỳ hôn nhân" là căn cứ chung để xác
lập tài sản chung của vợ chồng trong các trƣờng hợp cụ thể:
+ Khi một bên vợ, chồng bị Tòa án tuyên bố mất tích;
+ Khi một bên vợ, chồng bị Tòa án tuyên bố là đã chết mà trở về;
+ Khi đã chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân: chế độ tài sản
của vợ chồng đƣợc hiểu và áp dụng nhƣ thế nào, sau khi đã chia tài sản chung của vợ
chồng trong thời kỳ hôn nhân và khôi phục chế độ tài sản chung của vợ chồng;
+ Xác lập tài sản chung của vợ chồng với trƣờng hợp nam nữ sống chung với
nhau nhƣ vợ chồng mà không đăng ký kết hôn mà đƣợc công nhận là vợ chồng
(trƣớc đây còn gọi là “hôn nhân thực tế”) theo pháp luật hiện hành.
- Quyền và nghĩa vụ của vợ chồng đối với sở hữu chung hợp nhất của vợ chồng.
- Qua việc phân tích thực tiễn áp dụng luật về chế độ tài sản chung của vợ
chồng, luận văn chỉ rõ những vấn đề bất cập, không hợp lý, chƣa bảo đảm đƣợc tính
khoa học về những quy định của luật thực định khi điều chỉnh chế độ tài sản chung
của vợ chồng; từ đó, nêu các kiến nghị hoàn thiện các quy định về chế độ tài sản
chung của vợ chồng theo pháp luật hiện hành.
- Với những kết quả nghiên cứu trong luận văn đã là căn cứ khoa học, đáp
ứng đƣợc những yêu cầu về mặt lý luận và thực tiễn để giúp cơ quan lập pháp sửa
đổi, bổ sung, hoàn thiện pháp luật quy định về tài sản thuộc sở hữu chung hợp nhất

7
Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ SỞ HỮU CHUNG HỢP NHẤT
CỦA VỢ CHỒNG

1.1. Một số khái niệm
1.1.1. Khái niệm về sở hữu, quyền sở hữu
* Khái niệm sở hữu
Theo Giáo trình Luật dân sự Việt Nam của trƣờng Đại học Luật Hà Nội thì
sở hữu là việc chiếm giữ những sản vật tự nhiên, những thành quả lao động (ngày
nay còn gồm cả những tƣ liệu sản xuất) của xã hội loài ngƣời [62, tr.173].
Sở hữu là một phạm trù kinh tế mang yếu tố khách quan xuất hiện và phát
triển song song cùng với sự xuất hiện và phát triển của xã hội loài ngƣời. Mối quan
hệ giữa ngƣời với ngƣời trong sự chiếm hữu và sản xuất ra của cải vật chất trong xã
hội là quan hệ sở hữu [62, tr.174]. Ở đây, quan hệ sở hữu không phản ánh mối quan
hệ giữa ngƣời với vật mà nó phản ánh quan hệ giữa ngƣời với ngƣời đối với vật.
Nội dung của quan hệ sở hữu đƣợc xét trên hai mặt:
- Thứ nhất: Xét về mặt pháp lý, sở hữu đƣợc luật pháp hoá thành các quyền,
bao gồm: quyền chiếm hữu, quyền sử dụng, quyền định đạt và cơ chế để thực hiện
các quyền đó gọi là chế độ sở hữu.
- Thứ hai: Xét về mặt kinh tế, khi sở hữu đƣợc thực hiện về mặt kinh tế, nó

quan hệ sở hữu đã đƣợc điều chỉnh bằng pháp luật và hình thành nên quyền sở hữu
của các chủ thể có tài sản.
Với tƣ cách là một chế định pháp luật, quyền sở hữu có từ khi xuất hiện Nhà
nƣớc và chỉ mất đi khi xã hội không còn sự phân chia giai cấp và không còn sự tồn
tại của Nhà nƣớc.
Theo từ điển Tiếng Việt, quyền sở hữu đƣợc hiểu là “Quyền chiếm giữ, sử
dụng và định đoạt đối với tài sản của mình” [39, tr.843].
Dƣới góc độ pháp lý, quyền sở hữu là “phạm trù pháp lý phản ánh các quan
hệ sở hữu trong chế độ sở hữu nhất định bao gồm tổng hợp các quy phạm pháp luật
nhằm điều chỉnh những quan hệ về sở hữu trong xã hội” [62, tr.177].
Khái niệm quyền sở hữu có thể hiểu theo nghĩa rộng là pháp luật về sở hữu
trong một hệ thống pháp luật nhất định. Vì vậy, quyền sở hữu là hệ thống các quy
phạm pháp luật do Nhà nƣớc ban hành để điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh
9
trong lĩnh vực chiếm hữu, sử dụng và định đoạt các tƣ liệu sản xuất, tƣ liệu tiêu
dùng, những tài sản khác theo quy định tại Điều 163 BLDS năm 2005.
Theo nghĩa hẹp, quyền sở hữu đƣợc hiểu là mức độ xử sự mà pháp luật cho
phép một chủ thể đƣợc thực hiện các quyền năng chiếm hữu, sử dụng và định đoạt
trong những điều kiện nhất định. Theo nghĩa này, có thể nói quyền sở hữu chính là
những quyền năng dân sự chủ quan của từng loại chủ sở hữu nhất định đối với một
tài sản cụ thể, đƣợc xuất hiện trên cơ sở nội dung của quy phạm pháp luật về sở hữu.
Theo phƣơng diện quyền sở hữu đƣợc hiểu là một quan hệ pháp luật dân sự -
quan hệ pháp luật dân sự về sở hữu. Theo nghĩa này quyền sở hữu bao gồm đầy đủ
ba yếu tố của quan hệ pháp luật dân sự: chủ thể, khách thể, nội dung nhƣ mọi quan
hệ pháp luật dân sự bất kì [62, tr.179].
BLDS năm 2005 không nêu trực tiếp khái niệm về quyền sở hữu, nhƣng có
quy định: “Quyền sở hữu bao gồm quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định

là tài sản chung” [49, Điều 214]. Cơ sở xác lập sở hữu chung là sự thỏa thuận giữa
các chủ sở hữu đối với tài sản đƣợc gọi là đồng chủ sở hữu. Các đồng chủ sở hữu có
quyền chung nhau chiếm hữu, sử dụng và định đoạt tài sản chung. Nhƣng khi tham
gia vào các quan hệ pháp luật dân sự, mỗi đồng chủ sở hữu lại có tƣ cách là một chủ
sở hữu độc lập.
Các đặc điểm của sở hữu chung trong pháp luật dân sự:
- Khách thể của sở hữu chung là thống nhất, đó là một tài sản hoặc một tập
hợp tài sản mà nếu đem chia tách về mặt vật lý, tức là chia ra các phần khác nhau
thì sẽ không còn giá trị sử dụng nhƣ ban đầu; các chủ sở hữu sẽ không khai thác
đƣợc công dụng vốn có của nó.
- Về chủ thể, mỗi đồng chủ sở hữu chung khi thực hiện các quyền năng
chiếm hữu, sử dụng, định đoạt đối với tài sản chung sẽ liên quan đến quyền lợi của
tất cả các đồng chủ sở hữu khác. Tuy nhiên, mỗi đồng chủ sở hữu trong sở hữu
chung có vị trí độc lập và tham gia quan hệ pháp luật dân sự với tƣ cách là một chủ
sở hữu độc lập.
- Việc thực hiện các quyền năng chiếm hữu, sử dụng, định đoạt đối với tài
sản chung của các đồng chủ sở hữu cũng có những đặc điểm riêng. Tuy rằng, địa vị
mỗi đồng chủ sở hữu cũng có tính chất độc lập nhƣng quyền năng của mỗi chủ sở
hữu lại thống nhất đối với toàn bộ khối tài sản chung mà không phải chỉ riêng với
phần giá trị tài sản mà họ có.
11
Các hình thức sở hữu chung
+ Sở hữu chung theo phần: Là sở hữu chung mà trong đó phần quyền sở hữu
của mỗi chủ sở hữu đƣợc xác định đối với tài sản chung [49, Điều 216, khoản 1].
Điều này có thể hiểu rằng mỗi chủ sở hữu đƣợc xác định phần sở hữu của mình.
BLDS năm 2005 quy định “Các chủ sở hữu chung cùng quản lý tài sản
chung theo nguyên tắc nhất trí, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc pháp luật

không phân chia [49, Điều 217].
+ Sở hữu chung cộng đồng: Là hình thức sở hữu của dòng họ theo huyết
thống, theo cộng đồng tôn giáo hoặc cộng đồng dân cƣ đối với tài sản hình thành
theo tập quán hoặc do các thành viên của cộng đồng quyên góp tạo dựng nên, Ví
dụ: Nhà thờ, từ đƣờng, thánh thất tôn giáo, hoặc kết cấu hạ tầng phục vụ cho cộng
đồng dân cƣ nhƣ đƣờng đi, giếng nƣớc công cộng, [62, tr.271].
Do mục đích của sở hữu chung cộng đồng là thỏa mãn chung lợi ích hợp
pháp của cả cộng đồng nên tài sản chung của cộng đồng là tài sản chung hợp nhất
không phân chia.
+ Sở hữu chung hỗn hợp: là phạm trù kinh tế để chỉ hình thức sở hữu đối với
tài sản do các chủ sở hữu thuộc các thành phần kinh tế khác nhau góp vốn để sản
xuất, kinh doanh thu lợi nhuận [49, Điều 218].
Trong sở hữu chung hỗn hợp, các chủ sở hữu thộc các thành phần kinh tế
khác nhau thỏa thuận theo nguyên tắc bình đẳng, tự nguyện về tài sản và số lƣợng
vốn góp để tiến hành sản xuất, kinh doanh nhằm thu lợi nhuận.
Sở hữu chung hỗn hợp thƣờng tồn tại dƣới mô hình tài sản của một doanh
nghiệp cho nên hội đồng quản trị với tƣ cách là ngƣời quản lý tài sản, vốn có các
quyền năng chiếm hữu, sử dụng và định đoạt đối với tài sản và vốn đó, quyết định
hƣớng sản xuất, kinh doanh phù hợp với quy định của pháp luật [62, tr.274].
1.1.3. Khái niệm về sở hữu chung hợp nhất của vợ chồng
Sở hữu chung hợp nhất thông thƣờng chỉ phát sinh trong quan hệ HN&GĐ.
Khối tài sản thuộc sở hữu chung hợp nhất là khối tài sản do vợ chồng tạo ra trong
thời kỳ hôn nhân bằng công sức của mỗi ngƣời hoặc do đƣợc tặng cho chung, thừa
kế chung. Tài sản chung của vợ chồng đƣợc dùng vào việc phục vụ nhu cầu sinh
hoạt, tiêu dùng hoặc sản xuất kinh doanh của cả gia đình. Vợ chồng đều có quyền
ngang nhau đối với khối tài sản chung. Vợ chồng cùng bàn bạc, thỏa thuận hoặc ủy
13
14
dƣới triều Lê là công cụ quyền lực chính trị của vua chúa, và đƣợc dựa theo hệ tƣ
tƣởng nho giáo. Các quy định về vấn đề tài sản của vợ chồng không rõ ràng.
Toàn bộ tài sản mà vợ, chồng có đƣợc từ trƣớc khi kết hôn hoặc trong thời
kỳ hôn nhân đều thuộc khối tài sản chung của vợ chồng. Tất cả các tài sản này đều
do ngƣời chồng – chủ gia đình quản lý, khối tài sản chung của vợ chồng chỉ đƣợc
chia khi một bên vợ, chồng chết trƣớc mà giữa họ không có con Tuy nhiên,
QTHL, theo tục lệ cũng đã giành cho ngƣời vợ đƣợc tham gia vào việc quản trị tài
sản chung của vợ chồng và đƣợc tự do quyết định những vấn đề sinh hoạt hằng
ngày nhằm bảo đảm đời sống chung của gia đình. Đặc biệt đối với các giao dịch
liên quan đến ruộng đất: mua bán, cầm cố, chuyển đổi đều phải có chồng vợ cùng
điểm chỉ [3]. Thực tế trong các văn tự bán ruộng đất làm dƣới triều Lê còn di lƣu
lại, ta thƣờng thấy hai vợ chồng cùng đứng tên bán; “Trong thời gian giá thú, tất cả
tài sản, không phân biệt nguồn gốc và bản chất đều hợp thành một khối do người
chồng quản trị và sử dụng theo nhu cầu của gia đình và trong thực tế với sự cộng
tác của người vợ” [32, tr.257- 258].
Những quy định trên thể hiện trong chừng mực nhất định ngƣời vợ cũng
đƣợc “bình đẳng” với ngƣời chồng trong việc định đoạt tài sản chung, hoàn toàn
không phải là “vô năng cách”. Quy định này của pháp luật nhà Lê tiến bộ hơn hẳn
so với pháp luật của Trung Quốc cùng thời - coi ngƣời vợ hoàn toàn vô năng lực,
phụ thuộc ngƣời chồng một cách tuyệt đối. Nhƣng thật đáng tiếc, điều này lại đƣợc
ghi nhận lại trong HVLL.
Hoàng Việt Luật Lệ (HVLL) ban hành dƣới triều Nguyễn (1812) đều có các
quy định về vấn đề HN&GĐ, nhƣng về chế độ tài sản của vợ chồng không quy định
nhƣ một chế định riêng rẽ và cụ thể. HVLL sao chép nguyên văn của luật nhà
Thanh nên không có một điều khoản nào về vấn đề tài sản của vợ chồng.
Nhƣ vậy, từ những quy định trên ta nhận thấy rằng pháp luật thời kỳ này đã
không dự liệu cụ thể chế độ tài sản chung của vợ chồng. Pháp luật quy định tất cả

chế độ hôn sản theo tục lệ là chế độ cộng đồng tài sản; nhƣng sau đó các án lệ lại
đổi hƣớng không công nhận quyền có tài sản riêng của ngƣời vợ.
Theo quy định của Tập DLGYNK thời kỳ này thì không có chế độ sở hữu
chung hợp nhất của vợ chồng. Luật quy định toàn bộ tài sản trong gia đình đều
thuộc quyền sở hữu và quản lý của ngƣời chồng trong thời kỳ hôn nhân cũng nhƣ
16
sau khi vợ chết. Trong trƣờng hợp ngƣời vợ chết thì chồng là chủ sở hữu đối với
toàn bộ tài sản của gia đình do hiệu lực hôn nhân chứ không phải là hƣởng gia tài
của ngƣời vợ; nhƣng nếu ngƣời chồng chết trƣớc thì ngƣời vợ chỉ có quyền hƣởng
dụng thu lợi trên toàn bộ tài sản gia đình khi còn ở góa.
Ta có thể thấy quy định toàn bộ tài sản trong gia đình đều thuộc sở hữu của
ngƣời chồng, điều này thể hiện sự bất công đối với ngƣời vợ.
Dân luật Bắc Kỳ (DLBK 1931) và Dân luật Trung Kỳ (DLTK 1936)
Vấn đề tài sản giữa vợ chồng đã có những quy định cụ thể trong các văn bản
pháp luật (DLBK 1931, DLTK 1936). Đƣợc ban hành sau, nên DLTK đã có một số
sửa đổi cho phù hợp hơn so với DLBK.
DLBK quy định chế độ tài sản theo pháp định chỉ áp dụng khi vợ chồng
không có tƣ ƣớc, tƣ ƣớc ấy không trái với các phong tục tập quán và quyền lợi của
ngƣời chồng trong gia đình. Nếu vợ chồng lập tƣ ƣớc về tài sản thì khi đã làm giá
thú sẽ không đƣợc thay đổi gì nữa. Quy định chế độ tài sản ƣớc định này lần đầu
tiên đƣợc dự liệu trong hệ thống pháp luật Việt Nam, nên mặc dù đƣợc hai bộ luật
DLBK, DLBK quy định, nhƣng các cặp vợ chồng thƣờng không thỏa thuận lựa
chọn loại chế độ tài sản này.
Trong trƣờng hợp vợ chồng không thỏa thuận lập hôn khế khi kết lập giá thú,
DLBK và DLBK đều dự liệu một chế độ tài sản pháp định để áp dụng cho họ đó là
chế độ cộng đồng toàn sản. Tức là mọi tài sản của vợ và của chồng không kể có
trƣớc hay sau khi kết hôn đều là tài sản chung của vợ chồng. Theo DLBK và DLTK

109 DLTK không dự liệu rõ ràng nhƣng xét trên cơ sở đạo lý và theo lẽ tất nhiên
khối cộng đồng phải gánh chịu vì ngƣời chồng (theo luật định) luôn là ngƣời chủ
gia đình. Đối với việc quản lý, sử dụng và định đoạt tài sản của gia đình, DLBK và
DLTK đều dự liệu trong việc quản lý và định đoạt tài sản chung của gia đình thì cần
có sự phân biệt về quyền hạn của vợ và của chồng theo từng trƣờng hợp cụ thể:
- Việc mà vợ chồng có thể tự mình thực hiện.
Theo Điều 100, Điều 111 DLBK và Điều 98, Điều 109 DLTK thì đối với
những nhu cầu chung gia đình, vợ hoặc chồng đều có thể đại diện cho gia đình để
giao dịch và khối tài sản cộng đồng đƣợc bảo đảm cho các giao dịch do vợ chồng
kết ƣớc với ngƣời khác. Thông thƣờng, việc vợ chồng sử dụng tài sản chung nhằm
bảo đảm nhu cầu thiết yếu hàng ngày của gia đình (nhu cầu gia vụ: ăn, ở chữa
18
bệnh ) thì pháp luật đều đƣơng nhiên coi là đã có sự thỏa thuận của hai vợ chồng
khi định đoạt tài sản chung.
- Việc phải do cả hai vợ chồng cùng thực hiện.
Theo Điều 109 DLBK và Điều 107 DLTK thì ngoài việc quản lý thƣờng, vợ
và chồng muốn định đoạt tài sản chung phải cùng nhau thỏa thuận (đồng ý) sự đồng
ý có thể là công nhiên hoặc mặc nhiên.
- Việc một mình chồng làm được, còn vợ phải xin phép chồng.
Theo Điều 98 DLBK và Điều 104 DLTK thì đối với các việc nhƣ lập hộ, vay
mƣợn, thuê mƣớn, đi kiện ngƣời chồng có quyền tự mình thực hiện; vả lại, ngƣời
vợ chỉ đƣợc thực hiện nếu đƣợc chồng cho phép (ƣng thuận); sự cho phép của
ngƣời chồng có thể là công nhiên hay mặc nhiên.
- Đặc quyền của người chồng khi định đoạt tài sản chung của vợ chồng.
Đoạn 2 Điều 109 DLBK, đoạn 2 Điều 107 DLTK quy định: Ngƣời chồng có thể
định đoạt tài sản chung không cần phải vợ bằng lòng cũng đƣợc, miễn là dùng vào
việc có lợi ích cho gia đình, trừ bất động sản là tài sản riêng của ngƣời vợ.

+ Khi ngƣời vợ chết trƣớc, thì một mình ngƣời chồng trở thành chủ sở hữu
tất cả tài sản chung, kể cả kỷ phần của ngƣời vợ nữa.
- Khi ly hôn:
Khi ly hôn, nếu hai vợ chồng có lập hôn khế thì chia theo các Điều khoản
trong hôn khế mà hai vợ chồng đã thỏa thuận. Nếu không có hôn khế thì áp dụng
Điều 112 DLBK và Điều 110 DKTK để chia. Do quan niệm khối cộng đồng tài sản
chung của vợ chồng là gây dựng cho các con, nên pháp luật phân biệt hai trƣờng
hợp: Vợ chồng ly hôn mà có con chung hoặc không có con chung với nhau.
+ Trƣờng hợp giữa hai vợ chồng không có con chung, ngƣời vợ đƣợc lấy lại kỷ
phần tài sản của mình “bằng hiện vật hiện còn”. Nếu tài sản riêng của ngƣời vợ đã bị
bán đi để chi dùng cho gia đình hay cho riêng ngƣời chồng thì ngƣời vợ không có
quyền đòi lại. Nếu tài sản riêng của vợ hay chồng đã đƣợc tu sửa, quản lý bằng tài sản
chung của vợ chồng thì phần tài sản chung đó phải đƣợc tính vào khối tài sản cộng
đồng để chia. Sau khi đã trả lại cho vợ, chồng kỷ phần của vợ, chồng, phần tài sản
chung của vợ chồng đƣợc chia đôi cho vợ chồng mỗi ngƣời một nửa.
+ Trƣờng hợp hai vợ chồng có con chung: ngƣời vợ không đƣợc thu hồi toàn
bộ của riêng của mình, tức những của cải đã đem về nhà chồng khi cƣới và tài sản đã

Trích đoạn Chia tài sản chung của vợ chồng khi vợ chồng ly hôn Giải pháp hoàn thiện các quy định pháp luật Giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status